Author: admin

  • TRỰC QUÁN LAMRIM –

    Tác giả: LOSANG JINPA

    TRÌNH TỰ ĐƯỜNG TU GIÁC NGỘ BAO GỒM MỌI NGHĨA TRỌNG YẾU

    [A Direct Meditation on the Graduated Path Containing All the Important Meanings]

    Điều kiện hành trì: Mọi người đều có thể đọc tụng.

    Lợi ích: Bài tụng Lam-rim ngắn gọn này bao gồm tinh túy của trọn vẹn đường tu giác ngộ, chuyên tâm đọc tụng sẽ gieo được thiện duyên thành tựu mọi chứng ngộ trên trọn đường tu, định hướng cho đời mình với chí nguyện vì chúng sinh cầu mau chóng đạt quả chánh đẳng giác bằng cách tu theo trình tự đường tu dành cho ba loại căn cơ, đặc biệt là Mật tông tối thượng du già.

     Là tinh túy của  / khắp mười phương Phật;  / là cội của khắp  / giáo truyền giáo chứng;  / là bậc trọng yếu  / trong hàng Thánh Tăng: / Ân sư nhiệm mầu  / con xin đảnh lễ.

    Kính xin Ân sư  / từ bi gia hộ, / giúp cho tâm con  / chuyển thành chánh pháp, / giúp cho chánh pháp  / chuyển thành đường tu,  / giúp cho đường tu[1]   / lìa xa chướng ngại.

    Chờ cho đến ngày  / con thành chánh quả,  / xin Thầy gia hộ  / cho con được như  / hai vị bồ tát  / đức Tài Đồng Tử / và đức Thường Đề[2] / tâm hạnh đều sáng : / theo gót Ân sư;  / thấy việc Thầy làm  / đều luôn thanh tịnh;  / thực hiện trọn vẹn  / lời dạy của Thầy. [Đây là cách nương thiện tri thức, gốc rễ của vô thượng bồ đề].

    Xin Thầy gia hộ  / cho con thấy ra  / thân người này đây  / tự tại thuận tiện,  / thật là khó tìm,  / mà lại dễ mất;  / thấy nghiệp và quả  / thật quá thâm sâu;  / thấy khổ ác đạo  / thật không kham nổi;  / Xin Thầy gia hộ,  / cho đáy lòng con  / về nương Tam bảo / lánh mọi điều ác  / làm mọi điều lành / thuận theo chánh pháp. [Đó là trình tự đường tu sơ căn]

    Cho dù nhờ vậy  / lên cõi trời, người,  / cũng vẫn triền miên  / chịu khổ sinh tử  / là vì chưa dứt  / phiền não vô minh.  / Xin Thầy gia hộ  / cho con khéo hiểu  / cảnh luân hồi này  / luân chuyển ra sao, / ngày đêm chuyên tâm  / tu Giới Định Tuệ, / là thiện phương tiện  / giải thoát luân hồi. [Đó là trình tự đường tu trung căn]

    Cho dù nhờ vậy  / đạt quả giải thoát,  / thử hỏi sáu cõi  / ai không từng là  / cha mẹ của con?  / Xin Thầy gia hộ  / cho con có thể  / khởi tâm độ sinh  / không cầu vui nhỏ  / niết bàn riêng biệt,  / rồi nhờ bình-đẳng-hoán-chuyển-ngã-tha / mà phát được tâm  / bồ đề trân quí;  / Tu hạnh bồ tát  / sáu ba la mật… [Đó là trình tự đường tu thượng căn]

    Theo đường tu hiển  / luyện tâm như vậy  / nên khổ luân hồi  / dù chịu bao lâu  / cũng không quản ngại. / Nhưng con xin Thầy  / gia hộ cho con  / nhìn chúng sinh mà  / xót không chịu nổi  / để dấn thân vào  / đường tu chóng vánh  / cỗ xe Kim cang.  / Khi ấy, xin Thầy  / gia hộ cho con  / giữ gìn giới hạnh  / cùng với mật thệ  / quí hơn mạng sống  / mau chóng thành tựu / địa vị hợp nhất  / Phật Kim Cang Trì, / ngay kiếp hiện tiền  / giữa thời mạt pháp. [Đó là trình tự đường tu mật thừa tối thượng căn]

    [hết]

    Ghi chú:

    Tác giả bài pháp này là đức Dorje Chang Losang Jinpa Pal Zangpo, bậc Thánh giả cát tường. Lama Zopa Rinpoche chuyển Anh ngữ tại Tu Viện Kopan, Nepal, Jan 12-16, 2013. Merry Colony chép lại. Ven. Sarah Thresher, Merry Colony and Tom Truty cập nhật với lời giảng của Lama Zopa Rinpoche, 2014. Phần nói lợi ích là tóm tắt lời giảng của Lama Zopa Rinpoche tháng 10, 2010 tại Shedrup Ling, Mongolia. 

    Hồng Như chuyển Việt ngữ 2006, dịch lại 2018.


    [1] Bao gồm 84,000 pháp môn Phật dạy, trong đó có pháp tiểu thừa, đại thừa ba la mật thừa và đại thừa mật tông. Tất cả các giáo pháp này đúc kết thành pháp lam-rim, trình tự đường tu giác ngộ, chia thành trình tự đường tu sơ căn, trung căn và thượng căn. Ba đường tu này là trọn vẹn pháp lam-rim, và nằm trong Ba điểm tinh yếu của đường tu giác ngộ.

    [2] Nd: Songnu Norsan và Taktungu, Alway Crying One.

  • Thangtong Gyalpo: BA BÀI NGUYỆN TIÊU TAM TAI

    Thangtong Gyalpo: BA BÀI NGUYỆN TIÊU TAM TAI

    Tác giả: Đại Thành Tựu Giả Thangtong Gyalpo và Jampal Khyentse Wangpo
    Việt ngữ: Hồng Như Thupten Munsel
    Hạ Tải PDF: <Tiếng Việt>

    Ghi chú cách tụng:
    Đọc bài Nghi Thức Trừ Bệnh Tiêu Tai đã đủ ba phần trong một bài. Gồm nhiều thứ tiếng để tiện khi hành trì chung.  Vừa đọc vừa nhìn hình đức Thangtong Gyalpo
    Nếu đọc riêng lẻ, thì theo thứ tự sau đây:
    1. Quy Y : 3, 7 hay 21 lần hay tùy ý
    2. Niệm Lục Tự Chú OM MANI PADME HUM:  108 lần hay nhiều hơn
    3. Tùy ý chọn đọc một, hai, hay cả ba Lời Nguyện của đức Thangtong Gyalpo. Vừa đọc vừa nhìn hình đức Thangtong Gyalpo
    – Nếu muốn, kết thúc bằng bài Khẩn Cầu đức Thangtong Gyalpo, nếu không cứ tùy ý hồi hướng.

    MỤC LỤC
    - Lời Nguyện Quy Y
    - Lời Nguyện Trừ Bệnh Tiêu Tai
    - Lời Nguyện Tiêu Nạn Đói
    - Lời Nguyện Tiêu Hiểm Họa Vũ Khí
    - Khẩn Cầu Đức Thangtong Gyalpo
    NGHI THỨC TRỪ BỆNH TIÊU TAI [ བོད་ཡིག། PHONETIC-ENGLISH-Francais-VIỆT-中文]

    Thangtong Gyalpo, thangka from Lama Zopa Rinpoche's house
    Thangtong Gyalpo (1385–1464)

    LỜI NGUYỆN QUY Y

    Mật thệ Quy Y trong, ngoài và kín mật của đại thành tựu giả Thangtong Gyalpo.

    Thangtong Gyalpo, thangka from Lama Zopa Rinpoche's house

    Chúng sinh mẹ hiền / nhiều như trời rộng,
    Quy y Thượng sư, là Phật tôn quí,
    Quy y Tam bảo / Phật, Pháp, và Tăng,
    Quy y thượng sư / bổn tôn, không hành,
    Quy y tự tâm / pháp thân sáng-không

    Lời nguyện này chan chứa lực gia trì của đức Quan Thế Âm, người đã truyền cho Pháp Vương Ka Nga pa, căn dặn hãy truyền lại cho Tỷ kheo Tsöndru Zangpo Thangtong Gyalpo, nói rằng nếu dạy lại cho người trong cõi thế thì sẽ giúp phá tan tật bệnh, tà ám, chướng ngại liền ngay tức khắc, và cũng sẽ hộ trì cho họ không phải rơi ác đạo. Thiện tai!

    Hồng Như Thupten Munsel chuyển Việt ngữ 01, 2020 từ bản Tạng ngữ chép từ https://www.lotsawahouse.org/bo/tibetan-masters/thangtong-gyalpo/outer-inner-secret-refuge-thangtong-gyalpo, tham khảo các bản dịch Anh ngữ và Pháp ngữ cùng nơi, và bản Hoa ngữ của đức Karmapa <tại đây> ,

    Trở về mục lục

    TỤNG CHÚ

    Thangtong Gyalpo, thangka from Lama Zopa Rinpoche's house

    ༄༅། །ཨོཾ་མ་ཎི་པདྨེ་ཧཱུྃ། །
    OM MANI PADME HUM
    嗡嘛呢呗美吽
    (108x or more / 108x ou plus
    108 hay nhiều hơn, / 一百零八遍)


    Trở về mục lục

    LỜI NGUYỆN TRỪ BỆNH TIÊU TAI

    Tiếng Lời Kim Cang Tịnh Sạch Nỗi Sợ Tật Dịch Truyền Nhiễm Ở Sakya của Đại Thành Tựu Giả Thangtong Gyalpo

    Bệnh từ nghiệp cũ / và duyên trước mắt,
    Tà ám, ác bệnh, / khổ nạn tứ đại,
    Khiến tâm chúng sinh / không còn an lạc,
    Nguyện không xuất hiện / trên cõi thế gian.

    Thangtong Gyalpo, thangka from Lama Zopa Rinpoche's house

    Như bị đồ tể / lôi vào lò thịt,
    Chỉ trong phút giây / hồn lìa khỏi xác,
    Hết thảy khổ bệnh / đe dọa mạng sống,
    Nguyện không xuất hiện / trên cõi thế gian.

    Bệnh dữ cấp tính, / mãn tính, truyền nhiễm,
    Đáng sợ đến nỗi / chỉ thoáng nghe tên
    Đã như rơi vào / miệng của thần chết,
    Nguyện không bao giờ / não hại chúng sinh.

    Quỷ mị hại người / tám mươi ngàn loại,
    Ba trăm sáu chục / loại quỷ thình lình,
    Bốn trăm hai bốn / tật bệnh các thứ,
    Nguyện không phương hại / các loài chúng sinh.

    Bao khổ vì loạn / đất nước lửa gió,
    Làm cho thân tâm / mất hết niềm vui,
    Nguyện tịnh yên hết, / sáng tươi khỏe mạnh,
    Sống lâu, không bệnh, / thoải mái an vui.

    Nương lực từ bi / Thượng sư Tam bảo;
    Nương đại dũng lực / không hành, hộ pháp;
    Nương lực chân thật / nghiệp quả không sai;
    Nguyện lời nguyện này / tức thì thành tựu.

    Khi xưa có lần Đại Tu Viện của dòng Sakya Cát Tường gặp nạn dịch truyền nhiễm lan từ người này sang người khác. Chư pháp sĩ cố gắng nhiều cách, lễ tịnh thế thân, thuốc, chú, hộ mạng vân vân, đều không ích lợi gì, tu viện có nguy cơ biến thành chốn không người. Vào lúc ấy, bậc đại thành tựu giả Thangtong Gyalpo tụng bài pháp quy y bắt đầu với câu, “Hết thảy chúng sinh, mẹ hiền nhiều đời, nhiều như trời rộng,” tụng một số chú Mani. Khi câu cuối “nguyện lời nguyện này tức thì thành tựu” được thốt lên, bệnh truyền nhiễm tức thì chấm dứt. Vì vậy mà lời nguyện này nổi danh là tiếng lời kim cang tỏa rạng mây gia trì, với tên gọi “Lời Nguyện Cứu Sakya Thoát Bệnh Dịch.”

    Hồng như chuyển Việt ngữ 01, 2020 từ bản Tạng ngữ https://www.lotsawahouse.org/bo/tibetan-masters/thangtong-gyalpo/prayer-pacifying-fear-illness, tham khảo với bản Anh ngữ cùng nơi.
    02.02.2020: Nhuận văn sau khi tham khảo với bản tiếng Hoa của Đại Bảo Pháp Vương Karmapa XVII.

    Trở về mục lục

    LỜI NGUYỆN TIÊU NẠN ĐÓI

    Lời nguyện nổi danh là “Tiếng Lời Kim Cang Tỏa Rạng Mây Cam Lồ Gia Trì, do đại thành tựu giả Thangtong Gyalpo thỉnh nguyện trước tôn tượng Jowo Rinpoche ở Lhasa

    Vì quyết độ thoát / chúng sinh vô biên
    Nên Phật phát tâm / vô thượng bồ đề
    Và rồi viên thành / hai bồ công đức: / đức Phật từ bi,
    Xin thương cho người / không nơi nương dựa / trong thời tối ám
    Gặp cảnh khốn cùng / đói khát, khổ đau.

    Thangtong Gyalpo, thangka from Lama Zopa Rinpoche's house

    Để chở che cho / chúng sinh nguy khốn
    Nguyện cho ngọc báu, / thức ăn, tài sản, / vụ mùa, giường chiếu,
    Hết thảy mọi điều / thỏa dạ ước mong,
    Rơi như mưa sa / trên cõi Diêm phù / và nơi xứ Tuyết.

    Gió, lửa trái thời / mưa, nước bất tường,
    Hiểm nạn đến từ / đất nước lửa gió, / nguyện đều tịnh yên,
    Nguyện cho lương thực / cỏ cây, vụ mùa… 
    Xum xuê tươi tốt / như thời hoàng kim.

    Vận dụng sức mạnh / của lòng từ bi,
    Đọc lên lời nguyện / lớn rộng như vầy,
    Nguyện cho tật bệnh, / vũ khí, nạn đói, / trong thời dữ dội / đều được thanh tịnh,
    Sống lâu, không bệnh / thoải mái an vui.


    Nương lòng từ bi / của Phật, bồ tát,
    Nương lực sự thật / nghiệp quả không sai,
    Nguyện cho giáo pháp / của đức Thế tôn / lan xa hưng thịnh,
    Nguyện khắp chúng sinh / mau chóng đạt quả / vô thượng bồ đề.

    Đây là Lời nguyện mà đại thành tựu giả Thangtong Gyalpo đã thốt lên trước mặt [Tôn tượng] Jowo Rinpoche ở Lhasa, khi vùng Kham Tây tạng gặp nạn đói lớn. Năng lực của lời nguyện này khiến người dân Tây tạng thoát cảnh đói khát nhờ đức Quan Thế Âm từ trên trời không mưa xuống trận mưa lương thực.

    Hồng như chuyển Việt ngữ 01, 2020 từ bản Tạng ngữ https://www.lotsawahouse.org/bo/tibetan-masters/thangtong-gyalpo/prayer-pacifying-famine, tham khảo với bản Anh ngữ cùng nơi.

    Trở về mục lục

    Lời Nguyện Hòa Bình [Prayer For Peace]

    Chân Ngữ Hàng Phục Hiểm Họa Vũ Khí

    OM MANI PADME HUM

    Đức Thế Tôn Đại Từ (Di Lạc)
    Đức Siêu Việt Nhiệm Mầu Mắt Đại Bi (Quan Thế Âm)
    Đức Oai Nộ Tôn Thắng Quan Âm Mã Đầu (Hayagriva),
    Đức Chánh biến tri Ta-ra thuần tịnh
    Hồng danh chư vị vừa thoáng qua tai là tiêu tan hiểm nạn.
    Xin chốn chở che hãy từ bi lắng nghe cho lời nguyện chân thành này.

    Thangtong Gyalpo, thangka from Lama Zopa Rinpoche's house

    Sống trong thời kỳ / tranh chấp, ngũ trược, 
    Biển lớn ác nghiệp / ganh ghen bùng nổ, 
    Khiến cho chúng sinh / phải chịu dày vò / cùng cực khốn khổ / vì nạn chiến tranh,
    Nguyện cho sức mạnh / trí tuệ, từ bi, / làm cho khô cạn / trọn biển khổ này.

    Nguyện xin thác lũ / cam lộ đại từ
    Tưới mát chúng sinh / đang cháy bỏng trong / biển lửa oán thù;
    Nguyện xin chư vị / hộ niệm giữ gìn, / cho con người biết / quay lại nhìn nhau,
    Thấy ai cũng là / cha mẹ nhiều đời / nhờ đó tăng nguồn / cát tường, an lạc.

    Nguyện cho đủ loại / tà ma ác hiểm
    Thường lẻn vào tâm / khiến tâm biến thành
    Loài A-tu-la, / từ nay về sau
    Không còn quấy nhiễu / ở nơi chốn này / (hay đất nước này / hay thế giới này). 

    Nguyện cả cho người / chết vì chiến tranh
    Từ đó bỏ hết / ác nghiệp, nhân quả,
    Sau khi vãng sinh / vào cõi cực lạc
    Dẫn dắt người khác / cùng về nơi ấy.

    Xin hãy gia trì / cho chúng sinh trong / luân hồi sinh tử
    Sống lâu, không bệnh / hàng phục tất cả / tranh chấp, xung đột,
    Vui mười thiện nghiệp, / mưa thuận gió hòa, / vụ mùa tươi tốt.
    Tất cả mọi loài, / ở khắp mọi nơi / thịnh vượng, cát tường.

    Nương chân cảnh giới, / tự tánh thanh tịnh;
    Nương chân pháp tánh, / nhân quả không sai;
    Nương tâm đại bi / của đấng Thượng Sư, / Tâm-Ấn Bổn-Tôn, / và của Tam bảo,
    Nguyện cho lời nguyện / lớn rộng sáng trong  / này thành sự thật .

    Ghi chú của Lama Zopa

    Xưa kia ở xứ Kham bên Tây tạng có xảy ra một trận chiến kéo dài không dứt, không ai đủ sức khôi phục nền hòa bình. Lúc đó có vị đại hành giả Thangtong Gyalpo đến vùng đất Kham, phát tâm bồ đề, rồi đọc tiếng lời chân thật này và rãi hoa, chỉ vậy là đủ cho mọi tâm lý ác hiểm (ganh ghét oán hận) tự nhiên tan biến, nạn chiến tranh chấm dứt, vụ mùa tốt tươi, đất nước cát tường, thái bình an lạc. Lời nguyện này là tiếng lời kim cang mầu nhiệm.

    Ðây là một trong ba lời nguyện của đại hành giả mật thừa Thangtong Gyalpo. Hai lời nguyện kia là lời nguyện tiêu đói và tiêu tật dịch.

    Đức Chobgye Trichen Rinpoche, là đạo sư của đức Ðalai Lama (đức Đalai Lama thọ pháp Sakya Lam Dre và nhiều pháp quán đảnh bao gồm pháp quán đảnh Dorje Phurba với vị đạo sư này), và cũng là một trong những vị đạo sư chính của đức Sakya Trizin, ngài có lần được chính phủ Nepal mời sang Nepal. Khi đến Nepal, ngài suy xét kỹ lưỡng xem điều gì sẽ mang lợi ích lớn lao đến cho người dân Nepal, và kết luận rằng nên tụng ba lời nguyện của đức Thangtong Gyalpo, và ngài quyết định ban khẩu truyền ba lời nguyện này. Nhờ đó tôi mới được biết tới ba lời nguyện này. Tôi đã nhận khẩu truyền từ đức Chobgye Trichen Rinpoche.
    Với công đức có được nhờ dịch lời nguyện này, nguyện bất cứ nơi nào có lời nguyện này (bất kể ở quốc gia nào), và cũng xin nguyện nhờ đọc tụng lời nguyện này, sẽ khiến cho trái tim con người đầy ắp tình thương yêu, tâm bồ đề, mang toàn ý muốn tạo lợi ích cho người, không còn muốn gây hại. Nguyện mặt trời hòa bình hạnh phúc tỏa rạng, nguyện mọi cuộc chiến đang xảy ra lập tức chấm dứt. Nguyện thế giới này hài hòa thái bình, nguyện chiến tranh bạo động sẽ không còn xảy ra.

    Xuất Xứ: 

    Bản tiếng Anh được đạo sư Lama Zopa Rinpoche với lòng từ tuyệt bậc dịch tại Kachoe Dechen Ling, Aptos, California, USA, vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, là ngày hai tòa Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế ở Nữu Ước và tòa Pentagon ở Hoa Thịnh Ðốn bị tấn công, khiến nhiều người thương vong. Bản Anh ngữ này là bản đã được hiệu đính với sự giúp đỡ của Ven Sarah Tenzin Yiwong.
    Đọc bản Anh ngữ: https://fpmt.org/lama-zopa-rinpoche-news-and-advice/advice-from-lama-zopa-rinpoche/prayer-for-peace-2/

    Hồng Như Thubten Munsel chuyển Việt ngữ từ bản Anh ngữ của Lama Zopa Rinpoche, tháng 10, 2003, hiệu đính tháng 02, 2008. Nhuận văn 01, 2020. Tìm không ra bản Tạng ngữ.

    Trở về mục lục

    Khẩn Cầu Đức Thangtong Gyalpo

    Nam mô Thượng sư

    Sắc đen uy nộ, / hàng phục ma lực,
    Tự tin chánh kiến, / giữ du già hạnh,
    Hóa thân thắng diệu / Orgyen thọ ký: 
    Thangtong Gyalpo, / chúng con khẩn nguyện.

    Là Đại bi tâm / tịch tĩnh tối thánh
    Và Uy Nộ Vương / Quan Âm Mã Đầu (Hayagriva)
    Hợp nhất bất nhị: / hóa thân thắng diệu,
    Chuyển pháp luân vương / chúng con khẩn nguyện.

    Tsongdru Zangpo, được Phật thọ ký,
    Tu du già hạnh / khắp miền Tây tạng,
    Lừng danh dưới tên / Thangtong Gyalpo / [Vua-Cánh-Đồng-Không]
    Orgyen thứ hai / chúng con khẩn nguyện.

    Thực hiện chỗ dựa / của thân khẩu ý
    Như làm cầu treo, / công đức vô bờ,
    Đức tướng rực rỡ / mặt trời nguyên khai:
    Là đấng Pháp vương / Đại thành tựu giả / chúng con khẩn nguyện.

    Nương lực thỉnh cầu / thiết tha như vậy,
    Nguyện cho chúng con / bất cứ ở đâu
    Cũng đều tịnh sạch / tật bệnh, tà ám / nghèo khốn, chấp tranh,
    Chánh Pháp, cát tường / đều luôn tăng trưởng.

    Đáp lời thỉnh nguyện của Sangye Nyentrul Rinpoche đời thứ 8, để thêm chút ít vào tiếng lời kim cang của bậc giác giả quá khứ, tôi, Jamyang Khyentse Wangpo, đã viết bài kệ này. Nguyện thiện đức tăng trưởng.

    Hồng như chuyển Việt ngữ 01, 2020 từ bản Tạng ngữ https://www.lotsawahouse.org/bo/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/prayer-to-thangtong-gyalpo, tham khảo với bản Anh ngữ cùng nơi.

    Trở về mục lục

    <PDF Multilanguage >      <PDF tiếng Việt >

    (1385–1464) Tiếng Lời Kim Cang của Đại Thành Tựu Giả Thangtong Gyalpo (1385-1464)
    The Vajra Speech of the Mahasiddha Thang Tong Gyälpo
    ༄༅། །གྲུབ་ཐོབ་ཐང་སྟོང་རྒྱལ་པོའི་རྡོ་རྗེའི་གསུང་ནད་ཀྱི་འཇིགས་པ་ཞི་བའི་གསོལ་འདེབས་ས་སྐྱ་ནད་གྲོལ་མ་ནི།

    The Prayer Liberating Sakya from Disease
    La Prière Libérant les Sakyas de la Maladie
    LỜI NGUYỆN TRỪ BỆNH TIÊU TAI CỨU SAKYA THOÁT DỊCH TRUYỀN NHIỄM
    萨迦愈病·大成就者唐东杰波之金刚语·祛病消灾愿文·中文译者 第十七世大宝法王噶玛巴

    Quy Y – Taking Refuge – Prendre Refuge《虚空皈依文》

    མ་ནམ་མཁའ་དང་མཉམ་པའི་སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་
      MA NAM KHA DANG NYAM PÉ SEM CHEN TAM CHÉ
        All sentient beings, equal to space,
          Tous les êtres, dont le nombre est aussi vaste que l’espace,
            Khắp mẹ chúng sinh / nhiều như trời rộng
              等虚空一切如母有情
    བླ་མ་སངས་རྒྱས་རིན་པོ་ཆེ་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ། །
       LA MA SANGYE RINPOCHE LA KYAB SU CHI O
        Go for refuge to the precious guru-buddha.
          Prennent refuge dans le précieux Maître Bouddha.
            Quy y Thượng sư, là Phật tôn quí
              皈依佛宝上师
    སངས་རྒྱས་ཆོས་དང་དགེ་འདུན་རྣམས་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ། །
      SANGYE CHÖ DANG GEN DÜN NAM LA KYAB SU CHI O
        We go for refuge to the Buddha, the Dharma, and the Sangha.
          Nous prenons refuge dans le Bouddha, le Dharma et la Sangha.
            Quy y Tam bảo, / Phật, Pháp, và Tăng,
              皈依佛法僧三宝众
    བླ་མ་ཡི་དམ་མཁའ་འགྲོའི་ཚོགས་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ། །
      LA MA YI DAM KHAN DRÖ TSOK LA KYAB SU CHI O
        We go for refuge to the assembly of gurus, meditational deities, and dakinis.
          Nous prenons refuge dans l’assemblée des maîtres spirituels,
          des déités de méditation et des dakinis.
            Quy y đạo sư, bổn tôn, không hành
              皈依上师本尊空行众
    རང་སེམས་སྟོང་གསལ་ཆོས་ཀྱི་སྐུ་ལ་སྐྱབས་སུ་མཆིའོ། །
      RANG SEM TONG SAL CHÖ KYI KU LA KYAB SU CHI O
        We go for refuge to the empty clarity of our own minds, the dharmakaya
          Nous prenons refuge dans la clarté vide de notre propre esprit, le dharmakaya.
            Quy y tự tâm, / pháp thân sáng-không
              皈依自心明空之法身
        (as many times as you are able)
          (ou autant de fois que vous pouvez)
            (3, 7 hay 21 lần hay nhiều ít tùy ý)
               (三、七或二十一遍)

    ༄༅། །ཨོཾ་མ་ཎི་པདྨེ་ཧཱུྃ། །
    OM MANI PADME HUM
    嗡嘛呢呗美吽
    (108x or more / 108x ou plus / 108 hay nhiều hơn, / 一百零八遍)

    Nguyện Văn – Main Prayers – La Prière –《愿文》

    ལས་དང་གློ་བུར་རྐྱེན་ལས་གྱུར་པ་ཡི། །
      LÉ DANG LO BUR KYEN LÉ GYUR PA YI
        May all the diseases that sadden the minds of sentient beings
          Puissent toutes les maladies qui affligent l’esprit des êtres
            Mọi bệnh từ nghiệp / và duyên trước mắt,
              今缘昔业生起之
    གདོན་དང་ནད་དང་འབྱུང་པོའི་འཚེ་བ་སོགས། །
      DÖN DANG NÉ DANG JUNG PÖ TSE WA SOK
        that result from karma and temporary conditions,
          et résultent du karma et des conditions temporaires,
            tà ám, ác bệnh / khổ nạn tứ đại,
              鬼魅部多病扰之
    སེམས་ཅན་ཡིད་མི་བདེ་བའི་ནད་རྣམས་ཀུན། །
      SEM CHEN YI MI DE WÉ NÉ NAM KÜN
        such as the harms of spirits, illnesses, and the elements,
          telles que les malfaisances des esprits, les maladies et les éléments,
            Khiến tâm chúng sinh / không còn an lạc
              一切惶惶众生疾
    འཇིག་རྟེན་ཁམས་སུ་འབྱུང་བར་མ་གྱུར་ཅིག །
      JIK TEN KHAM SU JUNG WAR MA GYUR CHIK
        not occur in the realms of the world.
          ne plus survenir dans les royaumes du monde,
            Nguyện không xuất hiện / trên cõi thế gian.
              祈愿不复现于世

    ཇི་ལྟར་གཤེད་མས་འཁྲིད་པའི་གསད་བྱ་བཞིན། །
      JI TAR SHE MÉ TRI PÉ SE JA SHYIN
        May whatever sufferings there are from life-threatening diseases
          Puissent toutes les souffrances provenant des maladies menaçant la vie qui,
            Như bị đồ tể / lôi vào lò thịt
              如刽子手押死囚
    སྐད་ཅིག་གཅིག་ལ་ལུས་སེམས་འབྲལ་བྱེད་པའི། །
      KE CHIK CHIK LA LÜ SEM DRAL JEPÉ
        that, like a butcher leading a being to be slaughtered,
          tout comme le boucher menant un animal à l’abattoir,
            Chỉ trong phút giây / hồn lìa khỏi xác
              一刹那身心异留
    སྲོག་འཕྲོག་ནད་ཀྱི་སྡུག་བསྔལ་ཇི་སྙེད་པ། །
      SOK TROK NÉ KYI DUK NGAL JI NYÉ PA
        separate the body from the mind in a mere instant,
          sépare le corps de l’esprit en un seul instant,
            Hết thảy khổ bệnh / đe dọa mạng sống
              数数索命病痛已
    འཇིག་རྟེན་ཁམས་སུ་འབྱུང་བར་མ་གྱུར་ཅིག །
      JIK TEN KHAM SU JUNG WAR MA GYUR CHIK
        not occur in the realms of the world.
          ne plus survenir dans les royaumes du monde.
            Nguyện không xuất hiện / trên cõi thế gian.
              祈愿不复现于世。

    འཆི་བདག་གཤིན་རྗེའི་ཁ་ནང་ཚུད་པ་ལྟར། །
      CHI DAK SHIN JÉ KHA NANG TSÜ PA TAR
        May all embodied beings be unharmed by acute, chronic, and
          Puissent tous les être incarnés ne plus être touchés
            Bệnh dữ cấp tính, / mãn tính, truyền nhiễm,
              如入阎罗口之境
    ནད་ཀྱི་མིང་ཙམ་ཐོས་པས་སྐྲག་བྱེད་པའི། །
      NÉ KYI MING TSAM TÖ PÉ TRAK JE PÉ
        other infectious diseases, the mere sound of whose names
          par les maladies aiguës, chroniques et infectieuses
            Đáng sợ đến nỗi / chỉ thoáng nghe tên
              种种闻名丧胆病
    ཉིན་གཅིག་པ་དང་རྟག་པའི་རིམས་སོགས་ཀྱིས། །
      NYIN CHIK PA DANG TAK PÉ RIM SOK KYI
        terrifies beings, as though they had been placed inside the
          dont le nom même suffit à terrifier les êtres
            Đã như rơi vào / miệng của thần chết,
              一日瘟或常热瘟
    ལུས་ཅན་ཀུན་ལ་གནོད་པར་མ་གྱུར་གཅིག །
      LÜ CHEN KÜN LA NÖ PAR MA GYUR CHIK
        mouth of Yama, the Lord of Death.
          comme si on les plaçait  dans la bouche de Yama, le Seigneur de la Mort.
            Nguyện không bao giờ / não hại chúng sinh.
              莫要伤害众有情。

    གནོད་པའི་བགེགས་རིགས་སྟོང་ཕྲག་བརྒྱད་ཅུ་དང་། །
      NÖ PÉ GEK RIK TONG TRAK GYE CHU DANG
        May all embodied beings be unharmed
          Puissent tous les être incarnés ne plus être affectés
            Quỷ mị hại người / tám mươi ngàn loại;
              八万害人鬼魅灵,          
    གློ་བུར་ཡེ་འདྲོགས་སུམ་བརྒྱ་དྲུག་བཅུ་དང་། །
      LO BUR YÉ DROK SUM GYA DRUK CHU DANG
        by the 80,000 classes of harmful interferers,
          par les quatre vingt mille types de facteurs d’obstacles,
            Ba trăm sáu chục / loại quỷ thình lình;
              三百六阴卓鬼冥,
    བཞི་བརྒྱ་རྩ་བཞིའི་ནད་ལ་སོགས་པ་ཡིས། །
      SHYI GYA TSA SHYI NÉ LA SOK PA YI
        the 360 evil spirits that harm suddenly,
          par les trois-cent soixante esprits maléfiques qui nuisent soudainement,
            Bốn trăm hai bốn / tật bệnh các thứ
              四百四十等等病,
    ལུས་ཅན་ཀུན་ལ་འཚེ་བར་མ་གྱུར་ཅིག །
      LÜ CHEN KÜN LA TSE WAR MA GYUR CHIK
        the 424 diseases, and so forth.
          par les quatre-cent vingt-quatre maladies.
            Nguyện không phương hại / các loài chúng sinh
              莫要伤害众有情。

    ལུས་སེམས་བདེ་བ་མ་ལུས་འཕྲོག་བྱེད་པའི། །
      LÜ SEM DE WA MA LÜ TROK JE PÉ
        May whatever sufferings there are due to disturbances of the
          Puissent toutes les souffrances provenant du dérèglement des quatre éléments,
            Bao khổ vì loạn / đất nước lửa gió
              各各令身心不舒,
    འབྱུང་བཞི་འཁྲུགས་པའི་སྡུག་བསྔལ་ཇི་སྙེད་པ། །
      JUNG SHYI TRUK PÉ DUK NGAL JI NYÉ PA
        four elements, depriving the body and mind of every pleasure,
          privant le corps et l’esprit de tout plaisir, se pacifier totalement et
            Làm cho thân tâm / mất hết niềm vui
              四大不调诸苦除,
    མ་ལུས་ཞི་ཞིང་མདངས་སྟོབས་ལྡན་པ་དང་། །
      MA LÜ SHYI SHYING DANG TOB DEN PA DANG
        be totally pacified, and may the body and mind have
          puissent le corps et l’esprit avoir rayonnement et force,
            Nguyện tịnh yên hết, / sáng tươi khỏe mạnh,
              身强体魄精气盛,
    ཚེ་རིང་ནད་མེད་བདེ་སྐྱིད་ལྡན་པར་ཤོག །
      TSE RING NE MÉ DE KYI DEN PAR SHOK
        radiance and power and be endowed with long life, good health, and well-being.
          jouir d’une longue vie, d’une bonne santé et de bien-être.
            Sống lâu, không bệnh, / thoải mái an vui.
              无病长寿享乐福。

    བླ་མ་དཀོན་མཆོག་གསུམ་གྱི་ཐུགས་རྗེ་དང། །
      LA MA KÖN CHOK SUM GYI THUK JÉ DANG
        By the compassion of the gurus and the Triple Gem,
          Par la compassion des maîtres et des trois Joyaux,
            Nương lực từ bi / Thượng sư Tam bảo;
              上师三宝大悲力,
    མཁའ་འགྲོ་ཆོས་སྐྱོང་སྲུང་མའི་ནུས་མཐུ་དང་།
      KHAN DRO CHÖ KYONG SUNG MÉ NÜ TU DANG
        by the power of the dakinis, Dharma protectors, and guardians, and
          le Pouvoir des dakinis, des gardiens et protecteurs du Dharma et
            Nương đại dũng lực / không hành, hộ pháp;
              空行护法大雄力,
    ལས་འབྲས་བསླུ་བ་མེད་པའི་བདེན་སྟོབས་ཀྱིས། །
      LÉ DRÉ LU WA ME PÉ DEN TOB KYI
        by the strength of the infallibility of karma and its results,
          par la force infaillible du karma et de ses résultats,
            Nương lực chân thật / nghiệp quả không sai;
              因果不虚真实力,
    བསྔོ་བ་སྨོན་ལམ་བཏབ་ཚད་འགྲུབ་པར་ཤོག །
      NGO WA MÖN LAM TAB TSÉ DRUB PAR SHOK
        may these many dedications and prayers be fulfilled as soon as they are made.   
          puissent toutes ces dédicaces et prières être exaucées dès qu’elles sont formulées.
            Nguyện lời nguyện này / tức thì thành tựu.
              回向祈愿尽成就。

    ཅེས་པ་འདི་ནི་གདན་ས་ཆེན་པོ་དཔལ་ལྡན་ས་སྐྱར་ནད་རིམ་མི་གཅིག་པ་སྣ་ཚོགས་བྱུང་བར། སྔགས་བོན་རྣམས་ཀྱིས་མདོས་གཏོར་སྨན་སྔགས་སྲུང་བ་སོགས་གང་བསྒྲུབས་ཀྱང་མ་ཕན་པར་གདན་ས་སྟོངས་ལ་ཐུག་པའི་སྐབས། རྗེ་གྲུབ་ཐོབ་ཆེན་པོས་མ་ནམ་མཁའ་མའི་སྐྱབས་འགྲོ་གྱིས། མ་ཎི་སྒྲོངས། སྨོན་ལམ་འདི་ཐོབ་ཅེས་བཀའ་སྩལ་པ་བཞིན་བགྱིས་པ་ལ་བརྟེན་ནད་ཡམས་ཐམས་ཅད་འཕྲལ་དུ་ཆད་པས་ས་སྐྱ་ནད་གྲོལ་མའི་སྨོན་ལམ་ཞེས་རྡོ་རྗེའི་གསུང་བྱིན་རླབས་ཀྱི་སྤྲིན་ཕུང་འཕྲོ་བར་གྲགས་སོ།། །།
    Whatever the mantric masters tried—thread crosses, tormas, medicines, mantras, protection-amulets, and so forth—had no effect and the monastery was in danger of annihilation. At that time, the Great Lord Mahasiddha [Thangtong Gyalpo] performed the “space refuge,” recited a number of mani mantras, and proclaimed this prayer, after which the entire epidemic immediately ceased in dependence upon its performance. Thereby, it became renowned as the Vajra Speech Radiating Masses of Clouds of Blessing Entitled “The Prayer Liberating Sakya from Disease.”

        [La version française n’est pas disponible]
           Khi xưa có lần Đại Tu Viện của dòng Sakya Cát Tường gặp nạn dịch truyền nhiễm. Chư mật sư cố gắng nhiều cách, lễ cúng, thuốc, chú, hộ mạng vân vân, đều không ích lợi gì, tu viện có nguy cơ biến thành chốn không người. Vào lúc ấy, bậc đại thành tựu giả Thangtong Gyalpo tụng bài pháp quy y bắt đầu với câu, “Khắp mẹ chúng sinh, nhiều như trời rộng,” tụng một số chú Mani. Khi câu cuối “nguyện lời nguyện này tức thì thành tựu” được thốt lên, bệnh truyền nhiễm tức thì chấm dứt. Vì vậy mà lời nguyện này nổi danh là tiếng lời kim cang tỏa rạng mây gia trì, với tên gọi “Lời Nguyện Cứu Sakya Thoát Bệnh Dịch.”
              古刹吉祥萨迦寺曾现瘟疫数种。为此,密咒师与苯教师做堆坛、朵玛、药、咒及符等法为以対治,然皆无成效,险致全寺无人生还。尔时,大成就者呼吁众人念诵《皈依虚空文》、《六字大明咒》及愿文。众人奉行。随即,瘟疫净除。而后,人们便称此愿文——《萨迦愈病》。并因其加持力非凡而闻名遐迩。

    བོད་ཡིག།་ གྲུབ་ཐོབ་ཐང་སྟོང་རྒྱལ་པོ། Thangtong Gyalpo (1385-1464)
    中文译者
    : 第十七世大宝法王噶玛巴  Đại Bảo Pháp Vương Karmapa XVII, 01,2020
    English: translated and edited by Bhikshu Thubten Tsültrim (George Churinoff)
    Français: Lobsang Sonam, 1 Avril 2009
    Việt ngữ
    : Hồng Như Thupten Munsel, tháng 01, 2020


    Trở về mục lục
  • KINH THỦY SÁM – Thượng nhân Thích Trí Quang dịch giải

    (1)
    Thủy Sám
    Trưởng lão Thích Trí Quang dịch giải

    | (1) Lời ghi - Tiểu dẫn - Mục Lục - Tựa | 
    | (2) Khai Kinh | (3) Chánh Văn | (4) Hồi Hướng |
    [Ghi chú cho trang web này : Chánh văn nguyên bản Thủy sám chia thành 3 cuốn: trước, giữa và sau, mỗi cuốn có 3 phần: khai kinh, chánh văn, hồi hướng, có lẽ để tiện việc đọc tụng. Nay xin phép được gom chánh văn lại làm một, chia 3 phần: (2) Khai kinh, (3) Chánh văn và (4) Hoàn kinh, trên 3 trang web [(1) dành cho phần dẫn nhập trước chánh văn]. Mục lục chỉnh lại cho phù hợp. Mỗi khi đọc có thể đọc dài tùy ý, nhưng bất luận thế nào, xin hãy luôn bắt đầu bằng (2) khai kinh và kết thúc bằng (4) hoàn kinh.
    Bản web hiện tại chưa có phần Ghi chú của nguyên bản. Sẽ bổ túc sau.]

    Lời Ghi

    Lời ghi

    Dịch sách này tôi cố dùng câu 4 chữ. Là để dễ tụng. Dẫu rằng như thế có chỗ hơi thừa, có chỗ hơi thiếu, có chỗ phải vụng.

    Trí Quang

    Tiểu Dẫn

    Tiểu dẫn

    • Thủy sám là tên tắt, do chính tác giả dùng trong văn. Tên tắt này gọi đủ là Từ bi thủy sám pháp. Sám pháp, gọi tắt là sám, nghĩa là phương pháp sám hối. Phương pháp này mệnh danh Từ bi thủy, gọi tắt là thủy, nghĩa là nước từ bi. Tại sao mệnh danh như vậy thì bài Tựa có nói rõ.
    • So với bản in thứ nhất, và thứ nhì, bản in thứ ba này chỉ để phần dịch nghĩa, bỏ phần dịch âm.
    • Nguyên văn Thủy sám, mà bản in thứ hai đối chiếu để chữa, nằm trong Đại tạng kinh, quyển 45, các trang 967-978, mang số hiệu 1910.
    • Thủy sám có 2 bản chú thích xưa, vào đời Thanh của Trung hoa, và 1 bản mới. 2 bản xưa, 1 của ngài Trí chứng, 1 của ngài Tây tôn. Cả 2 cùng nằm trong Tục tạng kinh, sách 129, liên tiếp từ tờ 145 đến tờ 263. Còn bản mới là của ngài Đế nhàn, nằm trong Đế nhàn đại sư di tập, trọn tập 10. Trong 3 bản chú thích này, bản trước nhất của ngài Trí chứng, cẩn trọng hơn cả. Sự sửa chữa trong bản in thứ hai đã tham chiếu tất cả tài liệu trên đây.
    • Ký hiệu dẫn dụng sẽ là, thí dụ: Chính 45/967, là trang 967, quyển 45 của Đại tạng kinh bản Đại chính; Vạn 129/145, là tờ 145, sách 129 của Tục tạng kinh bản chữ Vạn.
    • Thủy sám không nêu đại đề tiểu đề, nhưng trong lời văn lại có đủ và rõ. Nay tôi căn cứ lời văn ấy mà nêu đại đề tiểu đề cho dễ nhận. Khi tụng, chỉ tụng những chữ lớn. Mọi chữ nhỏ không tụng. [Ghi chú: ở đây, tụng chữ thường, không tụng đầu đề chữ đậm lớn]
    • Bản chữa và in lần thứ 3 này là định bản về Thủy sám tôi dịch.

    Mục Lục

    Mục lục

    [1]: Lời ghi, Tiểu dẫn, Mục lục, Tựa
    [2]: Khai kinh
    [3]: Chánh văn

    A1. Mở Đầu Sám Hối, có 7B

    • B1. Lý Do Sám Hối
    • B2. Căn Bản Sám Hối
    • B3. Những Điều Sám Hối
    • B4. Phương Tiện Sám Hối
    • B5. Nghĩ Nhớ Tam Bảo Để Sám Hối
    • B6. Cảnh Giác Vô Thường Và Khổ Báo Để Sám Hối
    • B7. Cảnh Giác Tội Lỗi Để Sám Hối

    A2. Sám Hối Phiền Não, có 13B

    • B1. Sám Hối Căn Bản Của Phiền Não
    • B2. Sám Hối Tính Chất Qua Danh Nghĩa Của Phiền Não
    • B3. Sám Hối Nhân Duyên Của Phiền Não
    • B4. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Nhân Duyên Của Phiền Não
    • B5. Giá Trị Của Sự Sám Hối
    • B6. Lặp Lại Tâm Tư Để Sám Hối
    • B7. Lặp Lại Cảnh Giác Để Sám Hối
    • B8. Sám Hối Những Phiền Não Nặng Nhất
    • B9 Sám Hối Những Phiền Não Nặng Và Sâu
    • B10. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Những Phiền Não Trên
    • B11. Lạy Phật Và Lặp Lại Tâm Tư Để Sám Hối
    • B12. Sám Hối Sự Chướng Ngại Của Phiền Não
    • B13. Lời Nguyện Và Lạy Phật Về Sự Sám Hối Trên

    A3. Sám Hối Ác Nghiệp, có 4B

    • B1. Giải Tọa Nghi Hoặc Bằng Cách Phân Loại Về Nghiệp
    • B2. Sám Hối Tổng Quát Về Ác Nghiệp
    • B3. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Trên
    • B4. Sám Hối Riêng Biệt Về Ác Nghiệp, có 5C
      • C1. Sám Hối 3 Ác Nghiệp Của Thân, có 3D
        • D1. Sám Hối Ác Nghiệp Sát Sinh, có 4Đ
          • Đ1. Lời Nói Đầu (Lý Do Sám Hối Sát Sinh Và Khổ Báo Của Ác Nghiệp Này)
          • Đ2. Nguyên Nhân Và Phương Tiện Của Ác Nghiệp Sát Sinh
          • Đ3. Sám Hối Ác Nghiệp Sát Sinh
          • Đ4. Lời Nguyện Và Lạy Phật Về Sự Sám Hối Trên
        • D2. Sám Hối Ác Nghiệp Trộm Cướp, có 3Đ
          • Đ1. Lời Nói Đầu (Định Nghĩa Trộm Cướp Và Khổ Báo Của Ác Nghiệp Này)
          • Đ2. Sám Hối Ác Nghiệp Trộm Cướp
          • Đ3. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Trên
        • D3. Sám Hối Ác Nghiệp Dâm Dục, có 3Đ
          • Đ1. Lời Nói Đầu (Nỗi Khổ Của Ái Dục Và Khổ Báo Của Ác Nghiệp Dâm Dục)
          • Đ2. Sám Hối Ác Nghiệp Dâm Dục
          • Đ3. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Trên
      • C2. Sám Hối 4 Ác Nghiệp Của Miệng, có 6D
        • D1. Lời Nói Đầu (Khổ Báo Ác Nghiệp Của Miệng)
        • D2. Sám Hối Ác Nghiệp Nói Thô Ác
        • D3. Sám Hối Ác Nghiệp Nói Dối Trá, có 2Đ
          • Đ1. Sám Hối Ác Nghiệp Nói Dối Trá Nặng
          • Đ2. Sám Hối Ác Nghiệp Nói Dối Trá Lớn
        • D4. Sám Hối Ác Nghiệp Nói Thêu Dệt
        • D5. Sám Hối Ác Nghiệp Nói Hai Lưỡi
        • D6. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối 4 Ác Nghiệp Của Miệng
      • C3. Sám Hối Ác Nghiệp Của 6 Căn, có 2D
        • D1. Sám Hối Ác Nghiệp Của 6 Căn
        • D2. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Này
      • C4. Sám Hối Ác Nghiệp Đối Với Tam Bảo, có 6D
        • D1. Lời Nói Đầu (Lạy Phật Và Lặp Lại Tâm Tư Để Sám Hối)
        • D2. Sám Hối Ác Nghiệp Đối Với Phật Bảo
        • D3. Sám Hối Ác Nghiệp Đối Với Pháp Bảo có 2Đ
          • Đ1. Sám Hối Ác Nghiệp Vô Ý
          • Đ2. Sám Hối Ác Nghiệp Cố Ý,
        • D4. Sám Hối Ác Nghiệp Đối Với Tăng Bảo
        • D5. Sám Hối Ác Nghiệp Đối Với Cả Tam Bảo
        • D6. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Ác Nghiệp Đối Với Tam Bảo
      • C5. Sám Hối Ác Nghiệp Phức Tạp, có 10D
        • D1. Lời Nói Đầu (Tàm Quí Để Sám Hối)
        • D2. Sám Hối Ác Nghiệp Mê Tín
        • D3. Sám Hối Ác Nghiệp Ngạo Ngược
        • D4. Sám Hối Ác Nghiệp Nhậu Nhẹt
        • D5. Sám Hối Ác Nghiệp Tự Thị
        • D6. Sám Hối Ác Nghiệp Buôn Lường
        • D7. Sám Hối Ác Nghiệp Tàn Nhẫn
        • D8. Sám Hối Ác Nghiệp Phóng Túng
        • D9. Sám Hối Tổng Quát Về Các Ác Nghiệp
        • D10. Lời Nguyện Và Lạy Phật Về Sự Sám Hối Trên

    A4. Sám Hối Khổ Báo, có 4B

      • B1. Lời Nói Đầu, có 4C
        • C1. Quả Báo Khó Tránh Nhưng Sám Hối Trừ Được
        • C2. Cảnh Giác Sự Chết Và Khổ Báo
        • C3. Cảnh Giác Vô Thường
        • C4. Cảnh Giác Luân Hồi Khổ Báo
      • B2. Sám Hối Khổ Báo Địa Ngục, có 3C
        • C1. Sám Hối Khổ Báo Địa Ngục A Tì
        • C2. Sám Hối Khổ Báo Các Địa Ngục Khác
        • C3. Lời Nguyện Và Lạy Phật Về Sự Sám Hối Khổ Báo Địa Ngục
      • B3. Sám Hối Khổ Báo 3 Ác Đạo Khác, có 5C
        • C1. Lời Nói Đầu (Cảnh Giác Kẻ Chỉ Lo Hiện Tại Mà Không Biết Lo Tương Lai)
        • C2. Sám Hối Khổ Báo Súc Sinh
        • C3. Sám Hối Khổ Báo Ngạ Quỉ
        • C4. Sám Hối Khổ Báo Quỉ Thần
        • C5. Lời Nguyện Về Sự Sám Hối Khổ Báo Của 3 Ác Đạo
      • B4. Sám Hối Dư Báo Nhân Gian, có 2C
        • C1. Lời Nói Đầu (Mọi Sự Trái Ý Đều Là Dư Báo)
        • C2. Sám Hối Dư Báo Nhân Gian

    A5. Phát Nguyện Hồi Hướng, có 3B

      • B1. Tổng Kết Hồi Hướng
      • B2. Phát Nguyện Đặc Biệt
      • B4. Phát Nguyện Đồng Nhất

    III. HỒI HƯỚNG


    Tựa

    Tựa (1)

    Thiết nghĩ, ngoài thánh điển kinh luật luận được phiên dịch mà có, những tác phẩm của các ngài tiếp theo sau đó thì không thứ nào được viết ra mà không có chỗ sở cảm. Điều đó, nếu nhất nhất nêu lên thì khó mà ghi lại cho hết. Nhưng, ngay như bản linh văn này mà mệnh danh Thủy sám, là vì nguyên do mà tôi xin kể lại sau đây.

    Xưa kia, đời Đường, triều vua Ý tông, có ngài Ngộ đạt quốc sư, pháp danh Tri huyền. Khi chưa là quốc sư, tại kinh đô, tình cờ ngài gặp một tăng nhân, nhưng quên hỏi chỗ ở của vị này. Vị này bị bịnh ca ma la (2) . Ai cũng gớm, chỉ ngài Tri huyền gần gũi, luôn luôn thăm hỏi săn sóc, chưa bao giờ có một vẻ ghê chán. Vì vậy, khi chia tay, vị ấy cảm cái nghĩa và tác phong của ngài, dặn rằng, sau này ngài sẽ bị nạn, lúc đó hãy tìm nhau tại núi Trà lũng (3) ở Bành thành, thuộc Tây Thục, chỗ có hai cây tùng làm dấu.

    Sau đó, ngài Ngộ đạt đến chùa An quốc, đạo đức rực rỡ. Ý tông thân hành đến pháp tịch của ngài, ban pháp tọa bằng gỗ trầm hương và cung phụng rất hậu. Nhưng cũng từ đó, đầu gối của ngài tự nhiên mọc cái mụt “mặt người”, mắt mày răng miệng đủ cả, thỉnh thoảng đút cho đồ ăn thức uống thì cũng há miệng nuốt như người vậy. Danh y mời đủ cả mà ai cũng bó tay.

    Ngài nhớ lại lời dặn của vị tăng nhân ở chung ngày trước, nên vào núi tìm. Nhằm lúc trời đã chiều tối, ngài bàng hoàng nhìn khắp bốn phía, thấy hai cây tùng ở trong chỗ mây khói. Tin lời ước hẹn là đúng, ngài bước ngay đến chỗ ấy. Thì là lầu cao, điện lớn, ánh sáng vàng và ngọc giao xen với nhau. Vị tăng nhân đã đứng đầu cửa, đón tiếp niềm nở, và mời ngài ngủ lại. Ngài đem cái khổ của mình nói với tăng nhân thì vị này bảo không hại gì, dưới núi này có một con suối, sáng ngày xuống rửa là khỏi.

    Sáng sớm, đạo đồng dẫn ngài xuống suối, mới vốc nước, mụt ghẻ mặt người đã kêu lớn lên, khoan rửa đã, ngài là kẻ biết nhiều, hiểu rộng, đọc hết cổ kim, vậy mà ngài đã đọc cái chuyện Viên Án với Triệu Thố trong Tây Hán thư chưa? Đọc rồi, ngài Ngộ đạt trả lời. Cái mụt lại bảo, đọc rồi mà ngài không biết Viên Án đã giết Triệu Thố sao? Ngài là Viên Án, còn Triệu Thố là tôi đây. Triệu Thố bị chém ngang lưng ở chợ phía đông, oan khốc đến mức nào. Nên bao đời tôi đã tìm cách báo ngài. Nhưng ngài mười đời đều làm cao tăng, giới luật nghiêm tịnh, sự báo oán của tôi không có cơ hội. Nay ngài hưởng sự đãi ngộ của vua chúa quá xa xỉ, lòng danh lợi mống lên, cái đức có phần thương tổn, tôi mới hại ngài được. Ngày nay, mong ơn tôn giả Ca nặc rửa cho tôi bằng nước “từ bi tam muội”, từ nay sắp đi, tôi không còn là kẻ oan gia của ngài nữa.

    Ngộ đạt quốc sư nghe mà cơ hồ hồn phách thoát khỏi cơ thể, luôn tay vốc nước mà rửa, đau thấu xương tủy, ngất đi hồi lâu mới tỉnh. Coi lại thì mụt ghẻ mặt người đã không còn nữa. Ngộ đạt quốc sư mới biết các vị hiền thánh xen lẫn dấu vết trong dân gian là điều mà người phàm khó lường biết nổi. Muốn trở lại chiêm bái, nhưng ngoái nhìn thì tự viện đã không còn. Vì vậy, Ngộ đạt quốc sư mới dựng thảo am ngay nơi chỗ ấy, và sau này thành một tự viện. Tống triều ta đây, niên hiệu Chí đạo, sắc tứ là Chí đức thiền tự, có vị cao tăng tên Tín, húy Cổ, viết bài ký sự ghi lại việc này rất rõ.

    Ngộ đạt quốc sư, lúc ấy, cảm kích sự kỳ lạ của Ca nặc tôn giả, thấm thía rằng oan trái nhiều kiếp phi gặp thánh nhân không làm sao cởi mở cho được. Nhân đó mà thuật lời thánh giáo, viết ra sám văn này, để hôm sớm lễ bái trì tụng, và sau đó đã phổ biến khắp cả nhân gian. Sám văn gồm có ba cuốn ngày nay là sám văn ấy. Đem nước từ bi tam muội rửa sạch oan nghiệp nhiều kiếp, lấy ý nghĩa đó để mệnh danh Thủy sám, là Ngộ đạt quốc sư cảm sự kỳ lạ của Ca nặc tôn giả, nên chính xác cái tên và nêu lên cái nghĩa như thế để báo đáp ơn ngài. Nay kể rõ sự thật từ ngày xưa, nêu cao cống hiến của người trước, là mong những kẻ sau này, hoặc lễ bái hoặc trì tụng, hễ dở sám văn ra là đã biết sự tích người xưa vốn có lý do, và nhân quả nhiều đời vẫn không khuất mờ.

    | (1) Lời ghi - Tiểu dẫn - Mục Lục - Tựa | 
    | (2) Khai Kinh | (3) Chánh Văn | (4) Hoàn Kinh |

    Pages: 1 2 3 4

  • Tán Dương Mười Hai Công Hạnh Phật

    ༄༅།  མཛད་པ་བཅུ་གཉིས་ལ་བསྟོད།
    TÁN DƯƠNG MƯỜI HAI CÔNG HẠNH PHẬT
    PRAISE TO THE TWELVE DEEDS

    Prerequisites: Everyone can read
    Điều kiện hành trì:
    Mọi người đều có thể đọc

    ཐབས་མཁས་ཐུགས་རྗེས་ཤཱཀྱའི་རིགས་སུ་འཁྲུངས། །
    TAP KHE THUK JE SHA KYAY RIK SU TRUNG
    Skilled in means, from compassion you took birth as a Sakyas;
    Dụng thiện phương tiện / từ bi thọ sinh / vào dòng họ Thích
    གཞན་གྱིས་མི་ཐུབ་བདུད་ཀྱི་དཔུང་འཇོམས་པ། །
    SHEN GYI MI ThUP DU KYI PUNG JOM PA
    You vanquished Mara’s forces while others could not.
    phá lực ma vương / là điều người khác / đều không thể làm
    གསེར་གྱི་ལྷུན་པོ་ལྟ་བུར་བརྗིད་པའི་སྐུ།  །
    SER GYI LHUN PO TA BUR JI PEI KU
    Like a golden Mount Meru is your splendid body,
    Thân vàng rực rỡ / như núi tu di
    ཤཱཀྱའི་རྒྱལ་པོ་ཁྱོད་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ། །
    SHA KYEI GYAL PO KHYO LA CHAK TSAL LO
    O King of the Shakyas, I prostrate to you.
    vua dòng họ Thích, / đệ tử qui y.

    གང་གི་དང་པོར་བྱང་ཆུབ་ཐུགས་བསྐྱེད་ནས།  །
    GANG GI DANG POR JANG CHUP ThUK KYE NE
    It’s you who at first roused the mind of enlightenment,
    Trước tiên ngài đã / phát tâm bồ đề, / tiếp theo tích tụ
    བསོད་ནམས་ཡེ་ཤེས་ཚོགས་གཉིས་རྫོགས་མཛད་ཅིང་། །
    SO NAM YE SHE TSOK NYI DZOK DZE CHING
    Then perfected the accumulation of merit
    tư lương phước tuệ, / thiện hạnh bao la / trong cõi thế này.
    དུས་འདིར་མཛད་པ་རྒྱ་ཆེན་འགྲོ་བ་ཡི།  །
    DU DIR DZE PA GYA CHEN DRO WA YI
    And wisdom. So vast are your deeds in this age!.
    Trước bậc hộ trì / chúng sinh biển khổ
    མགོན་གྱུར་ཁྱོད་ལ་བདག་གིས་བསྟོད་པར་བགྱི།
    GON GYUR KHYO LA DAK GI TO PAR GYI
    I praise you who are the protector of wanderers.
    đệ tử thành tâm / tán dương công hạnh

    ལྷ་རྣམས་དོན་མཛད་འདུལ་བའི་དུས་མཁྱེན་ནས། །
    LHA NAM DON DZE DUL WAY DU KHYEN NE
    You benefited gods, then knowing it was time
    Hoằng hóa cõi Thiên, / đến khi đủ duyên
    ལྷ་ལས་བབས་ནས་གླང་ཆེན་ལྟར་གཤེགས་ཤིང་། །
    LHA LE BAP NE LANG CHEN TAR SHEK SHING
    To tame humans, you came down from heaven as an elephan.
    xuất thế cõi người, / như voi uy dũng
    རིགས་ལ་གཟིགས་ནས་ལྷ་མོ་སྒྱུ་འཕྲུལ་མའི།
    RIK LA SIK NE LHA MO GYI TRUL MAY
    You looked at her caste and then entered the womb
    Chọn dòng đế vương / nhập vào thai mẹ / hoàng hậu Ma Ya:
    ལྷུམས་སུ་ཞུགས་པར་མཛད་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ། །
    LHUM SU SHIK PAR DZE LA CHAK TSAL LO
    Of the goddess Mahamaya: I prostrate to this deed.
    Trước công hạnh này / con xin đảnh lễ.

    ཟླ་བ་བཅུ་རྫོགས་ཤཱཀྱའི་སྲས་པོ་ནི།  །
    DA WA CHU DZOK SHA KYAY SE PO NI
    When the ten months has finished, you, son of the Shakyas,
    Khi tròn mười tháng / đứa con họ Thích
    བཀྲ་ཤིས་ལུམྦིའི་ཚལ་དུ་བལྟམས་པི་ཚེ། །
    TA SHI LUM BIY TSAL DU TAM PAY TSE
    Were born in the auspicious grove of Lumbini.
    đản sinh cát tường / vườn Lâm Tì Ni.
    ཚངས་དང་བརྒྱ་བྱིན་གྱིས་བཏུད་མཚན་མཆོག་ནི།  །
    TSANG DANG GYA JIN GYI TO TSEN CHOK NI
    Both Bhahma and Indra praised you with your great marks
    Phạm Thiên Đế Thích / tán dương tướng hảo / dòng dõi bồ đề:
    བྱང་ཆུབ་རིགས་སུ་ངེས་མཛད་ཕྱག་འཚལ་ལོ།།
    JANG CHUP RIK SU NGE DZE CHAK TSAL LO
    Of the family of enlightenment: I prostrate to this deed.
    trước công hạnh này / con xin đảnh lễ.

    གཞོན་ནུ་སྟོབས་ལྡན་མི་ཡི་སེང་གེ་དེས།  །
    SHON NU TOP DEN MI YI SENG GE DE
    A youth with great strength, a lion among men,
    Tuổi trẻ dũng mãnh / tựa như sư tử / ở trong loài người.
    ཨཾ་ག་མ་ག་དྷར་ནི་སྒྱུ་རྩལ་བསྟན། །
    ANG GA MA GA DHAR NI GYI TSAL TEN
    You showed your great prowess at Angamagadha
    Thi triển tài nghệ / khuất phục hết thảy 
    སྐྱེ་བོ་དྲེགས་པ་ཅན་རྣམས་ཚར་བཅད་ནས། 
    KYI WO DREK PA CHEN NAM TSAR CHE NE
    You vanquished all people inflated with arrogance.
    những kẻ kiêu mạn / tại xứ A ga Ma Kiệt Đà, 
    འགྲན་ཟླ་མེད་པར་མཛད་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ། །
    DREN DA ME PAR DZE LA CHAK TSAL LO
    You are without rival: I prostrate to this deed.
    tài nghệ vô song: / trước công hạnh này / con xin đảnh lễ.

    འཇིག་རྟེན་ཆོས་དང་མཐུན་པར་བྱ་བ་དང་།  །
    JIK TEN CHO DANG TUN PAR JA WA DANG
    In order to ack in accord with the ways
    Thuận lẽ thế gian
    ཁ་ན་མ་ཐོ་སྤང་ཕྱིར་བཙུན་མོ་ཡི། །
    KHA NA MA TO PANG CHIR TSUN MO YI
    Of the world and avert any censure, you took
    không chút úy kỵ, / thâu nạp phi tần,
    འཁོར་དང་ལྡན་མཛད་ཐབས་ལ་མཁས་པ་ཡིས།  །
    KHOR DANG DEN DZE TAP LA KHE PA YI
    A retinue of queens. Thus through means that were skillful,
    dụng thiện phương tiện / khéo léo trị nước:
    རྒྱལ་སྲིད་སྐྱོང་བར་མཛད་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ།
    GYAL SI KYONG WAR DZE LA CHAK TSAL LO
    You governed your kingdom: I prostrate to this deed.
    trước công hạnh này / con xin đảnh lễ.

    འཁོར་བའི་བྱ་བ་སྙིང་པོ་མེད་གཟིགས་ནས།  །
    KHOR WAY JA WA NYING PO ME ZIK NE
    You saw the affairs of samsara are pointless
    Thấy rõ chuyện đời / thật là vô nghĩa 
    ཁྱིམ་ནས་བྱུང་སྟེ་མཁའ་ལ་གཤེགས་ནས་ཀྱང་། །
    KHYIM NE JUNG TE KHA LA SHEK NE KYANG
    And left your household, going off in the sky
    ngài rời gia đình / lên tận trời cao 
    མཆོད་རྟེན་རྣམ་དག་དྲུང་དུ་ཉིད་ལ་ཉིད།  །
    CHO TEN NAM DAK DRUNG DU NYI LA NYI
    Near the stupa of Great Purity, you by yourself
    gần tháp Đại Tịnh / một mình xuất gia / buông xả luân hồi:
    རབ་ཏུ་བྱུང་བར་མཛད་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ། །
    RAP TU JUNG WAR DZE LA CHAK TSAL LO
    Became fully renounced: I prostrate to this deed.
    trước công hạnh này / con xin đảnh lễ.

    བརྩོན་པས་བྱང་ཆུབ་བསྒྲུབ་པར་དགོངས་ནས་ནི།  །
    TSON PE JANG CHUP DRUP PAR GONG NE NI
    With the thought to accomplish enlightenment through effort,
    Tìm quả giác ngộ / qua đường tinh tấn,
    ནཻ་ར་ཉྫ་ནའི་འགྲམ་དུ་ལོ་དྲུག་ཏུ། །
    NE RANG DZA NAY DRAM DU LO DRUK TU
    For six years you practiced austerities on the banks
    sáu năm khổ hạnh / bên bờ Ni liên,
    དཀའ་བ་སྤྱད་མཛད་བརྩོན་འགྲུས་མཐར་ཕྱིན་པས།  །
    KA WA CHE DZE TSON DRU TAR CHIN PAY
    Of the Nairanjana and, perfecting your diligence,
    vẹn toàn tinh tấn / đạt được đại định:
    བསམ་གཏན་མཆོག་བརྙེས་མཛད་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ།
    SAM TEN CHOK NYE DZE LA CHAK TSAL LO
    You gained the supreme dhyana: I prostrate to this deed.
    trước công hạnh này / con xin đảnh lễ.

    ཐོགས་མ་མེད་ནས་འབད་པ་དོན་ཡོད་ཕྱིར། 
    TOK MA ME NE BE PA DON YON CHIR
    As your efforts from beginningless time had a purpose,
    Kể từ vô thủy / nỗ lực như vậy / là có mục tiêu,
    མ་ག་དྷ་ཡི་བྱང་ཆུབ་ཤིང་དྲུང་དུ། །
    MA GA DHA GA DHA YI JANG CHUP SHING DRUNG DU
    In Magadha under the Three of Enlightenment
    ở Ma Kiệt Đà / dưới cội bồ đề / ngài ngồi kiết già
    སྐྱིལ་ཀྲུང་མི་གཡོ་མངོན་པར་སངས་རྒྱས་ནས།  །
    KYIL TRUNG MI YO NGON PAR SANG GYE NE
    Unmoving you sat and manifestly awakened
    thị hiện chứng đạo / đắc chánh đẳng giác:
    བྱང་ཆུབ་རྫོགས་པར་མཛད་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ། །
    JANG CHUP DZOK PAR DZE LA CHAK TSAL LO
    To perfect enlightenment: I prostrate to this deed.
    trước công hạnh này / con xin đảnh lễ.

    ཐུགས་རྗེས་འགྲོ་ལ་མྱུར་དུ་གཟིགས་ནས་ནི།  །
    THUK JE DRO LA NYUR DU SIK NE NI
    You soon with compassion regarded all wanderers
    Rồi vì đại bi / tức khắc nhìn về / khắp cả chúng sinh.
    ཝཱ་རཱ་ཎ་སཱི་ལ་སོགས་གནས་མཆོག་ཏུ། །
    WA RA NA SI LA SOK NE CHOK TU
    And in Varanasi and other great places
    Tại các thánh địa / như Ba La Nại
    ཆོས་ཀྱི་འཁོར་ལོ་བསྐོར་ནས་གདུལ་བྱ་རྣམས། 
    CHO KYI KHOR LO KOR NE DUL JA NAM
    You turned the Wheel of Dharma, thus bringing your disciples
    chuyển đẩy pháp luân / đưa chúng đệ tử / vào với tam thừa:
    ཐེག་པ་གསུམ་ལ་འགོད་མཛད་ཕྱག་འཚལ་ལོ།
    TEK PA SUM LA GO DZE CHAK TSAL LO
    Into the three vehicles: I prostrate to this deed.
    trước công hạnh này / con xin đảnh lễ.

    གཞན་གྱི་རྒོལ་བ་ངན་པ་ཚར་གཅད་ཕྱིར།  །
    SHEN GYI GOL WA NGHEN PA TSAR CHE CHIR
    To vanquish the evil objections of others
    Diệt tan tà lực / tại Ba La Nại / hàng phục quần ma
    མུ་སྟེགས་སྟོན་པ་དྲུག་དང་ལྷས་བྱིན་སོགས། །
    MU TEK TON PA DRUK DANG LHA JIN SOK
    In the land of Varanasi, you subdued the demons –
    sáu sư ngoại đạo / Đề Bà Đạt Đa,  
    འཁོར་མོ་འཇིག་གི་ཡུལ་དུ་བདུད་རྣམས་བཏུལ།  །
    KHOR MO JIK GI YUL DU DU NAM TUL
    The six tirthika teachers, Devadatta, and others
    cùng nhiều vị khác, / đạo sư tối thắng :
    ཐུབ་པ་གཡུལ་ལས་རྒྱལ་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ། །
    TUP PA YUL LE GYAL LA CHAK TSAL LO
    The Sage triumphed in battle: I prostrate to this deed.
    trước công hạnh này / con xin đảnh lễ.

    སྲིད་པ་གསུམ་ན་དཔེ་མེད་ཡོན་ཏན་གྱིས།  །
    SI PA SUM NA PE ME YON TEN GYI
    Your qualities unparalleled in the three realms,
    Thiện đức của ngài / ba cõi không đâu / có thể sánh bằng,
    མཉན་དུ་ཡོད་པར་ཆོ་འཕྲུལ་ཆེན་པོ་བསྟན། །
    NYEN DU YO PAR CHO TRUL CHEN PO TEN
    In Shravasti, you displayed wondrous miracles
    tại thành Xá Vệ / thị hiện thần thông
    ལྷ་མི་འགྲོ་བ་ཀུན་གྱིས་རབ་མཆོད་པ།  །
    LHA MI DRO WA KUN GYI RAP CHO PA
    All devas and humans make you great offerings
    chư Thiên, nhân loại / qui thuận cúng dường;
    བསྟན་པ་རྒྱས་པར་མཛད་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ།
    TEN PA GYE PAR DZE LA CHAK TSAL LO
    You spread the teachings: I prostrate to this deed.
    xiển dương chánh pháp: / trước công hạnh này / con xin đảnh lễ.

    ལེ་ལོ་ཅན་རྣམས་མྱུར་དུ་བསྐུལ་བྱའི་ཕྱིར།  །
    LE LO CHEN NAM NYUR DU KUL JAY CHIR
    In order to encourage all those who are lazy
    Để giúp kẻ lười / phát tâm dũng mãnh / siêng tu Phật Pháp,
    རྩྭ་མཆོག་གྲོང་གི་ས་གཞི་གཙང་མ་རུ། །
    TSA CHOK DRONG GI SA SHI TSANG MA RU
    To the Dharma, on Kushinagar’s good, clean ground
    Phật ở nơi thành / Ku-shi-na-gar / trên đất thanh tịnh 
    འཆི་མེད་རྡོ་རྗེ་ལྟ་བུའི་སྐུ་གཤེགས་ནས།  །
    CHI ME DOR JE TA BUY KU SHEK NE
    You departed the deathless, vajralike body
    xả bỏ xác thân / kim cang bất tử, / nhập bát niết bàn:
    མྱ་ངན་འདའ་བར་མཛད་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ། །
    NYA NGE DA WAR DZE LA CHAK TSAL LO
    And passed to nirvana: I prostrate to this deed
    trước công hạnh này / con xin đảnh lễ.

    ཡང་དག་ཉིད་དུ་འཇིག་པ་མེད་ཕྱིར་དང་།  །
    YANG DAK NYI DU JIK PA ME CHIR DANG
    Because in reality there is no destruction
    Vì thật không hề / có sự hủy hoại,
    མ་འོངས་སེམས་ཅན་བསོད་ནམས་འཐོབ་བྱའི་ཕྱིར། །
    MA ONG SEM CHEN SO NAM TOP JAY CHIR
    And so that the beings of the future gain merit
    để cho chúng sinh / các thời tương lai / tích tụ công đức
    དེ་ཉིད་དུ་ནི་རིང་བསྲེལ་མང་སྤྲུལ་ནས།  །
    DE NYI DU NI RING SEL MANG TRUL NE
    In that very place you left many relics – 
    ngay tại chốn này / ngài lưu xá lợi – / tám phần linh cốt:
    སྐུ་གདུང་ཆ་བརྒྱད་མཛད་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ།
    KU DUNG CHA GYE DZE LA CHAK TSAL LO.
    The eight parts of your remains: I prostrate to this deed.
    trước công hạnh này / con xin đảnh lễ.

    བདེ་བར་གཤེགས་པ་ཁྱེད་སྐུ་ཅི་འདྲ་བ།  །
    DE BAR SHEK PA KHYE KU CHI DRA DANG
    Sakyamuni, may we attain a body like yours,
    Đức Phật Thích Ca / hiện sắc thân nào
    འཁོར་དང་སྐུ་ཚེའི་ཚད་དངཞིང་ཁམས་དང་། །
    KHOR DANG KU TSE’I TSE DANG SHING KHAM DANG
    a retinue like yours, long life like yours,
    cùng thánh chúng nào / thọ mạng ra sao
    ཁྱེད་ཀྱི་མཚན་མཆོག་བཟང་པོ་ཅི་འདྲ་བ།  །
    KHYE KYI TSEN CHOG ZANG PO CHI DRA WA
    a realm like yours, and excellent supreme
    trú tịnh độ nào / danh hiệu ra sao
    དེ་འདྲ་ཁོ་ནར་བདག་སོགས་གྱུར་བར་ཤོག །
    DE DRA KHO NAR DAK SOK GYUR WAR SHOK
    characteristics just like yours.
    nguyện cho chúng con / được y như vậy.

    Buddha mantra – Minh chú PHẬT THÍCH CA

    TE YA THA: OM MU NI MU NI MA HA MU NI YE SO HA
    Tê ya tha, Ôm mu ni mu ni ma ha mu ni yê sô ha

    DEDICATION – HỒI HƯỚNG

    ཁྱོད་ལ་བསྟོད་ཅིག་གསོལ་བ་བཏབ་པའི་མཐུས།  །
    KHYO LA TO CHIK SOL WA TAB PAI TU
    I pray that by virtue of having praised and supplicated you,
    Nguyện nhờ công đức / tán dương, thỉnh Phật,
    བདག་སོགས་གང་དུ་གནས་པའི་ས་ཕྱོགས་སུ། །
    DAK SOK GANG DU NAY PAI SA CHOG SU
    you will pacify all sickness, dons, poverty, strife and warfaire
    con cùng chúng sinh / ở khắp mọi miền / đều thoát tật, dịch
    ནད་གདོན་དབུལ་ཕོངས་འཐབ་རྩོད་ཞི་བ་དང་།  །
    NAY DON UL PONG TAB TSO SHI WA DANG
    in whatever regions we may abide,
    xung đột, chiến tranh / nguyện cho Phật pháp
    ཆོས་དང་བཀྲ་ཤིས་འཕེལ་བར་མཛད་དུ་གསོལ།
    CHO DANG TRA SHI PEL WAR DZE DU SOL.
    and cause Dharma and auspiciousness to florish.
    cùng mọi điềm lành / tràn khắp mọi nơi.

    Hồng Như Thubten Munsel chuyển Việt ngữ
    2016

    Mọi sai sót là của người dịch
    Moi công đức xin hồi hướng vô thượng bồ đề.
  • KINH ĐỊA TẠNG – Thượng nhân Thích Trí Quang dịch giải

    Dịch từ hán văn: Tỷ Kheo Thích Trí Quang

    | Mở Đầu | Chánh Văn | Ghi chú |         

    MỞ ĐẦU

    I. Dẫn Nhập
    II. Địa Tạng Đại Sĩ
    III. Nghi Thức Sám Nguyện Đơn Giản

    I. Dẫn Nhập

    Ghi Sau Khi Duyệt Địa Tạng

    Nếu nói vì sự dấn thân mà được Phật đem chúng ta ký thác, thì đó là sự đặc thù của đức Địa tạng mà Phật tử thì phải học tập.

    Đời Phật có 2 vị đại sĩ quan trọng. Một là đức Từ thị, sẽ thay Phật làm Phật. Hai là đức Địa tạng, thay Phật mà gánh vác chúng sinh.

    Địa tạng đề cao niệm Phật và bất sát, và xếp vào loại bất khả tư nghị cái phước giúp người già, người bịnh và sản phụ. Địa tạng chú trọng cả sinh và chết. Địa tạng rất trọng thị hạnh phúc nhân loại. Địa tạng hay nói Phật giáo, nhưng chữ ấy không có nghĩa tôn giáo của Phật, mà là giáo huấn của Ngài, và cái phước là làm theo giáo huấn ấy.

    Địa tạng nói đến quỉ thần. Quỉ thần thật thì không đáng nói lắm. Hãy nói quỉ thần hình người mặt người. Quỉ thần ác có thiện có. Nhưng con người đa số ác nên quỉ thần ác lộng hành. Vậy đối phó với quỉ thần ác thì phải đừng ác.

    Phật giáo có cái thuyết tam tai – Tam tai là 3 tai nạn đao binh, tật dịch và cơ cẩn, mà tôi đã dịch là chiến tranh, nhiễm độc và nhân mãn. Đó là 3 điều đang là mối lo lớn nhất cho cả thế giới. Trước đây không lâu thì chiến tranh hạt nhân là mối lo lớn nhất, nhưng hiện nay thì mối lo lớn nhất là ô nhiễm môi trường và bùng nổ dân số. Mối lo ô nhiễm môi trường lại có những mối lo liên hệ mà vi khuẩn HIV chỉ là một. Phật giáo không nói tận thế như các tôn giáo khác, nhưng mô tả tam tai thì thật kinh hoàng. Và nói về Địa tạng đại sĩ thì tam tai được nói đến còn hơn nói đến ngũ trược.

    Mồng 8 tháng tư, 2537
    Trí Quang

    *

    Thứ Nhất, Tiểu Dẫn Về Tài Liệu

    1. Kinh này dịch và in năm 2514 (1970) một cách bình thường. Nay được chữa lại khá kỹ dẫu không còn để phần dịch âm.

    2. Tài liệu được sử dụng là Đại tạng kinh bản Đại chính tân tu (ký hiệu là Chính) và Tục tạng kinh bản chữ Vạn (ký hiệu là Vạn).

    3. Nguyên bản căn cứ để chữa là Chính 13/777 – 790. Nguyên bản này không chia 3 cuốn mà chia 2 cuốn thượng hạ. Bản in riêng của Phật giáo Trung hoa cũng được sử dụng. Địa tạng khoa chú (Vạn 35/197-336) lại càng được tham chiếu.

    4. Quan trọng đến nỗi không thể thiếu được trong việc tìm hiểu về đức Địa tạng là kinh Thập luân (Chính 13/721-777). Bản dịch trước của kinh này (Chính 13/681-721) và kinh Chiêm sát (Chính 17/901-910) cũng được tham khảo.

    5. Tài liệu để soạn nghi thức sám nguyện là Tán lễ Địa tạng bồ tát sám nguyện nghi (Vạn 129/68-71), nhưng kinh Thập luân vẫn là tài liệu chính.

    Thứ Hai, Tìm Xét Về Dịch Chủ

    Về dịch giả kinh Địa tạng, có thể có 3 thuyết. Thứ nhất, tôi nhớ khi nhỏ có thấy 1 bản ghi ngài Pháp cự dịch. Thứ hai, 1 bản dịch ghi là ngài Pháp đăng. Thứ ba, nhiều bản ghi là ngài Thật xoa nan đà.

    Về ngài Pháp cự, niên đại dịch kinh là 290-306 (Chính 98/678). Xuất xứ này cũng ghi dịch phẩm của ngài, như những xuất xứ khác. Trong những dịch phẩm được ghi, không có kinh Địa tạng. Nhưng trong Chính 49/61, cũng như mấy xuất xứ nữa, ghi dịch phẩm của ngài có 132 bộ 142 cuốn ẫ mà không bản mục lục nào ghi được đầy đủ. Như vậy không rõ trong đó có kinh Địa tạng mà thất lạc, hay không?

    Về ngài Pháp đăng, không thể tìm thấy tên, nên không thể nói gì được.

    Về ngài Thật xoa nan đà, niên đại dịch kinh là 695-704 (Chính 98/668). Có đến 5 xuất xứ ghi ngài là dịch giả kinh Địa tạng: Chính 13/777, Vạn 35/220A, Chính 99/346, Chính 99/376, và Chính 100/1010.

    Phần tôi, sau khi tra cứu gần hết sử truyện và mục lục, ghi lại như trên đây. Nhưng thấy vấn đề dịch giả kinh Địa tạng vẫn bất ổn. Tôi lại không có 1 bản giảng giải mới nào, nên không biết có sự tra cứu nào đáng kể không. Riêng ngài Thái hư thì cũng cho dịch giả kinh Địa tạng là ngài Thật xoa nan đà (Thái hư toàn thư, 29/2470).

    Thứ Ba, Khái Lược Về Nội Dung

    Như vừa nói, nguyên bản kinh này chia 2 cuốn: cuốn thượng có các phẩm 1-6, cuốn hạ có các phẩm 7-13. Xét ra chia như vậy mới có nghĩa. Chia 3 cuốn thượng trung hạ chỉ để trì tụng cho thích hợp thì gian mà thôi. Kinh này cốt nói đại nguyện đại lực của Địa tạng đại sĩ. Cuốn thượng kể như là phần chính thuyết, nói đại lược đã đủ, và cuối phẩm 6 đã kết thúc bằng sự đặt tên kinh. Còn cuốn hạ kể như là phần bổ túc, bổ túc một số chi tiết. Nay tóm lược tất cả dưới đây.

    Phần Chính Thuyết

    Phẩm 1: Thần thông tại cung Đao lợi.- Sát với chính văn thì phải dịch là thần thông tại cung trời Đao lợi. Cung trời Đao lợi là Thiện pháp đường, tức giảng đường của Đế thích, và là chỗ Phật thuyết pháp cho mẹ, trong pháp được thuyết có kinh Địa tạng. Thần thông là đại bộ phận của thần lực và nhiều lúc cũng gọi là thần lực. Vã lại chữ thần lực đủ và sát với phẩm này, nên phải đổi ra. Xét thần lực của phẩm này nói thì thấy có 3. Một, thần lực không nói mà thấy rõ, đó là biến cung Đao lợi vốn rất lớn và trang nghiêm lại càng lớn và trang nghiêm vô tận (như Bồ đề tràng trong Hoa nghiêm). Hai, thần lực ánh sáng và âm thanh mà Phật biểu hiện ở cung Đao lợi (như phóng quang và thần lực trong Pháp hoa). Ba, thần lực hóa độ và tác thành của đức Địa tạng mà tại cung Đao lợi Phật đã đề cao. Chính yếu của phẩm này là 2 thần lực sau. Ngoài 3 thần lực này, phẩm này cốt nói đại nguyện của đức Địa tạng, đại nguyện ấy cũng là một thần lực, mà là thần lực quan trọng.

    Phẩm 2: Thân phân hóa qui tụ lại.- Phân thân là phương tiện quan trọng nhất trong những phương tiện mà đức Địa tạng đã vận dụng để giải thoát cho bao kẻ tội khổ như đại nguyện mà phẩm 1 đã nói. Cũng chính vì đại nguyện nghiêng nặng về bao kẻ tội khổ, nên phân thân mà phẩm này nói đã nhấn mạnh phân thân ở địa ngục. Nhưng phân thân của đức Địa tạng, theo kinh Thập luân thì đếm được 42 loại (Chính 13/725), còn kinh này có 20 loại, của Phật nhưng là điển hình cho các vị đại sĩ. Phân thân như vậy có 2 loại lớn là hữu tình và vô tình. Trong loại vô tình, kinh Thập luân chỉ nói” hiện những cảnh đẹp cho người vui thích”, còn kinh này nói rõ hơn: hiện ra làm núi rừng, dòng nước, đồng bằng, sông ngòi, ao hồ, suối giếng. Nói rõ mà không đủ, vì ngoài núi rừng và đồng bằng, chỉ nói toàn nước — Nói như vậy cũng không lạ, nếu ta biết đến vấn đề nước ở cái xứ nóng như Ấn độ. Nhưng phải nói như chính đức Địa tạng đã nói mới rõ và đủ hơn, dầu vắn tắt hơn, rằng thân đức Địa tạng là thân không biên cương, rằng tại mỗi thế giới hệ, ngài phân hóa trăm ngàn vạn ức thân hình. Và phân hóa thân hình là để thuyết pháp. Nhưng thuyết pháp ở đây không phải chỉ có một cách nói bằng lời, mà nói bằng nhiều cách: cách nào mà lợi người là thuyết pháp cả. Nên cảnh vật làm người vui thích, làm người được ích lợi, thì đó chính là sự thuyết pháp, là sự độ thoát. Đừng hiểu rằng hiện cảnh vật ích lợi mọi người để rồi sau đó thuyết pháp độ thoát cho họ. Mặt khác, vì đại nguyện và sự phân thân như vậy, nên trong phẩm này đức Địa tạng được đức Thế tôn đem chúng sinh, trong đó có chúng ta, ký thác cho ngài.

    Phẩm 3: Quán sát nghiệp quả chúng sinh.- Nghiệp quả, hay nghiệp cảm, là hành vi và kết quả của hành vi. Nói quán sát nghiệp quả của chúng sinh, nhưng thật ra phẩm này lấy người Diêm phù chúng ta làm điển hình mà nói. Vì đại nguyện của đức Địa tạng chú trọng chúng sinh tội khổ, nên phân thân của ngài đã nhấn mạnh phân thân địa ngục, và bây giờ nói quán sát nghiệp quả, nhưng thật ra chỉ quán sát nghiệp quả địa ngục  đặc biệt địa ngục vô gián, nơi nghiệp dữ nhất và quả khổ nhất. Điều rất đáng tiếc là trong phần nói về nghiệp dữ nhất ấy đã không nói đến nghiệp dữ hơn hết, ấy là những chủ thuyết độc hại nhân loại mà chữ tà kiến hay ác kiến không diễn đạt hết được. Phản bội Phật pháp, đi theo các chủ thuyết ấy, cũng là nghiệp dữ nhất mà kinh này đã không nói đến.

    Phẩm 4: Nghiệp quả của người Diêm phù.- Phẩm này tiếp tục phẩm trước, lấy người Diêm phù chúng ta làm điển hình mà nói về nghiệp quả của chúng sinh, nhưng nói rộng hơn: Một, về nghiệp quả, không phải chỉ nói nghiệp quả vô gián, nhưng vẫn chú trọng nghiệp quả đường dữ. Hai, nói về đại thệ (lời thề thực hiện đại nguyện) của đức Địa tạng. Ba, nói về cách giải thoát nghiệp quả cho chúng sinh của đức Địa tạng; trong cách này, ở đây đưa ra cách nói về nhân quả, nhưng chữ nói ấy không phải chỉ là nói, khuyên và răn, mà là nói bằng sự “vận dụng hàng trăm hàng ngàn phương tiện”. Hai phần đại thệ và cách nói như vậy là vài phương tiện của đức Địa Tạng.

    Phẩm 5: Danh xưng địa ngục.- Danh xưng địa ngục là tên của các địa ngục. Chính tên của mỗi địa ngục biểu thị hình cụ và cực hình của địa ngục ấy. Phẩm này chỉ bổ túc cho phẩm 4, nói về các địa ngục, nơi nghiệp dữ phải chịu quả báo, sau khi chịu hoa báo và trước khi chịu dư báo. Nhưng đến đây, sau 3 phẩm 3, 4 và 5 nói về nghiệp quả, những điểm chính yếu sau đây phải được nhận rõ: địa ngục thật khổ, và ai làm nghiệp dữ thì người ấy tự chịu, chứ không ai có thể chịu thay cho; như vậy địa ngục là thật, nếu thật có nghiệp dữ; nhưng cũng không thật, nếu nghiệp dữ không có hay có mà được trừ bỏ; sự trừ bỏ cũng vẫn có thể hy vọng, nếu biết qui y đức Địa tạng và làm theo kinh này chỉ dẫn; và đức Địa tạng trừ bỏ cứu vớt cho cũng không phải chỉ trừ bỏ cứu vớt nơi cái nhân mà còn ngay nơi cái quả: Đó là sự đặc biệt, bất khả tư nghị của đức Địa tạng và kinh Địa tạng.

    Phẩm 6: Thế tôn tuyên dương.- Các phẩm trước đã nói về thệ nguyện, phương tiện và sở độ của đức Địa tạng, phẩm này nói về sự ích lợi nhân thiên của ngài. Ích lợi nhân thiên là đem lại cho nhân thiên và mọi loài sự ích lợi mà phần chính là ở chính trong nhân thiên. Sự ích lợi ấy gọi là sự yên vui tuyệt diệu (thắng diệu lạc). Sự ích lợi ấy ích lợi cả nhân và quả, cả hiện tại và vị lai. Ích lợi này còn được nói đến trong phẩm 12 và rải rác ở các phẩm khác. Và, như đã nói, đến đây kể như đã lược đủ về đại nguyện và đại lực của đức Địa tạng, nên Phật đặt tên cho kinh này, tên ấy biểu thị đại nguyện và đại lực đã nói.

    Phần Bổ Túc

    Phẩm 7: Lợi ích người còn kẻ mất.- Phẩm này bổ túc cho chi tiết ích lợi kẻ mất: làm cách nào để kẻ mất được ích lợi mà người còn cũng được. Trong cách ấy, hại nhất cho kẻ mất, cái hại phải cố mà tránh, ấy là sự sát sinh cúng tế.

    Phẩm 8: Chúa tôi Diêm la xưng tụng.- Diêm la là Diêm la thiên tử, cũng gọi là Diêm vương, thuộc loài quỷ, thống lãnh quỉ chúng và tổng quản địa ngục. Phẩm này bổ túc những chi tiết sau đây: Thứ nhất, bổ túc sự đại tinh tiến, cứu độ không chán mệt của đại nguyện đức Địa tạng. Thứ hai, bổ túc uy thần của đức Địa tạng đối với thế giới quỉ — thế giới rất mạnh và đa dạng, mạnh nên gây họa mạnh bao nhiêu thì giúp phước cũng mạnh bấy nhiêu, khi có uy thần của đức Địa tạng. Thứ ba, bổ túc ích lợi khi chết, nhất là lúc sinh. Trong chi tiết này có vài chi tiết nhỏ: Một, lúc sinh không được sát sinh tiệc tùng (phẩm trước mới nói khi chết không được sát sinh cúng tế); còn khi chết thì phẩm này nói đến một trong những cái gọi là “cách ấm mê”: sự bị mê hoặc dẫn dụ khi chết. Hai, chúa quỉ Chủ sinh mạng, vị bổ túc chi tiết thứ ba này được Phật gọi là một vị đại bồ tát và thọ ký cho: quan trọng biết bao. Điều cần phải đặc biệt nói thêm, là kinh này hết sức răn việc sát sinh (để cúng tế khi chết và tiệc tùng lúc sinh), coi việc sát sinh cùng loại với tội vô gián (chính văn : … ngoại trừ 5 thứ nghiệp dữ vô gián với nghiệp dữ sát sinh, còn những nghiệp dữ tương đối nhỏ hơn…).

    Phẩm 9: Xưng tụng danh hiệu chư Phật.- Phẩm này bổ túc chi tiết nghe hay niệm danh hiệu Phật đà. Điều cần ghi chú, là mục đích bổ túc, cũng như lời kết thúc, tuy có vẻ nhấn mạnh giành cho sự chết — sắp chết, chết, sau khi chết; nhưng, những hiệu năng của mỗi hiệu Phật được nói đến lại không phải chỉ như vậy. Vậy mới biết, khi sắp chết, cái an ủi người chết, cái để cho người chết bám víu là danh hiệu của Phật, nhưng danh hiệu ấy cũng là, trước hết đã là, cái cho người sống bám víu, và từ đó thấy rõ cái phước được biết Phật và được niệm Phật cần thiết đến mức nào trong đời sống.

    Phẩm 10: Trắc lượng công đức bố thí.- Phẩm này bổ túc nhân tố thánh thiện, đặc biệt còn chỉ cách biến nhân tố ấy từ hữu lậu thành vô lậu.

    Phẩm 11: Thần đất hộ trì.- Phẩm này bổ túc chi tiết phụng thờ đức Địa tạng. Cách thức và ích lợi của sự phụng thờ ấy, phẩm này nói rõ. Trong phần ích lợi, sự đất đai được màu mỡ (thứ 1) và hay gặp dịp làm phước (thứ 10) đã đáng chú ý, nhưng đáng chú ý hơn nữa là ở phẩm này người nói về đức Địa tạng là một vị Địa thần: 2 chữ Địa như vậy không phải ngẫu nhiên mà trùng hợp.

    Phẩm 12: Ích lợi của sự thấy nghe.- Thấy nghe là thấy hình tượng hay nghe danh hiệu của đức Địa tạng. Ích lợi của sự thấy nghe như vậy là bổ túc cho sự ích lợi nhân thiên của đức Địa tạng. Trước khi nói ích lợi ấy, Phật phóng ánh sáng đặc biệt, và vị phát khởi là chính đức Quan âm: như thế cũng đủ thấy sự ích lợi ấy bất khả tư nghị đến mức nào. Nên sự ích lợi nhân thiên chính là sự bất khả tư nghị: siêu việt và khác thường, tư tưởng và ngôn ngữ bình thường không thể tư duy và mô tả sự ích lợi ấy, nhất là tư duy mô tả theo cách thức bình thường.

    Phẩm 13: Thế tôn ký thác.- Chính văn là chúc lụy nhân thiên: đem nhân loại và chư thiên, và bao chúng sinh tội khổ mà chúc lụy. Chúc, hay phó chúc, là giao phó, căn dặn. Lụy là mối lụy, trách nhiệm nặng nề. Chúc lụy là căn dặn mà giao phó trách nhiệm nặng nề. Nên tôi đổi ra chữ ký thác cho dễ hiểu. Nội dung phẩm này tổng kết sự ích lợi bất khả tư nghị của đức Địa tạng, nhưng quan trọng nhất là một lần nữa Phật lại đem chúng ta và chúng sinh ký thác cho ngài. Sự ký thác này thật đặc biệt: một là chỉ ký thác cho ngài, hai là chỉ kinh này có sự ký thác như vậy. Ngay như kinh Pháp hoa, sự ký thác ở đó cũng không như ở đây.

    *

    II. Địa Tạng Đại Sĩ

    Tài liệu ghi về đại sĩ dưới đây toàn xuất từ kinh Thập luân. Cách ghi thì phần nhiều lược văn mà không lược ý, nhưng cũng có chỗ dẫn dụng chính văn. Chỗ nào dẫn kinh điển khác thì ghi tên rõ ràng.

    1. Danh hiệu của đức Địa tạng.- Theo nghĩa đen, địa là đất, tạng là kho tàng: kho tàng đất, gọi là Địa tạng. Nếu đọc Địa tàng thì lại có nghĩa sự tàng trữ của đất. Nhưng nghĩa chính thì nên lấy cách đọc Địa tạng. Đại nhật kinh sớ nói Điạ tạng bồ tát chủ trì kho báu vô biên công đức phát khởi từ bản tánh của tâm địa. Định nghĩa này biến thành định nghĩa mà khoa nghi thường nói “khể thủ bản nhiên tịnh tâm địa, vô tận phật tạng đại từ tôn”. Còn 1 bài tựa của Địa tạng khoa chú (Vạn 35/206A) dẫn lời Phật nói dũng mãnh là Địa tạng. Lời này không thấy ghi xuất xứ, nhưng rất đúng với đại thệ nguyện và đại tinh tiến của đức Điạ tạng phân thân vào trong các đường dữ, nhất là vào trong địa ngục. Còn kinh Thập luân, khi tả đức tính của ngài về lục độ, có nói nhẫn thì vững như cõi đất to lớn, định thì sâu như kho tàng bí mật. Lời này thành định nghĩa của Phật học đại từ điển. Thế nhưng các định nghĩa ấy không bằng chính văn sau đây. “Vị đại sĩ này, bằng định lực, làm cho tất cả trái hạt phong phú. Tại sao, vì vị đại sĩ này đã qua vô số kiếp, nơi vô số Phật, phát cái nguyện cực kỳ tinh tiến và kiên cố; do năng lực của nguyện ấy, để hóa độ chúng sinh, ngài giữ gìn tất cả đất đai và mầm giống cho chúng sinh tùy ý hưởng dụng. Chính năng lực của ngài đã làm cho cả cõi đất to lớn này cỏ cây rau lá sinh trưởng tốt tươi, thóc lúa hoa quả đầy đủ chất lượng”. Lời này cho thấy Địa tạng là kho đất, là nghĩa đen thật sự. Và việc này rất liên hê đến sự tồn tại của Phật pháp, liên hệ một cách đặc biệt. “Địa tạng đại sĩ bạch đức Thế tôn, con nguyện tế độ tất cả bốn chúng đệ tử của đức Thế tôn. Con làm tăng trưởng hết thảy bạch pháp giải thoát, tăng trưởng cây trái thực phẩm và dược liệu, tăng trưởng đất nước gió lửa, nói tóm, con làm cho dòng giống Tam bảo trường tồn, rực rỡ và uy đức … Đức Thế tôn nói, Địa tạng đại sĩ làm được như vậy là vì đại sĩ đã được tuệ giác Bát nhã sâu xa, nắm chắc tính chất đối kháng và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sinh diệt của đất nước gió lửa”.

    Tư tưởng hệ Phật giáo về con người và thế giới con người không phải chỉ có một mặt: có mặt do phước báo mà có, đó là nhân quả dị thục; có mặt do nhân lực mới thành, đó là nhân quả sĩ dụng; nhưng còn mặt nữa, đó là thần lực của chư Phật chư đại bồ tát. Thần lực ấy thấy rõ nhất nơi Địa tạng đại sĩ, nên trong kinh đã dẫn, đức Thế tôn đề cao như sau, “giả sử có người đối với vô số đại bồ tát trì niệm và hiến cúng cả trăm kiếp, không bằng có người trong thì gian một bữa ăn chí tâm qui y, lễ bái, trì niệm và hiến cúng Địa tạng, vị đại sĩ có đại bi nguyện và đại tinh tiến quá hơn các vị bồ tát”.

    Đến đây thì đã thấy khi xưng niệm ngài, nên thay những chữ thừa mà thiếu là đại bi đại nguyện đại thánh đại từ bằng những chữ đại bi đại nguyện đại định đại lực, đã thấy ngài là vị minh dương cứu khổ chứ không phải chỉ là u minh giáo chủ, đã thấy trì niệm ngài không phải chỉ để cầu siêu. Những điều này, dưới đây sẽ còn thấy rõ hơn nữa.

    Trên đây là định nghĩa chính về danh hiệu của Địa tạng đại sĩ. Phần tôi, căn cứ tinh thần kinh Địa tạng, nhất là căn cứ câu “tất cả thân hình của Điạ tạng đại sĩ phân hóa tại các địa ngục của các thế giới hệ” trong phẩm 2, tôi lại muốn định nghĩa đơn giản, rằng Địa tạng là tàng hình trong điạ ngục. Tôi nói muốn định nghĩa như vậy, không nói đó là định nghĩa. Tuy nhiên, tôi thấy như vậy lại rất thâm thiết đối với hạnh nguyện của Địa tạng đại sĩ. Sau này có dịp được thấy Thái hư đại sư đã có ý kiến đó (Thái hư toàn thư tập 29 trang 2468).

    2. Hình tượng của đức Địa tạng.- Địa tạng đại sĩ đến với Phật từ phương nam, bằng hình tướng Thanh văn, tức hình tướng xuất gia. Hình tướng ấy vừa tiêu biểu vừa hộ trì cho Tăng bảo và sự giải thoát của toàn bộ Phật pháp. Thị hiện hình tướng ấy, có nghĩa như Phật nói, “chỉ có chư Phật thế tôn và bồ tát đại sĩ mới hộ trì được 2 việc: hộ trì người xuất gia vì muốn tiếp nối dòng giống Tam bảo và hộ trì chánh pháp thuận với sự giải thoát của cả Tam thừa. Thế quyền không làm được việc ấy; đừng rình sơ hở mà hại đệ tử và chánh pháp của ta”.

    Quốc độ này Tăng bảo là người xuất gia. Muốn làm cho Phật pháp tồn tại thì phải ái hộ người xuất gia. Ái hộ người xuất gia, trước hết và căn bản, là ái hộ giới pháp. “Người xuất gia dẫu tàn tệ đến nỗi chỉ là cái thây chết phá giới, không giới, sẽ đọa ác đạo, nhưng vẫn làm thiện tri thức cho nhân thiên ở chỗ có thể tuyên thuyết Phật pháp cho họ, lại vì có hình tướng và uy nghi của người xuất gia nên làm cho mọi người phát sinh cảm nghĩ quí báu”. Do đó, Phật không chấp nhận họ là đệ tử, nhưng cũng không chấp nhận thế quyền xúc phạm đến họ. Phật chỉ chấp nhận sự trừng trị theo giới luật của Tăng chúng thanh tịnh.

    Ái hộ người xuất gia là, kế đó, ái hộ sự giải thoát và chánh pháp đem lại sự giải thoát ấy. Chánh pháp giải thoát là cọng tướng của toàn bộ Phật pháp gồm cả thanh văn tiểu thừa và vô thượng đại thừa, tuy nhiên, chánh pháp ấy căn bản vẫn là thanh văn tiểu thừa. “Như vậy những kẻ tự xưng đại thừa, khinh miệt và cản trở sự truyền bá tiểu thừa, những kẻ không tin, phỉ báng và cản trở cả tiểu thừa đại thừa, tất cả những kẻ này không được xuất gia, xuất gia rồi phải đuổi gấp, vì họ mới thật là kẻ đại tội ác gần với tội ác vô gián”. “Đừng vì lợi và danh mà lừa đảo thế gian, tự xưng đại thừa, phỉ báng tiểu thừa. Làm như vậy thì họ không còn là đồ chứa đựng chánh pháp, dầu là chánh pháp tiểu thừa hay chánh pháp đại thừa”. Nên đối với những kẻ phá hoại này Phật nghiêm khắc hơn cả với kẻ phá giới. Ngài đã biết trước và dạy thi hành sự bất cọng trú đối với họ: “Tăng chúng thanh tịnh và hòa hợp trục xuất rồi mà họ dùng tiền của, học thức, khéo miệng và mưu mô, làm cho thế quyền đứng về phía họ, buộc Tăng chúng thanh tịnh phải để họ ở chung như cũ, thì trong Tăng chúng những vị tỷ kheo giữ giới và hổ thẹn, hãy vì hộ trì giới pháp mà trình bày rõ ràng với thế quyền, đừng giận dữ thóa mạ những kẻ phá pháp ấy. Nếu thấy trình bày mà bị đàn áp, thì nên bỏ chỗ ấy mà đi ở chỗ khác”.

    Ái hộ người xuất gia không phải chỉ ái hộ giới luật thanh tịnh và chánh pháp giải thoát, Địa tạng đại sĩ còn ái hộ bằng sự làm tăng thêm tư cụ để người xuất gia sống mà giữ giới, mà tu bạch pháp giải thoát, mà, nói tóm, tiếp nối dòng giống Tam bảo. Nên như đã thấy, “Địa tạng đại sĩ bạch đức Thế tôn, con nguyên tế độ tất cả 4 chúng đệ tự của đức Thế tôn. Con làm tăng trưởng hết thảy bạch pháp giải thoát, tăng trưởng cây trái thực phẩm và dược liêu, tăng trưởng đất nước gió lửa, nói tóm, con làm cho dòng giống Tam bảo trường tồn, rực rỡ và uy đức”.

    Với sự tiêu biểu và hộ trì người xuất gia như trên đây, hình tướng xuất gia của đức Địa tạng đã thành vấn đề, và là vấn đề trọng đại, là phải.

    3. Đại nguyện của đức Địa tạng.- Kinh đã dẫn tả đại nguyên này bằng những từ ngữ như sau. “Vị đại sĩ này có vô số những sự bất khả tư nghị, ích lợi chúng sinh một cách cần mẫn tinh tiến, là vì đối trước hằng sa chư Phật, để ích lợi chúng sinh, ngài đã phát khởi thệ nguyện đại từ bi, rất kiên cố, khó phá hoại, rất dũng mãnh, rất tinh tiến và vô cùng tận; do năng lực tăng thượng của thệ nguyện ấy mà trong mỗi thì gian bằng một ngày đêm hay một bữa ăn, ngài cứu độ được vô lượng chúng sinh, làm cho những sở cầu đúng như chánh pháp của họ đều thỏa mãn cả”.

    4. Phân thân của đức Địa tạng.- Kinh đã dẫn nói, “Vị đại sĩ này, bằng vào những sự bất khả tư nghị đã hoàn thành, vào sự dũng mãnh tinh tiến của thệ nguyện kiến cố, để cứu độ chúng sinh, khắp trong thế giới hệ mười phương, ngài thị hiện đủ mọi thân hình”. Thân hình mà ngài thị hiện, không những đủ loài, đủ hạng trong mỗi loài, đủ từ thân Phật đà đến thân địa ngục, mà quan trọng và đặc biệt, còn “hiện những cảnh đẹp cho người vui thích”. Nhưng câu này phải nói như kinh Địa tạng mới rõ: thân của Địa tạng đại sĩ là thân không biên cương. Phẩm 2 của kinh ấy nói về sự phân thân của Phật, điển hình cho sự phân thân của chư Phật và đại bồ tát, lại nói, “hoặc hiện rừng núi, dòng nước, đồng bằng, sông ngòi, ao hồ, suối giếng, ích lợi khắp cả mọi người, ai cũng được độ thoát”. Chính văn câu này như sau, “hoặc hiện sơn, lâm, xuyên, nguyên, hà, trì, tuyền, tỉnh, lợi cập ư nhân, tất giai độ thoát”. Trước đây tôi đã chuyển văn một chút mà dịch như sau, “hoặc hiện núi sông, bình nguyên, ao hồ, suối giếng, ích lợi khắp cả, toàn là tác dụng hóa độ”. Chưa có kinh điển nào nói minh bạch được như vậy, dẫu rằng trong cách nói cũng có thể làm cho ta hiểu rằng sự phân thân của chư Phật và đại bồ tát là như thế đó, không phải chỉ có những thân hình như chúng ta hiểu theo nghĩa của chúng ta.

    5. Định lực của đức Địa tạng.- Kinh đã dẫn nói, tại bất cứ thế giới hệ nào, Địa tạng đại sĩ cũng nhập các định, hoạt hiện vô biên diệu dụng, hóa độ vô lượng chúng sinh. Sau khi kể rõ 23 định (2) , nhập định nào có lực dụng gì, kinh đã dẫn nói, “nói tổng quát, vị đại sĩ này, hằng ngày mỗi buổi sáng sớm, vì cứu độ chúng sinh nên nhập vô số định. Định lực ấy tùy sở ưng mà ích lợi chúng sinh trong mọi thế giới hệ”, “đặc biệt là trong giai đoạn ngũ trược và những thế giới hệ không có Phật xuất hiện”.

    6. Sở độ của đức Địa tạng.- Như lời kinh đã dẫn trên đây, đối tượng sở độ của Địa tạng đại sĩ có 3. Thứ nhất, nói tổng quát là chúng sinh trong hết thảy quốc độ và thì gian. Thứ hai, nói đặc biệt lại có 3, là chúng sinh ở những quốc độ không có Phật, ở những quốc độ có Phật nhưng thuộc giai đoạn ngũ trược (và dẫn đếm tam tai) và thuộc giai đoạn cách hở giữa 2 đức Phật (mà Phật pháp không còn). Thứ ba, nói thiết cận là châu Diêm phù, tức loài người chúng ta đây, và theo kinh Địa tạng thì quan trọng là chúng sinh tội khổ trong các ác đạo, nhất là ác đạo địa ngục, của châu Diêm phù. Do đó, Phật nói, Địa tạng đại sĩ ứng hiện khắp nơi, nhưng nghiêng nặng đối với giai đoạn dữ dội (Chiêm sát, Chính 17/902). Chính đại sĩ thì ngài nói, đã 13 đại kiếp đến nay, ngài nỗ lực cực nhọc loại trừ ngũ trược và tam tai cho chúng sinh. Còn kinh Địa tạng thì nói đi lặp lại, rằng đối với châu Diêm phù, ngài có một sự liên hệ lớn lao.

    Vì châu Diêm phù, và giai đoạn ngũ trược dẫn đến tam tai (3) , là đối tượng sở độ đặc biệt của Địa tạng đại sĩ, nên ở đây phải nói sơ lược.

    Như đã nói, Diêm phù là thế giới loài người chúng ta đây. Thế giới ấy là 1 trong 1 tỷ thành phần của thế giới hệ Sa bà. Đại bộ phận thế giới hệ này, cũng như các thế giới hệ tương tự, có như nhau một quá trình là thành: kết thành, trú: tồn tại, hoại: hư rã, không: tan biến. Nhưng không rồi lại thành, lại trú, lại hoại, lại không, luân chuyển như thế chứ không mất hẳn. Mỗi thời kỳ thành trú hoại không đều có thì gian như nhau, nhưng chỉ thời kỳ trú mới có chúng sinh sinh sống, chúng sinh mà trong đó loài người là đại bộ phận. Thời kỳ trú có 20 tăng giảm. Thời kỳ thành rồi thì có người sinh sống, và sống rất lâu, ấy là tăng; sau đó con người vì phát sinh ngũ trược mà sự sống giảm dần, giảm đến trung bình không quá trăm tuổi là ngũ trược tăng thì, và rồi sẽ giảm dần nữa cho đến dẫn ra tam tai, ấy là giảm. Tam tai là đao binh, tật dịch, cơ cẩn (chiến tranh, nhiễm độc, nhân mãn). Sau tam tai, con người sống sót rất ít, mới biết khủng khiếp và thương nhau, loài người lại phồn thịnh, trong đó có sự sống lâu tăng dần, nhờ sự thương nhau đó, đó lại là tăng. Và cứ như thế mà tăng rồi giảm, giảm lại tăng. Hiện nay là ngũ trược tăng thì của thời kỳ giảm thứ 9 trong 20 thời kỳ tăng giảm của thời kỳ trú. Như vậy thì trước nữa và sau nữa còn có vô tận những giai đoạn ngũ trược và tam tai. Trong ngũ trược, nhất là trong tam tai, Địa tạng đại sĩ cứu độ bằng định lực. Nguyên nhân chính của tam tai là sự tàn hại lẫn nhau, nên từ tâm thương nhau là nguyên nhân chính kết thúc tam tai. Do đó mà trong tam tai, ai tu từ tâm thì khỏi. Mà một trong vô số hiệu năng định lực của đức Địa tạng là làm cho con người “bỏ được tâm lý độc hại mà hướng về nhau bằng từ tâm”.

    7. Phó cảm của đức Địa tạng.- Diệu dụng của Địa tạng đại sĩ là như thế, như một ít điều đã ghi trên đây. Diệu dụng ấy, như vậy, toàn là để thỏa mãn mọi sự sở cầu, miễn mọi sự sở cầu ấy là “như pháp sở cầu” và xuất từ “chí tâm xưng niệm”, đó là 2 từ ngữ mà kinh Thập luân đã dẫn luôn luôn nói đến.

    —o0o—

    Địa Tạng Đại Sĩ và Kinh Địa Tạng

    Bây giờ hãy nói vắn tắt về nội dung kinh Địa tạng và đức Địa tạng qua kinh này.

    Kinh này được gọi là hiếu kinh của Phật giáo. Hiếu niệm của Phật giáo, chỉ cần nói, theo Bồ tát giới Phạn võng, cái tội nặng nhất là phải sinh ở những chỗ không được nghe cái tên Cha mẹ hay Phật pháp tăng, cũng đủ để ý thức. Gọi là hiếu kinh của Phật giáo, vì kinh này có nội dung sau đây.

    Thứ nhất, kể lại hiếu hạnh của Địa tạng đại sĩ mà đại nguyện của ngài đã xuất phát từ hiếu hạnh ấy và hoàn thành hiếu hạnh ấy. Đại nguyện của Địa tạng đại sĩ đại khái có 2 cách nhìn: một, căn bản là “chúng sinh độ tận phương chứng bồ đề, địa ngục vị không thệ bất thành Phật”; hai, tùy thời, tùy căn và tùy cảnh, còn có những lời thề để thực hiện đại nguyện căn bản trên đây. Đối tượng của đại nguyện Địa tạng đại sĩ đương nhiên vô giới hạn, nhưng đặc biệt là chúng sinh tội khổ trong tam đồ, nhất là trong địa ngục; là người Diêm phù; và như đã nói, còn có những kẻ ở các thế giới hệ không Phật, hay có Phật mà thuộc giai đoạn ngũ trược, giai đoạn tam tai, và thời kỳ cách hở giữa 2 đức Phật.

    Thứ hai, tóm tắt những ích lợi, những sự bất khả tư nghị của đại nguyện Địa tạng đại sĩ đem lại cho chúng sinh. Đại nguyện Địa tạng đại sĩ thể hiện qua danh hiệu, hình tượng và kinh điển (kinh Địa tạng) của ngài. Nên 3 pháp hạnh trì niệm danh hiệu, chiêm bái hình tượng và trì tụng kinh điển chính là trì niệm, chiêm bái và trì tụng đại nguyện của Địa tạng đại sĩ, và những sở cầu mà trong kinh nói rõ, sẽ được đại nguyện ấy làm cho như ý. Đặc biệt chữ sinh tử trong kinh này nói, ngoài cái nghĩa tổng quát như bao nhiêu kinh điển khác, còn có cái nghĩa rõ nhất là lúc sinh lúc chết, khi còn khi mất. Kinh này dạy rõ thực hành như thế nào về 3 pháp hạnh thì tiếp nhận được những gì về ích lợi mà đại nguyện Địa tạng đại sĩ đem lại cho, trong lúc sinh lúc chết và người còn kẻ mất. Do đó, khi cha mẹ hay thân nhân đau ốm, khi sắp chết, khi chết và sau khi chết, kinh này kể rõ đại nguyện Địa tạng đại sĩ tác thành hiếu niệm cho những người con hiếu hạnh như thế nào, và dạy rõ cách thức mà những người con hiếu hạnh có thể làm được để tiếp nhận sự tác thành ấy. Đó là đối với lúc chết và người mất. Đối với lúc sinh và người còn, kinh này càng rất quan tâm, bằng cách răn sự sát sinh, đề cao sự giúp đỡ sản phụ, bịnh nhân và người già, lại chỉ dạy những sự cần thiết, chỉ dạy cũng với thái độ nghiêm trọng.

    Thứ ba, có một chi tiết quan trọng là kinh này rất trọng thắng diệu lạc (sự yên vui tuyệt diệu) ở trong nhân loại và chư thiên. Giải thoát, theo kinh này, là giải thoát ác đạo (nhất là địa ngục) và giải thoát luân hồi. Con cá sa vào dòng nước có lưới, thì thoát là thoát lưới và thoát cả dòng nước. Chỉ thoát lưới là thoát tạm, thoát rồi cũng có thể mắc lại. Phải giải thoát cả lục đạo luân hồi mới là giải thoát vĩnh viễn, nếu chỉ giải thoát ác đạo thì thoát rồi cũng có thể đọa lại. Lý lẽ là như vậy, nhưng cấp bách nhất vẫn là sự giải thoát ác đạo mà sinh lên nhân thiên, hưởng thắng diệu lạc. Đó là điều kinh này đặc biệt quan tâm. Điều ấy rất phù hợp với thái độ của Phật nói trước về giới luận và thí luận mỗi khi thuyết pháp cho người mới đến.

    Thứ tư, việc cảm động nhất và nổi nhất của kinh này là do những điều trên, nhất là do đại nguyện, mà Địa tạng đại sĩ được Phật đem chúng sinh tội khổ ký thác cho. Không những như vậy, sự ký thác này, và kinh đại nguyện này của Địa tạng đại sĩ, được Phật thực hiện và tuyên thuyết khi ngài lên Đao lợi thuyết pháp cho mẹ, trước ngày nhập niết bàn. Như vậy, chính việc đem chúng sinh ký thác cho Địa tạng đại sĩ, và việc nói về đại nguyện của Địa tạng đại sĩ, là việc báo hiếu của Phật, đối với mẹ và đối với chúng sinh. Quan trọng biết bao! Kinh này phổ cập sâu rộng, chính là vì điều này đây.

    Với nội dung trên đây, trọng tâm kinh Địa tạng là nói về đại nguyện của Địa tạng đại sĩ, nên Phật đã mệnh danh là kinh bản nguyện, và dạy thọ trì cùng truyền bá theo đại nguyện ấy. Mặt khác, kinh này nói giản dị, sự việc cần thiết và gần gũi lòng người, nhưng hạnh nguyện là hạnh nguyện thượng thừa, và triết thuyết thì cực kỳ viên đốn khi minh bạch nói rằng cảnh vật cũng là hóa thân và toàn là tác dụng hóa độ. Cảm kích nhất vẫn là việc kinh này được Phật nói lúc ngài thuyết pháp cho mẹ để nhập niết bàn, lại nói về đại nguyện của một vị đại sĩ như đức Địa tạng, và thiết tha đem chúng ta ký thác cho đại sĩ. Như vậy, qua kinh Địa tạng, đức Địa tạng mới thật bất khả tư nghị.


    III. Nghi Thức Sám Nguyện Đơn Giản

    Trước Khi Trì Tụng Kinh Địa Tạng

    1. Phụng thỉnh qui y

    Nhất tâm phụng thỉnh và qui y đức Phật bổn sư Thích ca mâu ni như lai, đức Phật đương lai Di lạc như lai, cùng Phật, Phật pháp và Tỷ kheo tăng khắp cả pháp giới.

    Nhất tâm phụng thỉnh và qui y đức Phật bổn tôn A di đà như lai, cùng Quan thế âm bồ tát, Đại thế chí bồ tát, Thanh tịnh đại hải chúng bồ tát ở quốc độ Cực lạc.

    Nhất tâm phụng thỉnh và qui y đức đại bi đại nguyện đại định đại lực Địa tạng bồ tát, cùng Bồ tát, Duyên giác và Thanh văn khắp cả pháp giới.

    2. Tác bạch tâm nguyện

    Đệ tử tên họ XX , pháp danh XX, nguyện vì cầu siêu cho XX, cầu an cho XX (4) , và cầu nguyện cho bản thân, cho người thân kẻ thù trong đời này và bao nhiêu kiếp khác, cho hết thảy Tăng ni Phật tử, cho mọi người và mọi loài, mà chí thành lễ bái và trì tụng kinh Địa tạng bản nguyện. Ngưỡng nguyện Tam bảo vô thượng và Địa tạng đại sĩ từ bi chứng minh, nhiếp thọ hộ trì, làm cho người còn kẻ mất đều được siêu thoát, an lạc.

    3. Lễ bái chư Phật bồ tát

    Kính lạy đức Phật bổn sư Thích ca mâu ni như lai, đức Phật đương lai Di lạc như lai, cùng hết thảy chư Phật như lai trong pháp hội tuyên thuyết kinh Địa tạng và trong thì hiện tại khắp các quốc độ mười phương.

    Kính lạy đức Sư tử phấn tấn cụ túc vạn hạnh như lai, đức Giác hoa định tự tại vương như lai, đức Nhất thế trí thành tựu như lai, đức Thanh tịnh liên hoa mục như lai, cùng hết thảy chư Phật như lai trong thì quá khứ khắp các quốc độ mười phương.

    Kính lạy đức Vô biên thân như lai, đức Bảo tánh như lai, đức Ba đầu ma thắng như lai, đức Sư tử hống như lai, đức Bảo thắng như lai, đức Bảo tướng như lai, đức Ca sa tràng như lai, đức Đại thông sơn vương như lai, đức Tịnh nguyệt như lai, đức Sơn vương như lai, đức Trí thắng như lai, đức Tịnh danh vương như lai, đức Trí thành tựu như lai, đức Vô thượng như lai, đức Diệu thanh như lai, đức Mãn nguyệt như lai, đức Nguyệt diện như lai, cùng chư Phật như lai nhiều đến số lượng không thể nói hết.

    Kính lạy đức Tỳ bà thi như lai, đức Thi khí như lai, đức Tỳ xá phù như lai, đức Câu lưu tôn như lai, đức Câu na hàm mâu ni như lai, đức Ca diếp như lai, đức Thích ca mâu ni như lai, đức Di lạc như lai, cùng hết thảy chư Phật như lai trong ba thì quá khứ hiện tại và vị lai của quốc độ Sa bà.

    Kính lạy đức Vô tướng như lai, cùng hết thảy chư Phật như lai trong thì vị lai khắp các quốc độ mười phương.

    Kính lạy Văn thù sư lợi bồ tát, Tài thủ bồ tát, Định tự tại vương bồ tát, Vô tận ý bồ tát, Giải thoát bồ tát, Phổ hiền bồ tát, Phổ quảng bồ tát, Quan thế âm bồ tát, Hư không tạng bồ tát, cùng hết thảy bồ tát đại sĩ ở quốc độ Sa bà và khắp các quốc độ mười phương.

    4. Lễ bái Địa tạng đại sĩ

    Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại bi đại nguyện đại định đại lực, được Phật đem chúng sinh ký thác.

    Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại bi đại nguyện đại định đại lực, thị hiện hình tướng xuất gia để tiêu biểu và hộ trì cho người xuất gia tiếp nối dòng giống Tam bảo, cho giới pháp của người xuất gia, cho chánh pháp giải thoát của toàn bộ Phật pháp.

    Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại bi đại nguyện đại định đại lực, tế độ bốn chúng đệ tử của Phật bằng cách làm tăng trưởng bạch pháp giải thoát, tăng trưởng cây trái thực phẩm và dược phẩm, tăng trưởng đất nước gió lửa, để dòng giống Tam bảo trường tồn, rực rỡ và uy đức.

    Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại bi đại nguyện đại định đại lực, tế độ chúng sinh bằng cách giữ gìn cõi đất to lớn, làm cho cây trái thực phẩm và dược phẩm đầy đủ chất lượng, để chúng sinh tùy ý hưởng dụng.

    Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại bi đại nguyện đại định đại lực, phân hóa thân không biên cương ra làm đủ loài đủ giống, làm cả cảnh vật, lợi ích khắp cả, ai cũng được độ thoát.

    Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại bi đại nguyện đại định đại lực, ứng hóa khắp nơi, đặc biệt ứng hóa trong địa ngục, trong châu Diêm phù, trong những quốc độ không có Phật xuất hiện, trong những quốc độ có Phật xuất hiện nhưng thuộc thời kỳ ngũ trược tam tai, thời kỳ cách hở giữa 2 đức Phật mà Phật pháp không còn.

    Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại bi đại nguyện đại định đại lực, ích lợi cho cả lúc tạo tác nguyên nhân và lúc hưởng chịu kết quả, cho cả người còn kẻ mất, cho cả lúc sinh lúc chết, tác thành hiếu đạo cho những người con hiếu hạnh.

    Kính lạy đức Địa tạng, vị đại sĩ đại bi nguyện và đại tinh tiến quá hơn các vị bồ tát, phó cảm hết thảy sở cầu như pháp của tất cả những người chí tâm xưng niệm.

    5. Sám nguyện hồi hướng

    Đệ tử chúng con
    tuy được thân người,
    nhưng lại tách rời
    chánh tín chánh kiến,
    tách rời bạn tốt
    chỗ tốt thời tốt.
    Không biết tùy hỷ
    không tuân giới luật.
    Xúc phạm các vị xuất gia
    trở ngại chánh pháp giải thoát.
    Tự phong đại thừa
    phỉ báng thanh văn.
    Lợi dụng xuất gia
    phá người xuất gia,
    ỷ thế thế quyền
    phá Tăng thanh tịnh,
    phá mọi chánh pháp
    của cả tam thừa.
    Tự gây vô số ác nghiệp
    tự tạo vô lượng khổ báo.
    Ngày nay chúng con
    lòng rất hãi sợ,
    phát lộ sám hối
    dứt sự tiếp tục.
    Chân thành tùy hỷ
    công đức của người,
    nỗ lực bền chí
    tu tập bạch pháp.
    Học đại bi nguyện
    tập đại tinh tiến.
    Tuân giữ giới pháp
    hộ trì Tăng bảo,
    hộ trì chánh pháp
    thuận với giải thoát,
    làm cho dòng giống
    Tam bảo vô thượng
    tồn tại lâu dài
    rực rỡ uy đức.
    Ngưỡng nguyện chư Phật
    đại từ thế tôn,
    ngưỡng mong Địa tạng
    định lực đại sĩ,
    từ bi nhiếp thọ
    hộ trì chúng con.
    Làm cho chúng con
    thường gặp thiện hữu,
    chừa tội phá giới
    bỏ lỗi phá pháp,
    tịnh trừ hắc nghiệp
    siêu thoát u minh,
    hiến cúng Tam bảo
    phục vụ Phật pháp.
    Nguyện cầu người còn kẻ mất
    ước mong người thân kẻ thù
    đồng được siêu thoát
    đồng được an lạc,
    thể hiện từ tâm
    hỷ xả với nhau,
    đời đời kiếp kiếp
    không rời Tam bảo,
    cùng nhau kết thành
    bà con Phật pháp,
    cùng nhau đạt đến
    tuệ giác vô thượng.

    Kính lạy đức Phật bổn sư Thích ca mâu ni như lai, đức Phật đương lai Di lạc như lai, cùng Phật, Phật pháp, Tỷ kheo tăng khắp cả pháp giới.

    Kính lạy đức Phật bổn tôn A di đà như lai, cùng Quan thế âm bồ tát, Đại thế chí bồ tát, Thanh tịnh đại hải chúng bồ tát ở quốc độ Cực lạc.

    Kính lạy đức đại bi đại nguyện đại định đại lực Địa tạng bồ tát, cùng Bồ tát, Duyên giác và Thanh văn khắp cả pháp giới.

    Pages: 1 2 3

  • KINH PHÁP HOA – Thượng nhân Thích Trí Quang dịch giải

    Lược Dẫn & Cuốn 1 | Cuốn 2 | Cuốn 3 | Cuốn 4 | Cuốn 5 | Cuốn 6 | Cuốn 7 | Phẩm Phổ Hiền | Kinh Pháp Hoa Toát Yếu |

    [1]

    KINH PHÁP HOA
    (Hoa Sen Của Chánh Pháp) 
    Phần CHÍNH VĂN
    Tỷ kheo Thích Trí Quang dịch

    Ký hiệu (cho lời lược dẫn)
    LƯỢC DẪN
    Lược nói chủ ý
    Lược xét văn bản
    Lược trình toàn văn
    Lược phân đại ý
    Lược nói đương cơ
    Lược điểm chi tiết
    Lược nói hiệu lực
    Lược giải đề kinh

    CUỐN 1
    Phẩm 1: Mở đầu
    Phẩm 2: Phương tiện

    Ký hiệu (cho lời lược dẫn)

    C : Đại tạng kinh bản Đại chính tân tu, thí dụ | C10/20t, là đại tạng ấy, tập 10, trang 20, khoảng trên (g: giữa, d : dưới). V : Tục tạng kinh bản chữ Vạn, thí dụ V10/20a, là tục tạng ấy, tập 10, tờ 20, mặt trước (b : mặt sau).

    CV : Chính văn, tức Diệu pháp liên hoa kinh của ngài La thập dịch, top

    hường gọi là CV, nằm trong C9/1-62.

    HD : Chánh pháp hoa kinh của ngài Pháp hộ dịch, thường gọi là Tấn dịch, nằm trong C9/63-134.

    ĐD : Thiêm phẩm Diệu pháp liên hoa kinh của các ngài Xà na quật đa và Cấp đa dịch, thường gọi là Tùy dịch, nằm trong C9/134-196.

    KD : Anh dịch Pháp hoa của Kern (bản dịch Việt văn của Lệ pháp Nguyễn Công Luận), tức Saddharma pundarika.

    PT : luận Pháp hoa (Diệu pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá) của bồ tát Thế thân, nằm trong
    C36/1-19.

    PB : Phật học đại từ điển của Đinh Phúc Bảo.

    PQ : Phật quang đại từ điển.


    LƯỢC DẪN

    Lược nói chủ ý

    Không có dịch phẩm nào của tôi dịch chữ Hoa và chữ Hoa Việt ra chữ Việt nhiều bằng Pháp Hoa. Không những cốt làm cho bớt nặng nề mà cốt vì một số chữ quen dùng nên hóa ra không hiểu hay hiểu sai: kiếp là số kiếp, duyên là duyên nợ, phổ môn là… phổ môn, vân vân. Thế nhưng trong các bản in 1 (với ảnh bìa Phổ Hiền), bản in 2 (với ảnh bìa Thế Chí), bản in 3 ( với ảnh bìa Hoa sen), bản in 4 (ở hải ngoại, với bìa Pháp luân), vẫn để nguyên vài chỗ, như 10 như thị, vân vân. Nay thì vài chỗ ấy cũng dịch cả. Lại chữa vài chữ cho thích đáng, thí dụ cúng dường (cung dưỡng) đã dịch là hiến cúng, nay có chỗ chữa là phụng sự, vân vân. Ngoài ra, những từ ngữ nói về số nhiều cũng phải chú ý. Một số để nguyên. Một số để nguyên mà còn dịch rõ hơn. Nhưng một số phải dịch gọn mới nói lên khái niệm nhiều, rất nhiều và cực nhiều.

    Kế đến, các bản in trước đây không chú trọng lược giải mà chỉ ghi chú và phụ lục. Nay thì lược giải gồm có ghi chú, phụ lục, lược giải và toát yếu. Do vậy, bản chữa lần này là định bản, gồm có hai tập, có thể in chung mà cũng có thể in riêng: Tập 1 gọi là phần chính văn, gồm có chính văn kinh Pháp Hoa, phụ lục phẩm Phổ Hiền và toát yếu kinh Pháp Hoa. Vì nhiều lý do, tôi không dịch hay dịch lược kinh Vô Lượng Nghĩa và kinh Quán Phổ Hiền, là 2 kinh hay được gồm với Pháp Hoa mà gọi là Pháp Hoa tam kinh. Tập 2 gọi là phần lược giải nội dung mới nói ở trên; ở đây xin nói thêm rằng chủ ý lược giải của tôi, nhất là ghi chú, cốt làm sáng ý của chính văn, vì chính văn có mấy chỗ chuyển văn hay chuyển ý mà rất cần phải tìm hiểu.

    Với tuổi đời 76, sức yếu, mắt kém, nhưng tôi ráng hiến cúng Pháp Hoa lần chót để như là tụng kinh lần chót, hồi hướng cho cha mẹ, sư trưởng, thiện hữu, tín thí, cho đồng loại và chúng sinh.

    Lược xét văn bản

    Pháp hoa có 3 bản dịch, nằm cả trong C9/1-198. Bản thứ nhất là Tần dịch (CV), bản thứ hai là Tấn dịch (HD), bản thứ ba là Tùy dịch (ĐD). Hãy lược xét về 3 văn bản ấy.

    Nói về thì gian thì HD có sớm nhất (288 dương lịch), CV tiếp theo (406 dương lịch), ĐD có sau đó (601 dương lịch).

    Nói về Phạn bản thì có thể suy đoán CV có sớm nhất, HD có tiếp theo, ĐD có sau đó. Hãy coi thêm các tiểu mục dưới đây.

    Nói về Phạn bản của CV thì bài tựa của ĐD (không có tên tác giả, nằm trong C9/134) suy đoán là bản Qui tư. Nhưng tài liệu này không nói rõ là Phạn văn lưu hành ở Qui tự hay là văn tự Qui tư. Còn tài liệu khác, C51/54t, thì nói Pháp hoa mà ngài La thập dịch là được truyền dạy bởi thầy ngài, tôn giả Tu lị da tô ma (Soryasoma), có nghĩa Phạn bản của CV là Phạn văn Ấn độ. Phạn bản của HD thì lời tựa ĐD suy đoán là bản Đa la (Đa la diệp: Lá đa la ?). Phạn bản của ĐD thì lời tựa tự cho cũng là bản Đa lạ.

    Nói về nội dung thì mục lược trình toàn văn sau đây sẽ nói. Ở đây chỉ nói rằng tôi suy đoán

    Phạn bản của CV có sớm và thuần hơn, đặc biệt tương đồng với PT (luận Pháp Hoa của ngài Thế Thân) hơn cả. Còn Phạn bản của HD và của ĐD, thêm nữa của KD, thì rõ ràng có chậm lắm, thêm thắt không ít, và những chỗ thêm thắt ấy không thích đáng với phong cách Pháp Hoa cả văn lẫn ý. Lời tựa của ĐD nói CV thiếu thì đáng lẽ phải nói các bản khác thêm và thừa (trừ chỉnh cú phẩm Phổ môn khá thích đáng, nhưng KD lại thêm hơn và vì vậy mà không đáng có).

    Nói về giá trị thì CV dĩ nhiên đặc tôn. Nhưng HD có cái sở trường là dịch từ ngữ, không đối chiếu với HD thì có những từ ngữ của CV sẽ bị hiểu lầm. Tức như từ ngữ châu giao lộ man mà không hiểu giao lộ mới là gạch nối. Còn ĐD thì chỉ thêm mấy chỗ mà lời tựa cho là thiếu (nhưng vẫn không đủ bằng HD), ngoài ra, toàn bộ chỉ sao lại CV, nên chẳng có giá trị bao nhiêu.

    Lược trình toàn văn

    Thật ra nên nói CV có 2 bản: CV nguyên hữu và CV bổ sung. Nguyên hữu là y nguyên của ngài La Thập dịch. Bổ sung là sau này thêm vào 2 chỗ.

    Đây là toàn văn CV nguyên hữu, trích và kê theo Pháp Hoa sớ (V150/396-412, được viết năm 432) của ngài Đạo Sinh (355-434, đứng đầu tứ kiệt của học đồ ngài La Thập) : phẩm 1 Mở đầu, phẩm 2 Phương tiện, phẩm 3 Ví dụ, phẩm 4 Tin hiểu, phẩm 5 Cây cỏ, phẩm 6 Thọ ký, phẩm 7 Tương quan xa xưa, phẩm 8 Năm trăm đệ tử tiếp nhận thọ ký, phẩm 9 Thọ ký cho các vị tu học tiếp tục và tu học hoàn tất, phẩm 10 Người diễn giảng Pháp Hoa, phẩm 11 Bảo tháp xuất hiện, phẩm 12 Kính giữ Pháp Hoa, phẩm 13 Sống yên vui, phẩm 14 Từ đất xuất hiện, phẩm 15 Sự sống lâu của đức Thế Tôn, phẩm 16 Phân tích thành quả, phẩm 17 Thành quả tùy hỷ, phẩm 18 Thành quả của người diễn giảng Pháp Hoa, phẩm 19 Bồ tát Thường bất Khinh, phẩm 20 Sức thần của đức Thế Tôn, phẩm 21 Giao phó trọng trách, phẩm 22 Việc cũ của bồ tát Dược Vương, phẩm 23 Bồ tát Diệu Âm, phẩm 24 Quan Âm đại sĩ: vị Toàn diện, phẩm 25 Tổng trì minh chú, phẩm 26 Việc cũ của Diệu Trang Nghiêm Vương, phẩm 27 Sự khuyến khích của bồ tát Phổ Hiền.

    CV nguyên hữu, như vậy, là rất gọn gàng và sáng sủa. Còn CV bổ sung thì thêm vào 2 chỗ: một, sau phẩm 11 thêm phẩm Đề bà đạt đa thành phẩm 12, và do vậy CV bổ sung có 28 phẩm; hai, phẩm 24 thêm phần chỉnh cú. Thế nhưng CV bổ sung lại là bản Pháp Hoa lưu hành, và có thể là định bản. Việc bổ sung 2 chỗ thành Pháp Hoa lưu hành và định bản này không rõ ai làm, lịch sử và dã sử đều chưa tìm thấy, chỉ xét thấy việc làm khá có ý thức, và phải có sau thời ngài Pháp Vân (467-529) viết Pháp Hoa ký (cũng giải thích CV nguyên hữu, làm cho kinh này thành vấn đề và có học thuyết hơn trước).

    Nay lại đối chiếu với HD, ĐD và KD để thấy CV bổ sung không có những gì nữa. Thì ngoài 2 chỗ bổ sung nói trên, còn có 5 chỗ nữa CV bổ sung không có, đó là không có nửa sau của phẩm Cây cỏ (điều này rất giống PT, vì ở đó không có cái ví dụ như nửa sau ấy), là không có 3 chỗ như HD, ở trong các phẩm 8, 10 và 11 (ghi theo số hiệu các phẩm của CV bổ sung), là không có 7 bài chỉnh cú nữa ở trong phẩm 25 như KD. Những chỗ không có trên đây (mà tôi nói không có, không nói là thiếu) sẽ được ghi chú và phụ lục ngay nơi mỗi chỗ, và đủ hơn cả lời tựa đầy nhược điểm của ĐD.

    Đến đây xin kết luận rằng, may, rất may, CV bổ sung chỉ có 2 chỗ như đã ghi.

    Lược phân đại ý

    Toàn văn CV bổ sung, như đã thấy, có 28 phẩm. Xét thẳng ý chính của 28 phẩm ấy, ta có thể, và nên, hệ thống hóa như sau, cực kỳ đơn giản. Phẩm 1 là ngài Di Lạc phát khởi. Phẩm 28 là ngài Phổ Hiền kết thúc. Còn 26 phẩm giữa thì chia làm 2 đại bộ phận. Đại bộ phận 1 gồm các phẩm 2-9, nói về nhất thừa. Đại bộ phận 2 gồm các phẩm 10-27, nói về sự quảng bá nhất thừa.

    Pháp Hoa cốt nói nhất thừa. Nhất thừa ở đây là Pháp Hoa. Pháp Hoa không công nhận La hán (hay Duyên giác) là cứu cánh. Pháp Hoa nói Phật xuất thế để làm cho người làm Phật. Phật không có đệ tử Thanh văn, chỉ có đệ tử Bồ tát. Thanh văn chỉ là phương tiện. Phương tiện ở đây có 2 nghĩa: Thanh văn chỉ là Phật phương tiện thiết lập, chỉ là nửa đường đi đến Phật.

    Bằng nhiều cách, Pháp Hoa xác quyết nhất thừa như vậy, trong đại bộ phận 1. Qua đại bộ phận 2, càng bằng nhiều cách, Pháp Hoa nói quảng bá như thế nào về nhất thừa, lại bổ túc nhiều mặt cho đại bộ phận 1.

    Cũng có thể bỏ sự hệ thống hóa đi, chỉ nhìn cái thế liên hoàn của 28 phẩm, càng có thể thấy, không như kinh khác, Pháp Hoa có lắm văn và ý độc đáo và đặc tôn.

    Lược nói đương cơ

    Một người hướng dẫn giỏi, dẫn một đoàn người vượt qua con đường hiểm mà dài để đến chỗ vàng ngọc. Nửa đường họ muốn trở lui. Người hướng dẫn phải tạo ra một đô thành giả cho họ nghỉ. Nghỉ thế mà họ cho là an toàn và đến rồi. Người hướng dẫn hủy diệt đô thành ấy, và bảo họ phải đi tới nữa: sắp đến chỗ vàng ngọc rồi.

    Phật cũng vậy. Đã hướng dẫn đệ tử, mà chủ yếu là Thanh văn, đến cái niết bàn của La hán rồi thì nay, ở Pháp Hoa, xác quyết rằng niết bàn ấy chỉ là giả thiết. Và rằng Phật xuất thế để đưa người làm Phật. Phật mới cứu cánh. Do vậy mà Thanh văn thành ra đương cơ, đối thoại chủ yếu của Pháp Hoa.

    Thế nhưng vẫn có một số Thanh văn tăng thượng mạn: tự thị La hán đã là cứu cánh. Loạn hơn, họ cho Phật cũng chỉ là La hán—dầu chính nguyên thỉ và tiểu thừa cũng nói, không như La hán, Phật có 10 lực, 4 vô úy, 18 bất cọng, đại bi tam niệm, tam bất hộ, vân vân. Do vậy, Thanh văn tăng thượng mạn không là đương cơ của Pháp Hoa. Họ rời khỏi đại hội Pháp Hoa ngay từ đầu—dầu sau đó Phật vẫn theo đuổi giáo hóa cho họ cũng được làm Phật. Còn lại là chư vị Thanh văn có thể trở thành Bồ tát, tự tín làm Phật. Họ là đương cơ của Pháp Hoa. Pháp Hoa không như Duy ma nói Thanh văn là mầm hư giống hỏng, tuyệt phần nhất thừa; Pháp Hoa nói, từ lâu và mãi hoài, Phật giáo hóa nhất thừa cho Thanh văn. Thanh văn thời Phật, hay sau đó và sau này, bao kiếp đi nữa rồi ra ai cũng làm Phật, không ai cố định là La hán.

    Lược điểm chi tiết

    Như đã nói Pháp Hoa có lắm văn và ý độc đáo và đặc tôn. Nhưng ở đây chỉ nêu lên một số cần thiết để làm sáng thêm đại ý của Pháp Hoa.

    Trước hết là Phật quan, Pháp Hoa khái niệm về Phật rất độc đáo. Cái gọi là đức Phật trong lịch sử, cái gọi là đức Phật cửu viễn thật thành, cái gọi là đức Phật phi sinh phi diệt, theo Pháp Hoa, toàn là Thích Ca. Phật không nhập diệt. Cái nhân bồ tát hạnh của Phật làm cho sự sống lâu của Phật đã không bao giờ hết. Phật ở bên ta. Ta không thấy Phật chỉ vì ta thấy là thấy sống chết mà Phật thì phi sinh diệt. Nhưng mù nên không thấy mặt trời mà vẫn sống nhờ ánh sáng của nó. Ta không thấy Phật nhưng ơn hóa độ của Phật không rời bỏ ta, ta vẫn luôn luôn được hưởng. Phật quan của Pháp Hoa là như vậy.

    Thứ hai là Pháp quan. Khái niệm 10 như vậy (hay 5 gì) về cái gọi là thật tướng, đã khá độc đáo trong văn cũng như ý, vì khái niệm như vậy thì Pháp chính là bản thân và thuộc tính của Phật. Nhưng rõ ràng hơn, chỉnh cú 101 và 102 của phẩm 2, tuy nói cả tánh đức và tu đức mà vẫn rõ ràng đề cao tu đức, khi nói giống Phật cũng phát từ các yếu tố. Pháp Hoa là như vậy, không những nói Pháp là đương xứ tiện thị, mà dẫu vì vốn và vẫn trong sáng nên tu được, nhưng tu mới là điều Pháp Hoa khuyến phát và đôn đốc.

    Thứ ba là Niết bàn. Pháp Hoa không công nhận tiểu thừa là không công nhận niết bàn của tiểu thừa. Pháp Hoa nói niết bàn ấy chỉ giải thoát hư ảo, chưa thật niết bàn, vì giải thoát mà chưa được tuệ giác vô thượng. Khái niệm không những phủ nhận niết bàn của tiểu thừa mà còn không cho niết bàn chỉ là đoạn đức. Niết bàn phải đủ hết đoạn đức trí đức và ân đức. Tựa như đứa con vẫn là đứa con, nhưng bỏ cha mà đi là con dại, biết cha mà nhận là con thật. Lăng nghiêm nói cánh tay vẫn là cánh tay, chỉ vì chỉ xuống nên gọi là ngược, khi chỉ lên thì gọi là xuôi. Niết bàn của Pháp Hoa là như vậy: hoạt dụng hơn cả sinh tử, với biết bao bất tư nghị nghiệp, khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến.

    Thứ tư là Nhất thừa. Pháp Hoa nói tam thừa là phương tiện, nói nhất thừa mới chân thật, cách nói nào cũng nói lên cái khái niệm “ai cũng có thể làm Phật”: tất cả Thanh văn đều được thọ ký làm Phật, và bất cứ người nào, và chỉ niệm Phật một tiếng đi nữa, rồi ra cũng làm Phật cả. Ý nghĩa này rất quan trọng, vì không những tu hành tiểu thừa cuối cùng cũng làm Phật, mà một điều thiện nhỏ nhặt đến mấy cũng không vô hiệu quả, vô lượng thì gian cũng không mất đi, và cuối cùng sẽ làm Phật tất cả. Chính trong ý nghĩa này mà ngài Đạo Sinh nhận định đầu tiên rằng Pháp Hoa là vạn thiện đồng quy. Pháp Hoa nhất thừa cao đến tột đỉnh mà lại bao trùm hết thảy.

    Thứ năm là Thanh văn. Thanh văn chủ yếu là hai bộ đại Tăng, có loại còn tu học có loại hết tu học, và có bốn đạo quả mà tột bậc là La Hán. Pháp Hoa nói về Thanh văn càng độc đáo. Tất cả Thanh văn, thời Phật cũng như thời nay và sau này, toàn đã là đệ tử của Phật – của vị Sa di Bồ tát thứ 16. Chưa hết, Thanh văn còn là “nội bí Bồ tát hạnh, ngoại hiện Thanh văn tướng.” Pháp Hoa thọ ký làm Phật cho Thanh văn, điều này kinh động tiểu thừa quá lắm, vì như thế là không công nhận La Hán đã cứu cánh, niết bàn của La Hán, dầu hữu dư (chỉ hết tập đế) dầu vô dư (hết cả khổ đế) đều chưa thật niết bàn. Thanh văn, kể cả Thanh văn La hán, tự cho đã cứu cánh thì bị Pháp Hoa gọi là kẻ Tăng thượng mạn. Thế nên tất cả Thanh văn phải, và có thể, làm Phật: đó là chủ ý của Pháp Hoa. Vì vậy mà đối tượng chính yếu của Pháp Hoa là Thanh văn, cũng vì vậy mà Pháp Hoa không công nhận có một loại Thanh văn cố định, vĩnh viễn không chuyển hướng đại thừa.

    Thứ sáu là Duyên giác. Phạn tự pratyeka buddha, ngoài chữ Duyên giác (giác ngộ đạo lý duyên khởi) còn dịch là Độc giác (độc lực giác ngộ đạo lý duyên khởi). Tra cứu cách nói của các danh tác thuộc cả đại thừa tiểu thừa và nguyên thỉ thì thấy nói Duyên giác có nhiều loại. Nhưng nói thế nào cũng không minh bạch Duyên giác là đệ tử của Phật, Phật có giáo pháp huấn dụ riêng cho, và giáo pháp ấy gọi là Duyên giác thừa. Trái lại, xét cách nói thì thấy Phật giáo thừa nhận có người đời trước hay những đời trước gặp Phật hoặc Phật pháp nên đời này không gặp mà vẫn tự ngộ tương đương với đạo lý duyên khởi. Pháp Hoa thì không thấy Phật thọ ký làm Phật cho ai gọi là Duyên giác. Thế nhưng Pháp Hoa nói đến Duyên giác lại minh bạch các vị này cũng là đệ tử của Phật, minh bạch có cái gọi là Duyên giác thừa. Không dưới vài chỗ nói ai cầu Thanh văn thì Phật nói cho 4 chân lý, ai cầu Duyên giác thì Phật nói cho 12 duyên khởi, ai cầu Bồ tát thì Phật nói cho 6 ba la mật. Phẩm 3 lại nói như sau về tam thừa, “Người nào theo Phật nghe Pháp mà tin tưởng tiếp nhận, thiết tha tinh tiến, nhưng ước muốn cấp tốc thoát ra 3 cõi nên cầu tự niết bàn, đó là theo cỗ xe Thanh văn. Người nào theo Phật nghe Pháp mà tin tưởng tiếp nhận, thiết tha tinh tiến, nhưng cầu tuệ giác tự nhiên, thích đơn độc, khéo vắng lặng, biết sâu nguyên lý duyên khởi của các pháp, đó là theo cỗ xe Duyên giác. Người nào theo Phật nghe Pháp mà tin tưởng tiếp nhận, thiết tha tinh tiến, nhưng cầu tuệ giác hoàn toàn, tuệ giác Phật đà, tuệ giác tự nhiên, tuệ giác không thầy, nói tóm là cầu sự thấy biết của Phật mà nội dung có đủ các phẩm chất như 10 đại năng lực, 4 sự không sợ, và cầu như vậy là vì thương tưởng, muốn đem lại sự yên vui cho vô số chúng sinh, cứu độ cho hết thảy, đó là theo cỗ xe vĩ đại. Bồ tát cầu cỗ xe vĩ đại ấy nên gọi là bậc vĩ đại”. Ngoài đoạn văn trên đây, phẩm 7 nói đức Trí Thắng mà cũng như nói đức Thích Ca, rằng Phật nói 4 chân lý rồi nói rộng thành 12 duyên khởi. Vậy có thể nói thế này: dầu 12 duyên khởi là Phật quảng diễn 4 chân lý, nhưng đối tượng là cho những người có trình độ hơn Thanh văn. Thế nhưng quả vị Duyên giác dẫu hơn Thanh văn về gì đi nữa cũng chỉ chứng niết bàn với trạng huống hữu dư và vô dư, với tận trí và vô sinh trí. Như vậy Duyên giác cũng là La hán mà đặc biệt một chút về trình độ thôi. Và trong Pháp Hoa thì Duyên giác được nói riêng vì trình độ ấy, nhưng vẫn bao gồm trong Thanh văn khi nói về đối tượng đương cơ của Pháp Hoa, về sự thọ ký làm Phật ở đó.

    Thứ bảy là Bồ tát. Một ít khái niệm về Bồ tát của Pháp Hoa càng phải chú ý. Một, rất đơn giản, Bồ tát có 2 loại cần nói: loại mới phát tâm chí (sơ phát tâm) và loại không còn thoái chuyển (bất thoái). Loại trước thì thấp nhất là Càn tuệ địa, cao nhất là Phát tâm trú; loại sau là Cực hỷ địa sắp lên. Hai, loại trước rất quan trọng, vì từ căn bản, Bồ tát phải có tâm chí xuất từ sự tự tín có thể làm Phật. Ba, Phật xuất thế cốt làm cho ai cũng làm Phật, do vậy, Pháp Hoa nói rõ, Phật chỉ có đệ tử Bồ tát, không có đệ tử Thanh văn. Nói cách khác, Pháp Hoa không công nhận có loại Thanh văn cố định là Thanh văn; Thanh văn nào rồi cũng là Bồ tát và được thọ ký làm Phật. Bốn, Bồ tát, đúng ra là tư cách Bồ tát (Bồ tát chủng tánh), mới được nói cho Pháp Hoa, thế nên cuối cùng, khi thấy Thanh văn đã có thể chuyển ra Bồ tát thì Phật nói cho Pháp Hoa. Thêm nữa, Pháp Hoa còn có một loại Bồ tát mà bản (gốc gác) và tích (dấu vết) đều rất cao. Thí dụ các ngài Quan Âm, Diệu Âm, Dược Vương, Văn Thù… Thí dụ các vị Bồ tát từ đất xuất hiện… Nhưng nói Bồ tát thì phải nói Bồ tát hạnh (việc làm của Bồ tát). Bồ tát hạnh mà Pháp Hoa nói thì tổng quát là “tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh” (làm sạch thế giới, làm nên chúng sinh).

    Thứ tám là thọ ký. Thọ ký là trao cho lời biết trước, lời phán quyết, lời ghi nhận. Thọ ký ở đây là Phật thọ ký cho làm Phật. Sự thọ ký này xác quyết ai cũng sẽ làm Phật, đặc biệt các vị Thanh văn La hán phải làm Phật mới là cứu cánh. Thế nên 5.000 người rời khỏi đại hội Pháp Hoa khi Phật sắp xác quyết La hán là giả thiết, Phật đà mới tột bậc. Họ là tăng thượng mạn, tự cho đã là cứu cánh. Họ không thể đương cơ Pháp Hoa, dẫu sau đó bao nhiêu đời kiếp đi nữa Phật vẫn theo đuổi giáo hóa cho họ cũng được làm Phật (không có vấn đề họ cố định là họ). Ngoài họ ra, Phật đã thọ ký cho tất cả Thanh văn, không phân giới tính và trình độ. Không những thọ ký cho Thanh văn, Pháp Hoa còn có mấy sự thọ ký nữa rất đặc thù. Thọ ký cho Đề bà đạt Đa để thấy cực ác cũng vẫn có thể sẽ làm Phật. Long Nữ thì Phật chứng kiến cho làm Phật để thấy bộ loại, giới tính và tuổi tác, không là chướng ngại cho sự làm Phật. Rồi Bồ tát Thường bất Khinh nói không dám khinh ai, ai cũng sẽ làm Phật, thì đó là điều mà Bồ tát Thế Thân ghi cũng là sự thọ ký. Sau hết, phải ghi nhận cũng là sự thọ ký về lời Phật nói sau đây, trong phẩm 10, “Dược Vương, sau khi Như Lai nhập diệt, nếu có người nào nghe kinh Pháp Hoa, thì dẫu chỉ nghe được một bài chỉnh cú, một câu đủ nghĩa, hay đến nỗi chỉ có được một ý niệm tùy hỷ mà thôi, Như Lai cũng thọ ký cho tất cả sẽ được tuệ giác vô thượng”.

    Thứ chín là kỳ vĩ. Pháp Hoa có lắm sự kỳ lạ, vĩ đại, tiêu biểu sâu xa cho ý nghĩa của kinh này. Trước hết hãy nói thêm về Phật, về đức Bổn sư Thích Ca. Đặc biệt phẩm 16, ở đó nói Phật ở cạnh ta; đỉnh Linh sơn là tịnh độ của Phật mà lửa hoại kiếp cũng không thiêu hủy được; Phật biểu hiện qua thân và việc mình hoặc qua thân và việc khác; Phật phi tồn tại phi nhập diệt, phi là một phi khác nhau; quả báo Bồ tát hạnh của Phật cũng đã làm cho Phật có thọ lượng bất tận. Phẩm 11 nói phân thân ở hướng đông của Phật mà đã ngồi đầy một thế giới Phật lớn đến ba ngàn hai trăm vạn ức lần trăm triệu quốc độ. Phẩm 7 nói tất cả đệ tử thời Phật, sau đó và sau này, toàn là đệ tử của Phật, Phật bao giờ cũng đeo đuổi giáo hóa cho bằng nhất thừa. Qua những cách nói trên đây cho thấy, không những cái thuyết 3 thân mà chính cái nghĩa bản tích cũng không đủ để nói, và nói rất khéo, về Phật. Điều phải chú ý là những cách nói này cho thấy Phật nói cho Pháp Hoa là quan trọng, nhưng quan trọng hơn nữa là Phật làm cho ta đến được trình độ để Phật nói cho Pháp Hoa. Bổ khuyết cho điều này, kinh Địa Tạng còn nói Phật biểu hiện mọi thân hình và mọi cảnh vật có tác dụng hóa độ; luận Khởi tín nói Phật biểu hiện đến cả tôi tớ và kẻ thù; “không phải biểu hiện chỉ có thân Phật”.

    Ngoài sự kỳ vĩ trên đây của đức Bổn sư, Pháp Hoa còn có sự xuất hiện của bảo tháp và toàn thân của đức Đa Bảo, xuất hiện với phong cách đến nỗi thuyết cửu triệt nói Đa Bảo là “bản Phật”, là pháp thân. Còn có ngài Thường bất Khinh, rất đơn sơ, đáng mến và gần gũi. Còn có hằng hà sa Bồ tát dũng xuất. Còn có thần dụng của các giác quan do cha mẹ sinh ra. Còn có Đề Bà được thọ ký và ai nghe Pháp Hoa nói về việc này mà không hoài nghi hay lầm lẫn thì sinh ra ở đâu cũng được nghe thuyết Pháp Hoa. Còn có Long Nữ không khác bao nhiêu với thiên nữ trong kinh Duy Ma (dầu ở đó Thanh văn than mình là mầm hư giống hỏng đối với đại thừa, không như trong Pháp Hoa Thanh văn được thọ ký làm Phật).

    Thứ mười là bà con. Pháp Hoa trọng thị sự liên hệ với nhau, nhất là liên hệ thành thân quyến (bà con thế gian) rồi thành pháp quyến (bà con Phật pháp). Phẩm 1, nhất là phẩm 7, chưa nói phẩm 27, không những là thân quyến, là pháp quyến, mà còn là khởi đầu về Pháp Hoa của đức Bổn sư. Sau này Lương Hoàng Sám đặc biệt đề cao cái gọi là “bồ đề quyến thuộc”, còn Cảnh Sách nguyện “bách kiếp thiên sinh đồng vi pháp lữ”, thì quả thật rất phù hợp với Pháp Hoa.

    Thứ mười một là quảng bá. Trước hết Pháp Hoa trọng thị sự thọ trì đọc tụng vị thuyết thư tả là vì Pháp Hoa đề cao sự quảng bá Pháp Hoa. Pháp Hoa còn đặc biệt đề cao sự tùy hỷ, nhất là 3 yếu tố và 4 cách sống. Riêng 3 yếu tố thật đáng cảm, “muốn thuyết Pháp Hoa thì hãy vào nhà của Phật, mặc áo của Phật, ngồi chỗ của Phật”. Quảng bá Pháp Hoa là như vậy, nên người làm việc này được Phật nói là “sứ giả của Như Lai làm việc của Như Lai”.

    Lược nói hiệu lực

    Pháp hạnh Pháp Hoa đem lại tướng tốt (mà Pháp Hoa rất trọng thị tướng tốt ấy, coi các phẩm 18, 28 và 23 thì biết), không bệnh tật, không chết yểu, sống mà chiêm bao cũng đẹp, hơi thở như hương sen, “ước nguyện không vô hiệu quả”. Nên khi chết thì được “cả ngàn đức Phật trao tay cho”, rồi hoặc sinh Cực lạc của đức Di Đà (phẩm 23) hoặc sinh Đâu suất của đức Di Lạc (phẩm 28) hoặc sinh Đao lợi (cũng phẩm 28) hoặc sinh trong nhân loại chư thiên hay trước chư Phật (phẩm 12). “Cả ngàn đức Phật trao tay cho”, điều này rất quan trọng, so sánh được với người niệm Phật thì lâm chung được Phật tiếp dẫn như thế nào.

     Lược giải đề kinh

    HD là Chánh Pháp Hoa, CV là Diệu Pháp Liên Hoa, đều có từ gốc Phạn tự Saddharma pundarika. Chánh pháp hay Diệu pháp là chỉ cho Nhất thừa (xác quyết ai cũng làm Phật). Nhất thừa ấy ví dụ như hoa sen. Hoa sen ở đây là thế nào?

    Một, khởi đầu như ngài Tăng Duệ giải thích hoa sen ở đây là phân đà lị (pundarika), là hoa sen mà nở đúng độ, không phải mới nở hay đã tàn. Đem Nhất thừa ví dụ như hoa sen ấy là nói sự viên mãn (C9/62).

    Hai, ngay khi mới thành đạo, Phật đã đem hoa sen ví dụ cho chúng sinh: có kẻ như hoa sen ngoi ra khỏi bùn, có kẻ như hoa sen ngoi lên nửa nước, có kẻ như hoa sen ngoi lên mặt nước, có kẻ như hoa sen ngoi lên khỏi mặt nước và nở ra. Nói theo ý nghĩa “vạn thiện đồng qui” thì Nhất thừa chẳng phải chỉ làm cho chúng sinh làm Phật, mà còn làm cho chúng sinh ngoi ra khỏi bùn cho đến ngoi lên mặt nước. Thế Thân đại sĩ nói càng sát ý Pháp Hoa, rằng hoa sen ở đây là lấy sự ngoi lên và nở ra: Nhất thừa làm cho Thanh văn ngoi lên khỏi bùn nước Tiểu thừa mà tín giải pháp thân của Phật (C26/3t). Pháp thân ở đây ngôn ngữ Pháp Hoa gọi là Phật tri kiến.

    Ba, thế nhưng chính trong phẩm 2, Phật nói Nhất thừa hiếm có như hoa ưu đàm. Ưu đàm là ưu đàm bát la (udumbara) mà nay có người nói tên khoa học là ficus glomerata. Ưu đàm là hoa thiêng quí hiếm hay là ficus glomerata thì tôi tồn nghi. Nhưng điều chắc chắn là ưu đàm không thể không liên hệ gì với hoa sen.

    Do vài điều sơ lược trên đây mà ít ra cũng biết nói hoa sen nhân quả đồng thời (mà thật ra đâu phải chỉ hoa sen mới là như vậy) chỉ là ý kiến mới có từ trung diệp bách kỷ 6.

    *

    Đến đây có thể tạm ngưng được để nói như lược lại, rằng tu học Pháp Hoa thì phải thấy mấy điều sau đây. Một, thấy chính cái thế giới này là tịnh độ của Phật. Phật thuyết Pháp Hoa tại Linh sơn thì Linh sơn là tịnh độ của Phật. Tịnh độ của Phật là đương xứ tiện thị: ở đâu và lúc nào cũng là tịnh độ của Phật. Hai, thấy Phật không nhập diệt. Phật siêu sống chết, siêu thì gian và không gian. Phật luôn luôn ở bên ta, trên ta và trong ta. Cái thấy của ta không cục bộ thì thế là thấy Phật. Ba, thấy đạo lý Pháp Hoa là “như vậy”: biểu hiện, đặc tính, bản thể, năng lực, động tác, nhân tố, duyên tố, kết quả, hình thành, toàn bộ, hết thảy các mặt của các pháp toàn là “như vậy”: toàn là Pháp Hoa. Nói ngay ta đây, tất cả những gì là ta thì chính tất cả những gì ấy là Phật, như cả cái cánh tay đang chỉ xuống chính là cả cái cánh tay sẽ chỉ lên. Bốn, thấy ta cũng từng là đệ tử của Phật, không của ngài Thường Bất Khinh thì của vị Sa di Bồ tát thứ 16. Năm, thấy làm gì cũng không vô hiệu quả: một câu con tôn kính Phật, một lời giới thiệu Pháp Hoa, rồi ra cũng làm Phật cả. Sáu, tu học Pháp Hoa là vào nhà Phật, mặc áo Phật, ngồi chỗ Phật. Bảy, chết thì được chư Phật trao tay cho, rồi sinh chỗ đức Di Đà, chỗ đức Di Lạc, sinh lại tại thế giới này, chưa kể chỉ sao chép ấn hành Pháp Hoa cũng sinh Đao lợi, kỳ lạ nữa là nghe kẻ cực ác được thọ ký mà tin hiểu chính xác thì hết còn đọa lạc đường dữ, sinh trong nhân loại hay chư thiên, sinh trước chư Phật.

    Rằm tháng 2, 2542 (3, 1998)

    TRÍ QUANG


    CUỐN 1

    Ngưỡng bạch Phật Pháp Tăng vô tận Tam bảo từ bi chứng minh. Đệ tử chúng con nguyện vì bản thân, vì cha mẹ bà con, vì người thân kẻ thù, vì mọi người và vì chúng sinh, trì tụng kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa.

    Mở đầu tụng kinh Pháp Hoa, chúng con xin kính lạy:

    Kính lạy kinh Diệu Pháp Liên Hoa, bản kinh của tuệ giác bình đẳng vĩ đại, bản kinh cho Bồ tát và được Phật giữ gìn. Kính lạy tất cả Pháp bảo trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ.

    Kính lạy đức Thích Ca Mâu Ni, đức Phật giáo chủ bổn sư, đã tuyên thuyết kinh Pháp Hoa. Kính lạy đức Đa Bảo, đức Phật đã làm chứng cho kinh Pháp Hoa toàn là chân thật. Kính lạy đức Di Lạc, đức Phật đương lai, đã phát khởi kinh Pháp Hoa và tiếp dẫn những người hành trì Pháp Hoa vãng sinh Đâu Suất tịnh độ. Kính lạy tất cả Phật bảo trong kinh Pháp Hoa, trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ.

    Kính lạy Bồ tát Văn Thù, vị Pháp sư Pháp Hoa. Kính lạy Bồ tát Phổ Hiền, vị khuyến phát Pháp Hoa. Kính lạy Bồ tát Quan Âm, vị Đại sĩ toàn diện. Kính lạy tất cả Tăng bảo là các vị Bồ tát, các vị Duyên giác và các vị Thanh văn trong kinh Pháp Hoa, trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ. 


    KINH PHÁP HOA

    Phẩm 1: Mở đầu

    Tôi nghe như vầy. Một thời đức Thế Tôn ở trong đỉnh Linh sơn, thuộc thành Vương Xá, cùng chúng đại Tỷ kheo mười hai ngàn vị, toàn là những bậc A La Hán mà sự sơ hở đã được tận diệt, sự phiền não không còn tái sanh, đã đạt được sự ích lợi của bản thân, đã dứt hết sự ràng buộc vào hiện hữu, tâm trí tự tại giải thoát. Tên các vị ấy là tôn giả Kiều Trần Như, tôn giả Đại Ca Diếp, tôn giả Tần Loa Ca Diếp, tôn giả Già Da Ca Diếp, tôn giả Na Đề Ca Diếp, tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả Mục Kiền Liên, tôn giả Ca Chiên Diên, tôn giả A Nâu Lâu Đà, tôn giả Kiếp Tân Na, tôn giả Kiều Phạm Ba Đề, tôn giả Ly Bà Đa, tôn giả Tất Lăng Già, tôn giả Bạc Câu La, tôn giả Câu Hy La, tôn giả Nan Đà, tôn giả Tôn Đà Ra Nan Đà, tôn giả Phú Lâu Na, tôn giả Tu Bồ Đề, tôn giả A Nan Đà, tôn giả La Hầu La, đại loại như vậy, những vị A La Hán mà mọi người đều biết. Lại có hai ngàn vị tu học tiếp tục và tu học hoàn tất, có Tỷ kheo ni Đại Thắng Sinh Chủ cùng với sáu ngàn người tùy thuộc, có thân mẫu tôn giả La Hầu La là Tỷ kheo ni Trì Dự cùng với những người tùy thuộc, đều đến tụ tập.

    Chúng đại Bồ tát có tám mươi ngàn, toàn là những vị không thoái chuyển đối với tuệ giác vô thượng, được các pháp tổng trì, được các tài hùng biện mà trong đó có sự biện thuyết hoan hỷ, biện thuyết về pháp không thoái chuyển; đã phụng sự vô lượng trăm ngàn chư Phật, vun trồng các gốc rễ công đức ở nơi chư Phật ấy, và thường được chư Phật ấy tán dương; sửa mình bằng đức tính từ bi, khéo nhập vào tuệ giác Phật đà, thông suốt tuệ giác vĩ đại, đạt đến bờ bến bên kia; danh tiếng vang khắp vô lượng quốc độ, hoá độ vô số trăm ngàn chúng sanh. Tên các vị ấy là Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát Quan Thế Âm, Bồ tát Đại Thế Chí, Bồ tát Thường Tinh Tấn, Bồ tát Bất Hưu Tức, Bồ tát Bảo Chưởng, Bồ tát Dược Vương, Bồ tát Dũng Thí, Bồ tát Bảo Nguyệt, Bồ tát Nguyệt Quang, Bồ tát Mãn Nguyệt, Bồ tát Đại Lực, Bồ tát Vô Lượng Lực, Bồ tát Việt Tam Giới, Bồ tát Hiền Hộ, Bồ tát Di Lạc, Bồ tát Bảo Tích, Bồ tát Đạo Sư, đại loại như vậy, tám mươi ngàn vị đại bồ tát đều đến tụ tập.

    Chư Thiên thì có Đế Thích cùng hai mươi ngàn thiên nhân tùy thuộc; Nguyệt thiên tử, Phổ Hương thiên tử, Bảo Quang thiên tử, và bốn vị đại thiên vương, cùng mười hai ngàn thiên nhân tùy thuộc; Tự Tại thiên tử và Đại Tự Tại thiên tử cùng ba mươi ngàn thiên nhân tùy thuộc; Phạn vương chủ thế giới hệ Kham nhẫn, cùng các Phạn vương đại loại Phạn vương Thi Khí, Phạn vương Quang Minh, và hai mươi ngàn thiên nhân tùy thuộc, đều đến tụ tập. Các bộ khác thì có tám Long vương là Hỷ, Hiền Hỷ, Diêm Hải, Cửu Đầu, Đa Thiệt, Vô Nhiệt Não, Từ Tâm và Hồng Liên Hoa, mỗi vị cùng mấy trăm ngàn tùy thuộc; có bốn Khẩn na la vương là Pháp và Diệu Pháp, Đại Pháp và Trì Pháp, mỗi vị cùng mấy trăm ngàn tùy thuộc; có bốn Càn thát bà vương là Nhạc và Nhạc Âm, Mỹ và Mỹ Âm, mỗi vị cùng mấy trăm ngày tùy thuộc; có bốn A tu la vương là Tối Thắng, Dục Cẩm, Yến Cư và Hấp Khí, mỗi vị cùng mấy trăm ngàn tùy thuộc; có bốn Ca lâu la vương là Đại Uy Đức, Đại Thân, Đại Mãn và Như Ý, mỗi vị cùng mấy trăm ngày tùy thuộc, đều đến tụ tập.

    Nhân loại thì có con Hoàng hậu Vi Đề Hy là Hoàng đế A Xà Thế, cùng mấy trăm ngàn tùy thuộc, cũng đến tụ tập.

    Tất cả các chúng trên đây, mỗi chúng đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, rồi lui lại mà ngồi mỗi chúng một chỗ.

    Vào lúc này, đức Thế Tôn được bốn chúng vây quanh, hiến cúng, cung kính, tôn trọng, tán dương. Ngài nói cho các vị Bồ tát bản kinh Đại thừa tên Nghĩa Vô Lượng, bản kinh dạy cho Bồ tát và được Phật giữ gìn. Nói kinh ấy rồi, đức Thế Tôn vẫn ngồi xếp bằng ở ngay giữa đại hội mà nhập định. Vị trí của Nghĩa Vô Lượng, thân thể và tâm trí đều không dao động. Ngay khi ấy chư thiên mưa xuống hoa mạn đà, hoa mạn đà lớn, hoa mạn thù, hoa mạn thù lớn, rải trên đức Thế Tôn và cả đại hội. Khắp cõi Phật này chấn động đủ cả sáu cách. Trong đại hội, bốn chúng là Tỷ kheo và Tỷ kheo ni, Ưu bà tắc và Ưu bà di; tám bộ là thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la dà, toàn là những người không phải loài người, và các chúng khác mà trong đó có các vị quốc vương và các vị luân vương, hết thảy các chúng như vậy đều được sự chưa từng có, hoan hỷ, chắp tay, và chuyên chú chiêm ngưỡng đức Thế Tôn. Còn đức Thế Tôn thì từ nơi tướng lông trắng giữa hai đầu của hai hàng lông mày phóng ra ánh sáng, chiếu soi mười tám ngàn thế giới hệ ở về hướng đông, không thế giới hệ nào mà không chiếu soi dưới đến Vô gián ngục trên đến Sắc cứu cánh. Làm cho đại hội ở thế giới hệ này mà thấy hết chúng sinh trong sáu loài của các thế giới hệ ấy; lại thấy chư Phật hiện tại của các thế giới hệ ấy, nghe kinh pháp của chư Phật ấy nói, thấy bốn chúng, những người hành đạo và đắc đạo trong các thế giới hệ ấy; lại thấy các vị bồ tát đi theo đường đi của bồ tát bằng các thứ yếu tố, các cách tin hiểu và các loại hình thức; lại thấy chư Phật nhập diệt, thấy sau đó xá lợi của chư Phật ấy được đem ra xây dựng những ngôi tháp bằng bảy chất liệu quý báu mà tôn thờ.

    Bấy giờ đức Di Lạc suy nghĩ, hôm nay đức Thế Tôn biểu hiện cảnh tượng thần biến. Vì lý do gì mà có điềm lành như vậy? Đức Thế Tôn đang nhập định, sự thể ngoài sự nghĩ bàn ấy biểu hiện cảnh tượng hiếm có này, ta nên hỏi ai, ai giải đáp được? Đức Di Lạc lại nghĩ, bồ tát Văn Thù, vị thái tử của đức Pháp vương, đã từng thân gần phụng sự vô lượng chư Phật quá khứ, tất đã thấy được cảnh tượng hiếm có này, vậy ta nên hỏi người. Cùng lúc, cả bốn chúng, tám bộ và các chúng khác, ai cũng nghĩ rằng, cảnh tượng thần biến biểu hiện bởi ánh sáng của đức Thế Tôn như vầy, nên đem hỏi ai? Đức Di Lạc muốn giải quyết nghi ngờ của mình, lại xét tâm trí của cả đại hội, nên hỏi bồ tát Văn Thù, vì lý do nào mà có điềm lành—có cảnh tượng thần biến là đức Thế Tôn phóng ánh sáng lớn chiếu soi mười tám ngàn cõi Phật ở về hướng đông, làm cho đại hội ở đây mà thấy hết mọi sự huy hoàng của các cõi Phật ấy? Đức Di Lạc muốn lặp lại ý nghĩa đã hỏi, nên hỏi bồ tát Văn Thù bằng những lời chỉnh cú sau đây.

    (1) Văn Thù đại sĩ,
    vì lý do nào
    mà đức Thế Tôn,
    vị thầy dẫn đạo,
    từ nơi lông trắng
    giữa hai đầu mày,
    phóng ánh sáng lớn
    chiếu soi khắp cả?

    (2) Chư thiên mưa xuống
    bao nhiêu hoa quí
    mạn đà mạn thù,
    và thổi làn gió
    hơi thơm đàn hương,
    đẹp lòng đại hội.

    (3) Vì vậy mặt đất
    cả quốc độ này
    rực rỡ huy hoàng,
    và cả quốc độ
    đều chấn động lên
    đủ hết sáu cách.
    Làm cho bốn chúng
    hoan hỷ tất cả,
    cơ thể tâm trí
    đều thấy thích thú,
    cảm nhận sự thể
    chưa bao giờ có.

    (4) Chỉ một ánh sáng
    phóng từ lông trắng
    giữa hai đầu mày
    chiếu soi hướng đông,
    mà khiến một vạn
    tám ngàn quốc độ
    đều như màu sắc
    ánh từ vàng ròng.

    (5) Trong các quốc độ
    được chiếu như vậy,
    từ Vô gián ngục
    đến Sắc cứu cánh,
    hết thảy chúng sinh
    thuộc cả sáu loài
    sinh từ loài này
    chết đến loài khác,

    (6) hành vi lành dữ,
    kết quả tốt xấu,
    ở quốc độ này
    mà thấy rõ cả.

    (7) Lại thấy chư Phật,
    chúa của thánh hiền,
    tuyên thuyết kinh pháp
    tinh túy bậc nhất,
    bằng tiếng trong thanh
    xuất lời hòa nhã
    mà dạy bồ tát
    vô số ức vạn.

    (8) Bằng tiếng Phạn thiên
    thâm thúy kỳ diệu
    khiến người thích nghe,
    chư Phật ở nơi
    quốc độ của mình
    diễn giảng chánh pháp,
    vận dụng vô số
    yếu tố, ví dụ,
    soi sáng chánh pháp
    thức tỉnh chúng sinh:

    (9) Ai bị khổ não,
    chán già bịnh chết,
    thì nói cho họ
    về pháp niết bàn,
    để họ diệt tận
    biên cương khổ não.

    (10) Ai có phước đức
    từng hiến cúng Phật,
    chí cầu đạt được
    chân lý cao hơn,
    thì nói cho họ
    về pháp duyên giác.

    (11) Còn các con Phật
    làm mọi hạnh nguyện
    để cầu thành tựu
    tuệ giác vô thượng,
    thì nói cho họ
    tuệ giác trong suốt.
    *

    (12) Văn Thù đại sĩ,
    tôi ở nơi đây
    mà thấy và nghe
    đến như thế đó,
    có ngàn ức việc.
    Việc nhiều như vậy
    nay tôi chỉ kể
    một cách vắn tắt.

    (13) Tôi thấy bồ tát
    như cát sông Hằng,
    của trong tất cả
    thế giới hệ ấy,
    đem mọi yếu tố
    cầu tuệ giác Phật.

    (14) Có người thực hành
    hạnh nguyện bố thí:
    bạc, vàng, san hô,
    chân châu, ma ni,
    xa cừ, mã não,
    kim cương, của quí,
    tôi tớ, xe thuyền,
    vật để cỡi, chở,

    (15) xe liễn, xe dư
    trang hoàng vàng ngọc,
    cũng rất hoan hỷ
    mà đem hiến cho,
    rồi hồi hướng cả
    về nơi trí Phật,

    (16) nguyện được xe Phật
    cỗ xe bậc nhất
    trong cả ba cõi,
    được Phật tán dương.

    (17) Hoặc có bồ tát
    cho xe quí báu
    kéo bởi bốn ngựa,
    lại có lan can
    mui trần hoa mỹ
    mái riềm trang hoàng.

    (18) Lại thấy bồ tát
    cho thân cho thịt
    cho tay cho chân
    cho cả vợ con,
    quyết chí đạt đến
    tuệ giác vô thượng.

    (19) Lại thấy bồ tát
    cho đầu cho mắt
    cho cả thân thể _
    cho mà vui thích,
    để cầu thành tựu
    tuệ giác Phật đà.

    (20) Văn Thù đại sĩ,
    tôi thấy vua chúa
    đi đến chỗ Phật
    hỏi pháp vô thượng,
    rồi từ bỏ liền
    đất nước thịnh vượng,
    bỏ cả cung điện
    đình thần hậu phi,

    (21) cạo sạch râu tóc
    mà mặc pháp y.

    (22) Hoặc thấy bồ tát
    mà làm tỷ kheo,
    chỉ ở một mình
    nơi chỗ thanh vắng,
    vui vẻ thích thú
    đọc tụng kinh điển.

    (23) Lại thấy bồ tát
    dũng mãnh tinh tiến,
    vào chốn núi sâu
    suy nghĩ trí Phật.

    (24) Lại thấy bồ tát
    tách rời dục vọng,
    thường xuyên trú ở
    những chỗ trống vắng,
    tu sâu thuyền định
    được năm thần thông.

    (25) Lại thấy bồ tát
    chân đứng vững vàng
    tư tưởng tập trung
    hai tay chắp lại,
    đem cả ngàn vạn
    bài văn chỉnh cú
    hoan hỷ ca tụng
    các đấng Pháp vương.

    (26) Lại thấy bồ tát
    trí sâu, nhớ chắc
    có thể thưa hỏi
    chánh pháp nơi Phật,
    nghe rồi tiếp nhận
    ghi nhớ đủ cả.

    (27) Lại thấy con Phật
    đủ cả định tuệ,
    áp dụng vô số
    mọi sự ví dụ,
    diễn giảng chánh pháp
    cho các chúng khác;

    (28) lại vui thuyết pháp
    giáo hóa bồ tát,
    chiến thắng ma vương
    và binh đội nó,
    rồi gióng lớn lên
    tiếng trống chánh pháp.

    (29) Lại thấy bồ tát
    vắng bặt im lặng,
    trời rồng cung kính
    không lấy làm mừng.

    (30) Lại thấy bồ tát
    ở trong núi rừng
    mà phóng ánh sáng
    cứu khổ địa ngục,
    thức tỉnh cho họ
    hướng vào trí Phật.
    *

    (31) Lại thấy con Phật
    chưa từng ngủ nghỉ,
    kinh hành trong rừng
    siêng cầu trí Phật.

    (32) Lại thấy có vị
    giới pháp đầy đủ,
    uy nghi vẹn toàn,
    sạch sẽ trong suốt
    in như ngọc quí
    để cầu trí Phật.

    (33) Lại thấy con Phật
    trụ vào sức nhẫn,
    bao kẻ thượng mạn
    mắng nhiếc đánh đập
    vẫn nhẫn được cả
    để cầu trí Phật.

    (34) Lại thấy bồ tát
    từ bỏ trò chơi,
    bỏ luôn những kẻ
    thân thuộc ngu dốt,
    chỉ biết thân gần
    những người thánh trí,

    (35) chuyên nhất tâm ý
    trừ bỏ loạn động,
    trú ở núi rừng
    tập trung tư tưởng,
    trải qua ức vạn
    những năm như vậy
    để cầu thành tựu
    tuệ giác Phật đà.

    (36) Hoặc thấy bồ tát
    cỗ bàn quí trọng,
    thức uống, đồ ăn,
    các loại dược phẩm,
    đều đem hiến cúng
    Phật bảo Tăng bảo.

    (37) Y phục danh tiếng
    và thượng hảo hạng,
    giá trị ngàn vạn
    hoặc đến vô giá,
    đều đem hiến cúng
    Phật bảo Tăng bảo.

    (38) Nhà cửa quí báu
    bằng gỗ đàn hương,
    trong đó đồ nằm
    rất tốt và đẹp,
    nhà và đồ ấy
    nhiều đến vạn ức,
    đều đem hiến cúng
    Phật bảo Tăng bảo.

    (39) Vườn rừng quang đãng,
    trong đó đủ cả
    hoa trái tốt nhiều,
    suối chảy ao tắm,
    đều đem hiến cúng
    Phật bảo Tăng bảo.

    (40) Đồng đẳng như vậy,
    họ đem hiến cúng
    đủ hết những thứ
    rất là tinh tế,
    mà lòng hoan lạc
    không biết nhàm chán,
    chí quyết đạt đến
    tuệ giác vô thượng.

    (41) Hoặc có bồ tát
    bằng nhiều minh chứng,
    nói về nguyên lý
    tuyệt đối vắng lặng,
    huấn dụ vô số
    các loại chúng sinh.

    (42) Hoặc thấy bồ tát
    xét thấy bản thể
    tất cả vạn hữu
    in như hư không:
    không những khái niệm
    thuộc về nhị biên.
    Lại thấy con Phật
    tâm không vướng mắc,
    đem tuệ mầu này
    cầu tuệ vô thượng.
    *

    (43) Văn Thù đại sĩ,
    có những bồ tát
    Phật nhập diệt rồi
    hiến cúng xá lợi.

    (44) Lại thấy con Phật
    dựng bao chùa tháp
    nhiều bằng Hằng sa
    tô điểm quốc độ.

    (45) Tháp thì tráng lệ,
    làm bằng bảy báu,
    chiều cao có đến
    năm ngàn do tuần,
    chu vi rộng đến
    hai ngàn do tuần.

    (46) Mỗi một chùa tháp
    cờ phan cả ngàn,
    màn được kết ngọc,
    chuông nhỏ hòa reo,
    tám bộ thiên long,
    loài người loài khác,
    thường đem hiến cúng
    hoa hương, kịch nhạc.

    (47) Văn Thù đại sĩ,
    những con Phật ấy
    chính vì hiến cúng
    xá lợi của Phật
    mà cố trang hoàng
    những ngôi chùa tháp,
    nên cả quốc độ
    tự nhiên tráng lệ
    tuyệt diệu tuyệt hảo,
    in như cây chúa
    của trời Đế Thích
    toàn bộ nở hoa.

    *

    (48) Thế Tôn chỉ phóng
    một đường ánh sáng
    mà làm cho tôi
    và cả đại hội
    thấy quốc độ này
    đủ mọi vẻ đẹp.

    (49) Những thần thông lực
    của đức Thế Tôn
    thật là hiếm có:
    chỉ phóng một đường
    ánh sáng rực rỡ
    mà chiếu khắp cả
    vô lượng quốc độ.

    (50) Làm cho chúng tôi
    nhìn cảnh tượng này
    ai cũng cảm được
    sự chưa từng có.
    Phật tử Văn Thù,
    xin hãy giải thích
    cho nỗi nghi ngờ
    của cả đại hội.

    (51) Tất cả bốn chúng
    thích thú trông ngóng,
    nhìn vào nhân giả
    và nhìn vào tôi.

    (52) Ai cũng muốn biết
    tại sao Thế Tôn
    phóng ra ánh sáng
    đến như thế này?

    (53) Phật tử Văn Thù,
    hãy đáp ứng gấp,
    giải tỏa nghi ngờ
    cho họ hoan hỷ:
    vì ích lợi nào
    mà đức Thế Tôn
    phóng ra ánh sáng
    đến như thế này –

    (54) Chánh pháp tinh túy
    mà đức Thế Tôn
    đã chứng ngộ được
    trong khi mới ngồi
    nơi bồ đề tràng,
    ngài muốn tuyên thuyết
    về chánh pháp ấy,
    hay muốn thọ ký?

    (55) Ánh sáng Thế Tôn
    đã làm hiện ra
    cho chúng tôi thấy
    bao nhiêu cõi Phật
    đẹp và sáng lên
    với những ngọc quí,
    lại được thấy cả
    chư vị Phật đà,
    thì đó không phải
    là sự kiện nhỏ.

    (56) Văn Thù đại sĩ,
    nên biết tất cả
    bốn chúng tám bộ
    và các chúng khác,
    nhìn xem nhân giả
    nói cho rhế nào?

    Lúc ấy bồ tát Văn Thù nói với đức Di Lạc, và các vị đại sĩ khác, chư vị thiện nam tử, theo tôi suy xét thì đức Thế Tôn hiện nay muốn nói chánh pháp vĩ đại, đổ mưa chánh pháp vĩ đại, thổi loa chánh pháp vĩ đại, đánh trống chánh pháp vĩ đại, diễn nghĩa chánh pháp vĩ đại. Chư vị thiện nam tử, nơi chư Phật quá khứ, tôi đã từng thấy điềm lành như vậy. Các ngài phóng ra ánh sáng này rồi là nói về chánh pháp vĩ đại. Do đó, chư vị nên biết, đức Thế Tôn hiện nay phóng ra ánh sáng thì cũng sẽ làm như vậy. Muốn làm cho chúng sinh ai cũng nghe biết được cái pháp mà cả thế gian đều khó tin, nên đức Thế Tôn biểu hiện điềm lành như vầy.

    Chư vị thiện nam tửû, như trong quá khứ, lâu đến rất nhiều thời kỳ vô số, bấy giờ có đức Phật danh hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, đủ mười đức hiệu: bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp, bậc Hoàn hảo sự sáng, bậc Khéo qua niết bàn, bậc Lý giải vũ trụ, bậc Không ai trên nữa, bậc Thuần hóa mọi người, bậc Thầy cả trời người, bậc Tuệ giác hoàn toàn: bậc Tôn cao nhất đời. Ngài tuyên thuyết chánh pháp một cách phần đầu phần giữa phần cuối ba phần đều tuyệt hảo, nghĩa lý sâu xa, lời tiếng tukyệt diệu, thuần nhất không tạp, đủ hết sắc thái phạn hạnh trắng trong. Ấy là người cầu Thanh văn thì nói mà đáp ứng bằng bốn chân lý, để họ vượt qua sinh, già, bịnh, chết, cứu cánh niết bàn; người cầu Duyên giác thì nói mà đáp ứng bằng mười hai duyên khởi; còn các vị Bồ tát thì nói mà đáp ứng bằng sáu ba la mật, làm cho họ được tuệ giác vô thượng, nghĩa là thành bậc Tuệ giác biết tất cả.

    Kế đó lại có đức Phật cũng tên Nhật Nguyệt Đăng Minh, kế đó nữa lại có đức Phật cũng tên Nhật Nguyệt Đăng Minh. Như vậy có hai mươi ngàn đức Phật đều cùng một tên, tên Nhật Nguyệt Đăng Minh, và cùng một họ, họ Phả La Đọa. Di Lạc đại sĩ, đại sĩ nên biết, đức Phật đầu tiên cũng như đức Phật cuối cùng đều cùng một tên Nhật Nguyệt Đăng Minh, cùng đủ mười đức hiệu, và pháp mà các ngài tuyên thuyết cũng phần đầu phần giữa phần cuối ba phần đều tuyệt hảo. Đức Phật cuối cùng, khi chưa xuất gia, có tám vương tử, thứ nhất tên Hữu Ý, thứ hai tên Thiện Ý, thứ ba tên Vô Lượng Ý, thứ tư tên Bảo Ý, thứ năm tên Tăng Ý, thứ sáu tên Trừ Nghi Ý, thứ bảy tên Hướng Ý, thứ tám tên Pháp Ý. Cả tám vương tử đều uy đức tự tại, thống lãnh bốn đại lục. Khi nghe phụ hoàng xuất gia, thành tựu tuệ giác vô thượng, thì tám vương tử ấy cùng bỏ ngôi vua mà xuất gia theo, phát tâm Đại thừa, thường hành phạn hạnh, và cùng làm pháp sư, vì đã từng gieo trồng các gốc rễ điều lành ở nơi ngàn vạn đức Phật. Bấy giờ đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh cũng đã nói bản kinh Đại thừa tên Nghĩa Vô Lượng, bản kinh dạy cho bồ tát và được Phật giữ gìn. Nói kinh ấy rồi, đức Phật ấy cũng đã ở ngay giữa đại hội mà ngồi xếp bằng, nhập định vị trí của nghĩa vô lượng, thân thể và tâm trí đều không dao động. Lúc ấy chư thiên cũng mưa xuống hoa Mạn Đà, hoa Mạn Đà lớn, hoa Mạn Thù, hoa Mạn Thù lớn, rải trên đức Phật và cả đại hội. Khắp cõi Phật này cũng chấn động đủ hết sáu cách. Trong đại hội, bốn chúng, tám bộ và các chúng khác, hết thảy các chúng như vậy cũng được sự chưa từng có, hoan hỷ, chắp tay, chuyên chú mà chiêm ngưỡng đức Phật. Còn đức Phật thì cũng từ nơi tướng lông trắng giữa hai đầu của hai hàng lông mày phóng ra ánh sáng, chiếu soi mười tám ngàn cõi Phật ở về hướng đông, không cõi Phật nào mà không chiếu soi khắp cả, y như những cõi Phật mà ngày nay chư vị đang thấy.

    Di Lạc đại sĩ, đại sĩ nên biết, trong đại hội lúc ấy có hai mươi ức bồ tát ưa thích nghe pháp. Các vị bồ tát này thấy ánh sáng của Phật chiếu khắp các cõi Phật như vậy thì cũng được sự chưa từng có, và cũng muốn biết mục đích của ánh sáng ấy. Bấy giờ có một vị bồ tát tên Diệu Quang, có tám trăm đệ tử. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh xuất định, nhân bồ tát Diệu Quang mà nói bản kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa, bản kinh dạy cho bồ tát và được Phật giữ gìn. Ngài nói đến sáu mươi thời kỳ bậc nhỏ, không đứng dậy khỏi pháp tòa. Đại hội thính giả lúc ấy cũng ngồi một chỗ, trải qua sáu mươi thời kỳ bậc nhỏ mà thân thể và tâm trí đều bất động, nghe đức Phật nói thì cho rằng chỉ bằng thì gian một bữa ăn. Cả đại hội không một ai mà thân thể hay tâm trí sinh nhác sinh mệt. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh Pháp Hoa trong sáu mươi thời kỳ bậc nhỏ rồi, liền ở giữa đại hội các chúng phạn vương, ma vương, sa môn, bà la môn, và chư thiên, nhân loại, tu la, tuyên ngôn rằng giữa đêm hôm nay Như Lai sẽ nhập niết bàn hoàn toàn.

    Bấy giờ có bồ tát tên Đức Tạng, đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh liền thọ ký cho, bằng cách nói với chư vị Tỷ kheo, rằng vị bồ tát Đức Tạng này sẽ kế tiếp làm Phật, danh hiệu Tịnh Thân, bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và kháép. Thọ ký rồi, ngay giữa đêm ấy, đức Phật nhập niết bàn hoàn toàn. Sau đó bồ tát Diệu Quang ghi nhớ Pháp Hoa, diễn giảng cho người trọn tám mươi thời kỳ bậc nhỏ. Tám vương tử con đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều tôn thờ bồ tát Diệu Quang làm thầy, bồ tát ấy giáo hóa, làm cho tám vương tử vững chắc đối với tuệ giác vô thượng. Tám vương tử, sau đó, phụng sự rất nhiều ức đức Phật rồi, được thành Phật cả, và vị thành Phật cuối cùng danh hiệu là Nhiên Đăng. Trong tám trăm đệ tử của bồ tát Diệu Quang, có một vị tên là Cầu Danh, đam mê danh lợi, dẫu cũng đọc tụng kinh pháp mà không thông suốt, phần nhiều quên mất, nên mới có cái tên Cầu Danh. Nhưng vị này cũng nhờ sự gieo trồng các gốc rễ điều lành mà được gặp rất nhiều ức đức Phật, hiến cúng, cung kính, tôn trọng và tán dương. Di Lạc đại sĩ, đại sĩ nên biết bồ tát Diệu Quang lúc ấy đâu phải ai khác, mà chính là tôi đây, còn bồ tát Cầu Danh thì chính là đại sĩ. Ngày nay thấy điềm lành như vầy so với ngày xưa không khác gì cả, nên tôi nghĩ rằng đức Thế Tôn hiện nay sẽ tuyên thuyết về bản kinh Đại thừa tên là Pháp Hoa, bản kinh dạy cho bồ tát và được Phật giữ gìn.

    Lúc ấy, ở giữa đại hội, bồ tát Văn Thù muốn lập lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (57) Tôi nhớ quá khứ
    vô số thời kỳ,
    có đức Phật đà,
    bậc tôn cao nhất,
    danh hiệu ngài là
    Nhật Nguyệt Đăng Minh.

    (58) Đức Phật đà ấy
    tuyên thuyết chánh pháp
    hóa độ vô lượng
    các loại chúng sinh,
    và vô số ức
    các vị Bồ tát,
    làm cho vào được
    tuệ giác Phật đà.

    (59) Có tám vương tử
    con của Phật sinh
    lúc chưa xuất gia,
    thấy Phật xuất gia
    cũng xuất gia theo
    thực hành phạn hạnh.

    (60) Bấy giờ Phật nói
    bản kinh đại thừa
    tên Nghĩa Vô Lượng,
    giảng giải rộng rãi
    nghĩa lý vô lượng
    cho cả đại hội.

    (61) Phật tuyên thuyết xong
    bản kinh ấy rồi,
    liền ngồi xếp bằng
    ngay trên pháp tòa,
    nhập định Vị trí
    của nghĩa vô lượng.

    (62) Chư thiên mưa xuống
    hoa mạn đà la,
    và trống chư thiên
    tự kêu vang rền;
    tám bộ thiên long
    dùng hoa trống ấy
    hiến cúng lên bậc
    tôn cao nhất người.

    (63) Toàn cõi Phật này
    đồng thời chấn động.
    Và rồi đức Phật
    phóng ra ánh sáng
    từ nơi lông trắng
    giữa hai đầu mày,
    biểu hiện đủ cả
    cảnh tượng hiếm có.
    *

    (64) Ánh sáng như vậy
    chiếu soi một vạn
    tám ngàn cõi Phật
    ở về hướng đông,
    biểu hiện cho thấy
    tất cả những chỗ
    các loại chúng sinh
    sinh ra chết đi,
    hành động lành dữ,
    hưởng chịu tốt xấu.

    (65) Lại được nhìn thấy
    có những cõi Phật
    toàn thể trang hoàng
    bằng bao vàng ngọc,
    ánh lên màu sắc
    lưu ly pha lê;
    đại hội thấy được
    đến như thế này
    là do ánh sáng
    của Phật chiếu soi.

    (66) Lại thấy tất cả
    tám bộ thiên long
    cùng với nhân loại
    tại mỗi quốc độ
    cùng nhau hiến cúng
    đức Phật của mình.

    (67) Lại thấy chư Phật
    tự thành Phật tuệ,
    thân như núi vàng
    cực kỳ tráng lệ.
    Các ngài ở giữa
    đại hội thánh hiền
    diễn giảng nghĩa ý
    của pháp sâu xa,
    thì trông giống như
    những tượng vàng thật
    hiện trong các khối
    lưu ly trong suốt.

    (68) Trong mỗi cõi Phật,
    thanh văn vô số,
    cũng nhờ ánh sáng
    của Phật chiếu soi
    mà thấy rõ cả
    chúng thanh văn ấy.

    (69) Thấy chư tỷ kheo
    ở trong núi rừng,
    tinh tiến giữ giới
    như giữ ngọc sáng.

    (70) Lại thấy bồ tát
    nỗ lực bố thí
    kiên trì nhẫn nhục,
    số bồ tát ấy
    nhiều như hằng sa
    mà thấy được cả,
    là do ánh sáng
    của Phật chiếu soi.

    (71) Thấy các bồ tát
    tinh tiến nhập định
    một cách sâu xa,
    thân tâm bất động,
    đem thiền định ấy
    cầu trí vô thượng.

    (72) Thấy các bồ tát
    biết rất thấu suốt
    thật tướng vắng lặng
    của tất cả pháp,
    thuyết thật tướng ấy
    nơi quốc độ mình,
    đem bát nhã này
    cầu thành trí Phật.

    (73) Bấy giờ bốn chúng
    được thấy đức Phật
    Nhật Nguyệt Đăng Minh
    biểu hiện thần lực
    đến như thế ấy,
    lòng họ hoan hỷû
    và cùng hỏi nhau,
    rằng cảnh tượng này
    vì lý do nào
    mà Phật biểu hiện?
    *

    (74) Khi ấy đức Phật,
    đấng mà trời người
    ai cũng tôn thờ,
    vừa mới xuất định,
    tức thì khen ngợi
    bồ tát Diệu Quang:

    (75) Ông là con mắt
    của cả thế gian!
    Ai cũng qui về
    tin tưởng nơi ông!
    Ông kính giữ được
    kho tàng chánh pháp!
    Kho tàng chánh pháp
    mà rồi Như Lai
    sẽ nói hết ra,
    chỉ ông chứng biết!

    (76) Đức Phật khen ngợi
    làm cho bồ tát
    Diệu Quang hoan hỷ,
    rồi nói Pháp Hoa
    suốt hết sáu mươi
    thời kỳ bậc nhỏ.

    (77) Và pháp tối thượng
    tuyệt diệu như vậy
    được Phật tuyên thuyết
    mà không đứng dậy
    rời khỏi pháp tòa,
    pháp sư Diệu Quang
    vẫn tiếp nhận được
    và ghi nhớ cả.

    (78) Đức Phật tuyên thuyết
    về kinh Pháp Hoa
    làm cho các chúng
    hoan hỷ cả rồi,
    liền trong ngày ấy
    ngài bảo các chúng:

    (79) Thật tướng các pháp
    Như Lai đã đem
    nói cho các người.
    Giữa đêm hôm nay
    Như Lai sẽ nhập
    niết bàn hoàn toàn.

    (80) Các người cần phải
    một lòng tinh tiến
    chuyên chú vào pháp
    Như Lai đã nói,
    còn sự phóng dật
    nên tránh thật xa;
    vì lẽ chư Phật
    rất là khó gặp,
    vạn ức thời kỳ
    mới thấy một lần.

    (81) Đệ tử của Phật
    nghe Phật loan báo
    sắp sửa nhập diệt,
    ai cũng đau buồn
    nghĩ Phật nhập diệt
    sao mà mau chóng.

    (82) Vị chúa thánh triết
    và vua các pháp
    an ủi các chúng:
    sau khi Như Lai
    nhập niết bàn rồi
    các người đừng lo.

    (83) Bồ tát Đức Tạng
    tâm trí thấu triệt
    thật tướng thuần khiết,
    sẽ kế Như Lai
    thành đức Phật đà
    danh hiệu Tịnh Thân,
    và cũng hóa độ
    vô lượng các chúng.

    (84) Rồi giữa đêm ấy
    đức Phật nhập diệt
    như củi mà hết
    thì lửa cũng tắt.
    Sau đó xá lợi
    được phân bủa ra
    và xây dựng lên
    vô số bảo tháp.

    (85) Chư vị tỷ kheo
    và tỷ kheo ni
    số lượng nhiều đến
    như cát sông Hằng,
    lại càng nỗ lực
    tinh tiến hơn lên
    để cầu đạt được
    tuệ giác vô thượng.
    *

    (86) Phần ngài Diệu Quang,
    pháp sư bồ tát,
    kính giữ kho tàng
    chánh pháp của Phật,
    trải qua tám mươi
    thời kỳ bậc nhỏ
    tuyên thuyết rộng rãi
    Diệu Pháp Liên Hoa.

    (87) Còn tám vương tử
    thì nhờ bồ tát
    Diệu Quang khai hóa,
    tất cả đều được
    vững chắc đối với
    tuệ giác vô thượng,
    nên sau gặp được
    vô số Phật đà.

    (88) Các vị phụng sự
    chư Phật như vậy,
    cùng nhau đi theo
    con đường vĩ đại,
    nên kế tiếp nhau
    được thành Phật cả,
    và theo thứ tự
    thọ ký cho nhau.

    (89) Đức Phật cuối cùng,
    vị trời nhất trời,
    danh hiệu ngài là
    Nhiên Đăng Như Lai,
    bậc thầy dẫn đạo
    các vị hiền triết,
    độ cho giải thoát
    vô số các chúng.

    (90) Pháp sư Diệu Quang
    có một đệ tử
    tính thường biếng nhác
    đam mê danh lợi,

    (91) cầu hồ danh lợi
    một cách không chán,
    nên hay giao du
    với nhà dòng dõi,
    bỏ bê kinh pháp
    đã được tụng tập,
    nên hay quên mất
    chứ không thông suốt.

    (92) Vì lý do ấy
    có tên Cầu Danh.

    (93) Nhưng cũng thực hành
    đủ các pháp lành,
    gặp được vô số
    chư vị Phật đà,
    phụng sự hiến cúng
    Phật đà như vậy
    và cũng đi theo
    con đường vĩ đại,
    hoàn thiện sáu pháp
    đến bờ bên kia,
    nên nay lại gặp
    Sư tử họ Thích.

    (94) Thì gian sau ngài,
    sẽ kế làm Phật
    với danh hiệu là
    Di Lạc từ tôn,
    cứu độ rộng rãi
    các loại chúng sinh
    mà số lượng ấy
    không thể tính kể.
    *

    (95) Sau khi đức Phật
    Nhật Nguyệt Đăng Minh
    nhập niết bàn rồi,
    người hay biếng nhác
    chính là đại sĩ,
    còn vị pháp sư
    bồ tát Diệu Quang
    là bản thân tôi.

    (96) Chính tôi xưa kia
    Ở nơi đức Phật
    Nhật Nguyệt Đăng Minh
    đã từng thấy được
    điềm lành ánh sáng
    như tôi vừa nói.

    (97) Vì vậy tôi biết
    Thế Tôn ngày nay
    chủ ý muốn nói
    về kinh Pháp Hoa.

    (98) Cảnh tượng hiện nay
    giống điềm lành cũ,
    và là phương tiện
    của chư Thế Tôn:
    Thế Tôn ngày nay
    phóng ánh sáng lớn
    là để hổ trợ
    phát hiện thật tướng.

    (99) Chư vị nên biết
    chủ ý như vậy,
    và hãy chắp tay
    nhất tâm mà chờ.
    Thế Tôn sẽ đổ
    nước mưa chánh pháp,
    sung túc những người
    cầu tuệ giác Phật.

    (100) Tất cả những người
    cầu ba cỗ xe
    nếu có điều gì
    hoài nghi hối tiếc,
    thì vị Toàn giác
    sẽ giải trừ cho –
    giải trừ sạch hết,
    không còn sót lại

    Phẩm 2: Phương tiện

    Khi ấy đức Thế Tôn thung dung xuất định, nói với tôn giả Xá lợi Phất, tuệ giác Như Lai sâu xa vô tận, cửa ngõ tuệ giác ấy khó biết khó vào. Hết thảy Thanh văn Duyên giác không thể biết thấu. Vì sao, vì Như Lai đã từng thân gần vô số chư Phật, thực hành trọn vẹn vô số các pháp đạt đến tuệ giác vô thượng mà chư Phật ấy đã thực hành, dũng mãnh tinh tiến, danh tiếng vang khắp, và thành tựu sự chưa từng có rất là sâu xa, ấy là tùy nghi thuyết pháp, ý hướng khó hiểu. Xá lợi Phất, từ khi trở thành bậc Toàn giác cho đến ngày nay, Như Lai đem mọi thứ yếu tố và mọi sự ví dụ mà diễn rộng các cách lập luận, vận dụng vô số phương tiện ấy dẫn dắt chúng sinh thoát được sự vướng mắc vào điểm này hay điểm khác. Tại sao Như Lai làm được như vậy? Vì Như Lai đã hoàn thành sự thấy biết toàn hảo và sự phương tiện toàn hảo. Xá lợi Phất, sự thấy biết của Như Lai rộng lớn sâu xa: những phẩm chất của sự thấy biết ấy đại loại như bốn tâm vô hạn, bốn trí thông suốt, mười đại năng lực, bốn sự không sợ, bốn thiền, bốn định, tám sự giải thoát, ba pháp tam muội, Như Lai đã đi sâu vào một cách không có giới hạn, nên thành tựu sự chưa từng có nói trên. Do đó, Xá lợi Phất, Như Lai phân tích và khéo nói các pháp, lời chữ hòa nhã, đẹp lòng mọi người. Lấy cốt yếu mà nói, thì sự chưa từng có có tính cách vô lượng vô biên, Như Lai đã thành tựu đầy đủ.

    Xá lợi Phất, thôi, không nên nói nữa, vì sự chưa từng có, và khó hiểu bậc nhất ấy, mà Như Lai đã thành tựu, là chỉ Như Lai với chư vị Như Lai mới cứu xét cùng tận và tuyên thuyết khéo léo về thật tướng các pháp. Thật tướng ấy là biểu hiện như vậy, đặc tính như vậy, bản thể như vậy, năng lực như vậy, động tác như vậy, nhân tố như vậy, duyên tố như vậy, kết quả như vậy, hình thành như vậy, toàn bộ như vậy.

    Khi ấy đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (1) Vô lượng những bậc
    anh hùng trong đời,
    chư thiên nhân loại
    hết thảy chúng sinh,
    không ai hiểu thấu
    đối với Như Lai.

    (2) Mười đại năng lực
    bốn sự không sợ
    tám sự giải thoát
    ba pháp tam muội
    cùng với bao nhiêu
    phẩm chất Phật đà
    mà Như Lai có,
    thì không một ai
    có thể biết được
    một cách tận tường.

    (3) Vốn từ vô số
    chư Phật Như Lai
    Như Lai trọn vẹn
    thực hành các pháp
    tuệ giác vô thượng,
    là pháp cực kỳ
    sâu xa tinh túy
    khó mà thấy biết.

    (4) Trải qua vô lượng
    vạn ức thời kỳ,
    thực hành trọn vẹn
    các pháp ấy rồi,
    Như Lai đến ngồi
    nơi bồ đề tràng,
    được đại thành quả
    biết rõ tất cả.

    (5) Đại thành quả này
    biết rõ những nghĩa
    biểu hiện như vậy
    đặc tính như vậy…
    chỉ có Như Lai
    cùng với mười phương
    chư Như Lai khác
    mới biết như vậy.

    (6) Và pháp như vậy
    không thể phô bày,
    khái niệm ngôn ngữ
    bặt dấu ở đây.

    (7) Hết thảy chúng sinh
    không ai hiểu nổi,
    trừ chư bồ tát
    đức tin vững chắc.

    (8) Những con Phật khác
    dẫu từng hiến cúng
    chư Phật Như Lai,
    phiền não đã hết,
    đã đến trạng thái
    thân này là thân
    sống chết cuối cùng,
    các vị như vậy
    năng lực của họ
    cũng vẫn bất kham.

    (9) Giả sử tràn đầy
    thế giới loài người
    ai nấy đều như
    Xá lợi Phất cả,
    cùng tận tư duy
    chung nhau suy lường,
    cũng không lường được
    tuệ giác Như Lai.

    (10) Nếu thật đầy khắp
    mười phương quốc độ
    ai nấy đều như
    Xá lợi Phất cả,
    hoặc như các vị
    đại đệ tử khác
    cũng đầy khắp cả
    mười phương quốc độ,

    (11) cùng tận tư duy
    chung nhau suy lường,
    vẫn không biết được
    tuệ giác Như Lai.

    (12) Các vị Duyên giác
    trí tuệ lanh lợi
    phiền não không còn,
    thân họ cũng là
    cái thân cuối cùng;
    các vị như vậy
    cũng đầy mười phương
    như một rừng tre,

    (13) cùng nhau một lòng,
    trải qua vô lượng
    vạn ức thời kỳ,
    suy nghĩ cho thấu
    tuệ giác chân thật
    mà Như Lai có,
    cũng vẫn không thể
    biết được ít phần.

    (14) Các vị bồ tát
    mới phát tâm chí,
    phụng sự vô số
    chư Phật Như Lai,
    thấu triệt pháp nghĩa
    lại khéo thuyết pháp;

    (15) các vị như vậy
    như lúa như tre,
    tràn đầy khắp cả
    mười phương quốc độ,

    (16) kết hợp vận dụng
    trí tuệ tinh tế,
    trải qua thời kỳ
    nhiều bằng hằng sa,
    chung sức tư duy
    chung nhau ước lượng,
    cũng không biết được
    tuệ giác Như Lai.

    (17) Các vị bồ tát
    đã không thoái chuyển,
    số lượng nhiều bằng
    cát của sông Hằng,
    cùng nhau tìm xét
    cũng không biết được.

    (18) Này Xá lợi Phất,
    cái pháp cực kỳ
    sâu xa, tinh túy,
    không còn sai sót,
    ngoài tầm nghĩ bàn,
    Như Lai đã biết
    một cách đầy đủ.
    Và chỉ Như Lai
    mới biết pháp ấy,
    cũng như chư vị
    Như Lai mười phương
    mới biết như vậy.

    (19) Này Xá lợi Phất,
    tôn giả nên biết
    lời Như Lai nói
    không có mâu thuẫn.
    Đối với cái pháp
    của Như Lai nói,
    các người phải có
    đức tin lớn lao.
    Bởi vì nguyên tắc
    của chư Như Lai
    sau thì gian dài
    phải nói sự thật.

    (20) Cho nên ngày nay
    Như Lai tuyên cáo
    với chư Thanh văn
    và chư Duyên giác,
    những người đã được
    Như Lai làm cho
    thoát khổ thắt buộc
    đạt được niết bàn,

    (21) rằng đó chỉ là
    Như Lai vận dụng
    năng lực phương tiện
    thiết ba cỗ xe,
    để ai vướng mắc
    bất cứ chỗ nào
    Như Lai cũng dắt
    cho được thoát ra.

    Lúc ấy trong đại hội có một ngàn hai trăm vị A la hán đã hết phiền não, thuộc chúng Thanh văn, đại loại như tôn giả Kiềàu trần Như, cùng tỷ kheo và tỷ kheo ni, ưu bà tắc và ưu bà di, những người tâm chí thanh văn duyên giác, đều nghĩ như vầy, tại sao hôm nay đức Thế Tôn ân cần tán dương sự phương tiện, bằng cách nói rằng pháp Như Lai được cực kỳ sâu xa tinh túy và khó hiểu, rằng Như Lai nói gì ý hướng cũng khó biết, rằng hết thảy thanh văn duyên giác không thể đạt đến? Đức Thế Tôn nói về sự giải thoát đồng nhất thì chúng ta cũng thành tựu sự ấy, đạt đến niết bàn. Nhưng hôm nay thì chúng ta không biết sự ấy về đâu.

    Tôn giả Xá lợi Phất biết nỗi hoài nghi trong lòng bốn chúng và chính mình cũng chưa thấu triệt, nên thưa rằng, bạch đức Thế Tôn, vì yếu tố chính và yếu tố phụ nào mà đức Thế Tôn ân cần tán dương sự phương tiện bậc nhất của ngài là pháp sâu xa, tinh túy và khó hiểu? Hồi nào đến giờ con chưa hề nghe đức Thế Tôn nói như vậy. Hiện giờ bốn chúng đều nghi ngại. Con thỉnh cầu đức Thế Tôn giải thích vấn đề này cho chúng con: vì lý do nào mà ngài ân cần tán dương sự phương tiện của ngài là sâu xa, tinh túy và khó hiểu? Tôn giả Xá lợi Phất muốn lặp lại ý nghĩa đã hỏi, nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (22) Mặt trời tuệ giác,
    bậc đại thánh triết,
    lâu rồi mới nói
    điều đặc biệt này.
    Là ngài tự nói
    bao nhiêu phẩm chất
    mà Như Lai có,
    đại loại như là
    mười đại năng lực
    bốn sự không sợ
    ba pháp tam muội
    bốn thiền bốn định
    tám sự giải thoát,
    toàn là những pháp
    trên sự tư duy
    ngoài tầm thảo luận.

    (23) Ngài tự nói đến
    pháp mà ngài biết
    trong khi ngài ngồi
    nơi Bồ đề tràng,
    chứ không một ai
    có thể hỏi thấu.
    Ngài lại tự nói
    ý ngài khó biết,
    điều này cũng không
    một ai hỏi được.

    (24) Không ai hỏi được,
    chỉ ngài tự nói,
    tán dương con đường
    mà ngài đã đi,
    tán dương tuệ giác
    cực kỳ tinh túy
    mà như chư Phật,
    ngài đã đạt được.

    (25) Các vị La Hán
    đã hết phiền não,
    cùng với những vị
    cầu được Niết bàn,
    hôm nay cùng sa
    vào lưới ngờ vực:
    Thế Tôn vì gì
    tự nói như vậy?

    (26) Những vị cầu được
    tuệ giác duyên giác,
    các vị tỷ kheo
    và tỷ kheo ni,
    cùng với tất cả
    tám bộ thiên long,
    ai cũng bối rối
    mà nhìn lẫn nhau
    và nhìn lên ngài,
    một bậc hoàn hảo
    cả hai phương diện
    phước đức tuệ giác.

    (27) Bạch đức Thế Tôn,
    việc này thế nào?
    xin ngài giải thích
    cho chúng con rõ.

    (28) Trong chúng Thanh văn,
    Thế Tôn nói con
    là bậc thứ nhất,
    nhưng nay chính con
    tự mình đối với
    tuệ giác của mình
    cũng sinh nghi hoặc:
    không rõ tuệ ấy
    đã là cứu cánh
    hay phải tới nữa?

    (29) Bao nhiêu con Phật
    sinh từ miệng Phật
    nay đang chắp tay
    ngước nhìn chờ đợi,
    ước mong Thế Tôn
    xuất ra âm thanh
    cực kỳ tuyệt diệu,
    kịp thời nói cho
    về pháp của ngài
    đúng như pháp ấy.

    (30) Tám bộ thiên long
    số bằng hằng sa,
    chư vị Bồ tát
    cầu tuệ giác Phật
    số lượng đại khái
    cũng có tám vạn.

    (31) Lại còn xuất từ
    vạn ức các nước,
    các vị luân vương
    cùng nhau đến đây,
    ai cũng chắp tay
    đem lòng cung kính
    mong muốn được nghe
    con đường hoàn hảo.

    Đức Thế Tôn bảo tôn giả Xá Lợi Phất, thôi thôi, không nên nói. Nói vấn đề này thì cả thế gian, trong đó có chư thiên và nhân loại, sẽ kinh sợ ngờ vực. Tôn giả Xá Lợi Phất lại thưa, bạch đức Thế Tôn, xin đức Thế Tôn dạy cho vấn đề này, vấn đề này xin đức Thế Tôn dạy cho. Vì đại hội này nhiều đến trăm ngàn, vạn ức, vô số, có nhiều người từng gặp chư Phật, các căn lanh lợi, trí tuệ sáng tỏ, nghe đức Thế Tôn dạy thì có thể kính tin. Tôn giả Xá Lợi Phất muốn lặp lại ý nghĩa đã thưa, nên nói lời chỉnh cú sau đây:

    (32) Bạch đức Vô Thượng,
    vị vua các pháp!
    xin ngài dạy cho
    không cần e ngại.
    Đại hội các chúng
    vô số như vầy,
    tất có những người
    có thể kính tin.

    Đức Thế Tôn lại ngăn tôn giả Xá Lợi Phất, rằng nếu Như Lai nói vấn đề này thì cả thế gian, trong đó có chư thiên, nhân loại và tu la, sẽ cùng kinh sợ, ngờ vực, những vị tỷ kheo tăng thượng mạn sẽ rơi xuống hố lớn. Đức Thế Tôn lặp lại ý ngài bằng lời chỉnh cú sau đây:

    (33) Thôi thôi, đừng hỏi!
    Pháp của Như Lai
    tinh túy, khó biết.
    Những kẻ thượng mạn
    nghe nói pháp ấy
    tất không kính tin.

    Tôn giả Xá Lợi Phất lại thưa, bạch đức Thế Tôn, xin đức Thế Tôn dạy cho vấn đề này, vấn đề này xin đức Thế Tôn dạy cho. Nay trong đại hội này, những người như con, và trăm ngàn vạn ức người, đời đời đã từng tiếp nhận sự giáo hóa của đức Thế Tôn; những người như vậy chắc chắn có thể kính tin, ổn định lâu dài và lợi ích lớn lao. Tôn giả Xá Lợi Phất lặp lại ý mình bằng những lời chỉnh cú sau đây.

    (34) Thưa đấng Vô Thượng,
    phước trí toàn hảo!
    xin ngài dạy cho
    cái pháp bậc nhất.
    Con là con trưởng
    của đức Thế Tôn,
    con thỉnh cầu ngài
    dạy cho chúng con.
    Trong đại hội này
    có vô số người
    có thể kính tin
    về pháp ngài dạy.

    (35) Đời đời liên tiếp,
    Thế Tôn đã từng
    giáo hóa tiếp độ
    những người như vầy.
    Nay họ chắp tay
    đồng nhất tâm nguyện
    muốn nghe và nhận
    lời Thế Tôn nói.

    (36) Những người như con
    một ngàn hai trăm,
    cùng với các vị
    cầu tuệ giác Phật,
    xin đức Thế Tôn
    vì những người này
    rủ lòng thương xót
    mà giảng giải cho.
    Những người này đây
    nghe được pháp này
    thì lòng sinh ra
    hoan hỷ cùng cực.

    Khi ấy đức Thế Tôn bảo tôn giả Xá lợi Phất, tôn giả đã thiết tha thỉnh cầu đến lần thứ ba, nên Như Lai không thể không nói. Vậy tôn giả hãy lắng nghe, hãy khéo nghĩ và khéo nhớ! Như Lai sẽ phân tích giảng giải cho tôn giả. Khi đức Thế Tôn dạy như vậy, trong đại hội có đến năm ngàn tỷ kheo và tỷ kheo ni, ưu bà tắc và ưu bà di, tức thì đứng dậy khỏi chỗ họ ngồi, đảnh lễ đức Thế Tôn mà lui ra. Những người này gốc rễ tội lỗi về tăng thượng mạn thật là sâu nặng, chưa được tự cho đã được, chưa chứng tự cho đã chứng, lầm lẫn đến thế nên họ không ở lại. Đức Thế Tôn cũng yên lặng mà không ngăn cản. Ngài bảo tôn giả Xá lợi Phất, đaị hội này của Như Lai nay không còn trấu lép, mà chỉ toàn là hạt chắc. Xá lợi Phất, tăng thượng mạn như những người kia thì lui ra cũng tốt. Bây giờ tôn giả hãy nghe cho khéo, Như Lai sẽ giảng giải cho tôn giả. Tôn giả Xá lợi Phất thưa, dạ, bạch đức Thế Tôn; chúng con ước nguyện và thích thú muốn nghe.

    Đức Thế Tôn bảo tôn giả Xá lợi Phất, cái pháp tinh túy này Như Lai thỉnh thoảng mới nói, như hoa ưu đàm thỉnh thoảng mới xuất hiện một lần. Xá lợi Phất, chư vị hãy tin lời Như Lai nói không trống rỗng, dối trá. Xá lợi Phất, Như Lai tùy nghi thuyết pháp, ý hướng khó hiểu. Tại sao, vì Như Lai hoạt dụng vô số phương tiện, trong đó gồm có các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, mà diễn đạt về pháp. Pháp ấy không phải tư duy phân tích mà lĩnh hội được. Pháp ấy chỉ có chư Phật Như Lai mới chứng biết.

    Sự thể là chư Phật Như Lai chỉ vì lý do duy nhất và trọng đại mà xuất hiện thế gian. Xá lợi Phất, lý do duy nhất và trọng đại mà chư Phật Như Lai xuất hiện thế gian là gì? Là chư Phật Như Lai muốn làm cho chúng sinh khai mở sự thấy biết của Phật được trong sáng nên xuất hiện thế gian, muốn chỉ thị cho chúng sinh sự thấy biết của Phật được trong sáng nên xuất hiện thế gian, muốn làm cho chúng sinh tỉnh ngộ sự thấy biết của Phật được trong sáng nên xuất hiện thế gian, muốn làm cho chúng sinh nhập vào con đường thấy biết của Phật được trong sáng nên xuất hiện thế gian. Xá lợi Phất, như thế đó là lý do duy nhất và trọng đại mà chư Phật Như Lai xuất hiện thế gian. Và Xá lợi Phất, như thế đó tức là chư Phật Như Lai chỉ giáo hóa bồ tát, nghĩa là làm gì cũng thường vì một việc, ấy là đem sự thấy biết của Phật mà chỉ thị cho chúng sinh tỉnh ngộ.

    Xá lợi Phất, Như Lai chỉ đem cỗ xe duy nhất là cỗ xe Phật đà mà thuyết pháp cho chúng sinh, không có cỗ xe nào khác dầu là cỗ xe thứ hai hay là cỗ xe thứ ba. Xá lợi Phất, pháp của chư Phật mười phương cũng là như vậy. Xá lợi Phất, chư Phật quá khứ đã vận dụng vô số phương tiện, trong đó gồm có các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, mà thuyết pháp cho chúng sinh, pháp ấy toàn là của cỗ xe Phật đà duy nhất, nên chúng sinh nghe pháp nơi chư Phật ấy thì cứu cánh đều được tuệ giác biết tất cả. Chư Phật vị lai sẽ xuất hiện thế gian cũng vận dụng vô số phương tiện, trong đó gồm có các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, mà thuyết pháp cho chúng sinh, pháp ấy toàn là của cỗ xe Phật đà duy nhất, nên chúng sinh nghe pháp nơi chư Phật ấy thì cứu cánh cũng đều được tuệ giác biết tất cả. Hiện tại, trong vô lượng cõi Phật khắp cả mười phương, chư Phật đang làm lợi ích và yên vui rất nhiều cho chúng sinh, chư Phật như vậy cũng vận dụng vô số phương tiện, trong đó gồm có các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, mà thuyết pháp cho chúng sinh, pháp ấy toàn là của cỗ xe Phật đà duy nhất, nên chúng sinh nghe pháp nơi chư Phật ấy thì cứu cánh cũng đều được tuệ giác biết tất cả. Xá lợi Phất, chư Phật ba đời trong mười phương làm như vậy là đồng nghĩa với việc chỉ giáo hóa bồ tát: muốn đem sự thấy biết của Phật khai mở cho chúng sinh, muốn đem sự thấy biết của Phật chỉ thị cho chúng sinh, muốn đem sự thấy biết của Phật thức tỉnh cho chúng sinh, muốn dẫn chúng sinh nhập vào con đường thấy biết của Phật. Xá lợi Phất, nay Như Lai cũng làm như vậy. Như Lai biết rõ những thị hiếu và vướng mắc của các loại chúng sinh; tùy bản tính của họ, Như Lai vận dụng các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, nghĩa là vận dụng năng lực phương tiện, mà thuyết pháp. Xá lợi Phất, Như Lai làm như vậy toàn là để cho họ cùng được tuệ giác biết tất cả của cỗ xe Phật đà duy nhất.

    Xá lợi Phất, như vậy là trong mười phương quốc độ, cỗ xe thứ hai còn không có, huống chi có cỗ xe thứ ba. Nhưng, Xá lợi Phất, chư Phật Như Lai xuất hiện trong thời kỳ dữ dội thì đó là thời kỳ đủ cả năm thứ vẩn đục: thời kỳ vẩn đục, tâm lý vẩn đục, con người vẩn đục, kiến thức vẩn đục, mạng sống vẩn đục. Khi thời kỳ vẩn đục loạn lên, thì chúng sinh dơ bẩn dày nặng, keo lẫn, tham lam, ganh ghét, hoàn thành đủ thứ bất thiện, nên chư Phật Như Lai phải vận dụng năng lực phương tiện: chính nơi cỗ xe duy nhất là cỗ xe Phật đà mà giả thiết ra, nói có ba cỗ xe. Do đó, Xá lợi Phất, nếu là đệ tử của Như Lai, tự gọi là La hán, là Duyên giác, mà không nghe không biết đến việc Như Lai chỉ giáo hóa bồ tát như trên, thì những người ấy không phải đệ tử của Như Lai: không phải La hán, không phải Duyên giác. Những vị tỷ kheo và tỷ kheo ni như vậy tự cho đã thành La hán, thân mình là thân cuối cùng, mình cứu cánh niết bàn, rồi không còn có chí mong cầu tuệ giác vô thượng, thì tôn giả nên biết họ toàn là người tăng thượng mạn. Vì lẽ nếu có vị nào thật được thành La hán mà không tin pháp này thì vô lý, trừ ra sau khi Như Lai đã nhập diệt, trước mặt họ không có Như Lai nữa – Sau khi Như Lai nhập diệt, kinh Pháp Hoa này có ai tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, lý giải ý nghĩa…, người ấy thật khó có. Nếu gặp đức Phật khác thì đối với kinh này họ nhận thức được ngay.

    Nói tóm, Xá lợi Phất, chư vị hãy nhất tâm mà tin tưởng, lý giải, tiếp nhận và ghi nhớ lời của Như Lai nói. Lời của chư Phật Như Lai nói thì không trống rỗng, dối trá, nói rằng không có cỗ xe nào khác mà chỉ có cỗ xe duy nhất là cỗ xe Phật đà.

    Khi ấy đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (37) Chư vị tỷ kheo
    và tỷ kheo ni
    mà có thượng mạn,
    cùng ưu bà tắc
    và ưu bà di
    mà lòng không tin,
    bốn chúng như vậy
    số có năm ngàn.

    (38) Họ không tự thấy
    mình đã khinh suất.
    Họ thiếu giới hạnh,
    che giấu tỳ vết.
    Hạng trí nhỏ ấy
    đã lui hết rồi.

    (39) Trong đại hội này
    họ là cặn bã.
    Họ lui là vì
    uy thần Như Lai.
    Họ là những kẻ
    thiếu cả phước đức,
    không kham tiếp nhận
    diệu pháp như vầy.

    (40) Trong đại hội này
    nay hết trấu lép,
    còn lại chỉ có
    toàn là hạt chắc.

    (41) Này Xá lợi Phất,
    hãy nghe cho khéo
    về pháp Như Lai
    đã thành tựu được,
    và về phương tiện
    Như Lai hoạt dụng
    để nói pháp ấy
    cho các chúng sinh.
    *

    (42) Quan niệm, đạo hạnh,
    thị hiếu, khuynh hướng,
    hành vi lành dữ
    đời trước đã làm,
    tất cả điều này
    của các chúng sinh
    Như Lai nhận thức
    rất là rõ ràng.

    (43) Thế rồi Như Lai
    sử dụng mọi thứ
    yếu tố, ví dụ,
    cùng với lời chữ,
    nghĩa là dùng đến
    năng lực phương tiện,
    làm cho chúng sinh
    hoan hỷ tất cả.

    (44) Cho nên Như Lai
    đã nói tản văn,
    chỉnh cú độc lập,
    việc cũ, đời trước,
    việc hiếm, nguyên do,
    hoặc nói ví dụ,
    chỉnh cú thích ứng,
    cùng với thảo luận.

    (45) Những kẻ ám độn
    chỉ thích pháp nhỏ,
    vướng mắc sinh tử;
    nơi vô số Phật
    họ đã không đi
    theo đường tuyệt diệu.
    Họ bị đau khổ
    dày vò tác loạn.
    Như Lai vì họ
    mà nói niết bàn.

    (46) Như Lai thiết lập
    phương tiện như vậy,
    chủ ý làm cho
    họ được nhập vào
    tuệ giác Phật đà,
    nhưng chưa hề nói
    tất cả các người
    đều sẽ thành Phật.

    (47) Sở dĩ Như Lai
    chưa nói như vậy
    là vì chưa đến
    thì gian đáng nói.
    Nhưng nay là lúc
    Như Lai quyết định
    nói về giáo pháp
    cỗ xe vĩ đại.
    *

    (48) Giáo pháp ở trong
    chín thể loại trên,
    là do Như Lai
    tùy thuận chúng sinh
    mà tuyên thuyết ra,
    nhưng mà bản ý
    là dẫn họ vào
    cỗ xe vĩ đại.
    Vì lý do ấy,
    ngày nay Như Lai
    nói về bản kinh
    Diệu Pháp Liên Hoa.

    (49) Có những con Phật
    tâm trí trong sáng
    tánh tình ôn hòa
    các căn lanh lợi,
    đã từng đi theo
    con đường tuyệt diệu
    ở nơi vô lượng
    chư Phật Như Lai;
    chính vì những người
    con Phật như vậy
    mà nay Như Lai
    nói kinh Pháp Hoa,
    bản kinh thuộc về
    cỗ xe vĩ đại.

    (50) Qua đó Như Lai
    sẽ thọ ký cho
    những con Phật ấy
    trong thì vị lai
    được thành Phật đà _
    Được thành vì họ
    đã đem tâm chí
    cực kỳ sâu xa
    tưởng niệm Phật đà
    nghiêm giữ giới pháp.

    (51) Những con Phật ấy
    nghe được thành Phật
    thì nỗi mừng lớn
    tràn khắp cơ thể.
    Như Lai biết rõ
    tâm chí cùng với
    đạo hạnh của họ,
    nên mới nói cho
    bản kinh thuộc về
    cỗ xe vĩ đại.

    (52) Và là thanh văn
    hay là bồ tát,
    nghe kinh như vậy
    của Như Lai nói,
    thì dẫu chỉ được
    một bài chỉnh cú,
    cũng thành Phật cả,
    không nghi gì được.
    *

    (53) Khắp cả cõi Phật
    trong cả mười phương,
    chỉ có diệu pháp
    cỗ xe duy nhất.
    Cỗ xe thứ hai
    đã không thực có,
    cũng không thực có
    cỗ xe thứ ba,
    trừ ra Như Lai
    phương tiện tuyên thuyết –
    là chỉ thiện dụng
    những danh từ giả
    mà dẫn dắt cho
    các loại chúng sinh.

    (54) Chính vì công bố
    tuệ giác Phật đà,
    cho nên Như Lai
    xuất hiện thế gian.
    Chỉ một việc này
    là việc đích thực,
    còn hai việc khác
    không đích thực đâu.
    Như Lai tuyệt đối
    không muốn sử dụng
    cỗ xe thấp nhỏ
    mà chở chúng sinh.

    (55) Như Lai tự ngồi
    cỗ xe vĩ đại,
    cỗ xe được có
    những pháp như là
    định, tuệ và lực
    trang sức huy hoàng,
    Như Lai sử dụng
    mà chở chúng sinh.

    (56) Như Lai tự chứng
    tuệ giác vô thượng
    là xe vĩ đại
    có tính bình đẳng.
    Nếu đem hóa độ
    bằng xe thấp nhỏ,
    thì dẫu hóa độ
    một người mà thôi,
    Như Lai cũng rơi
    vào sự tham lẫn:
    ấy là một việc
    không chấp nhận được.

    (57) Mọi người tín ngưỡng
    qui y Như Lai.
    Như Lai không hề
    lừa dối ai cả,
    không cả tâm ý
    tham lam ganh ghét,
    triệt hết sự xấu
    ở trong các pháp.
    Cho nên khắp trong
    mười phương quốc độ,
    chỉ có Như Lai
    không e sợ gì.

    (58) Với cái thân thể
    tướng hảo trang nghiêm,
    với cái tuệ giác
    soi sáng tất cả,
    và được vô lượng
    chúng sinh tôn trọng,
    Như Lai công bố
    ấn tín thật tướng.

    (59- Này Xá lợi Phất
    60) tôn giả nên biết
    Như Lai vốn lập
    chí nguyện cao rộng
    là muốn làm cho
    hết thảy chúng sinh
    đều như Như Lai
    không khác gì cả.
    Đúng như chí nguyện
    Như Lai đã lập,
    ngày nay Như Lai
    thực hiện đầy đủ,
    cho nên Như Lai
    giáo hóa tất cả,
    làm cho vào được
    tuệ giác Phật đà.

    (61) Nhưng nếu Như Lai
    gặp ai cũng đem
    tuệ giác Phật đà
    mà giáo hóa cho,
    thì kẻ vô trí
    sẽ bị thác loạn,
    mù mờ, lầm lẫn,
    không thể tiếp nhận.

    (62) Như Lai nhận thức
    những kẻ như vậy
    chưa từng sửa sang
    gốc rễ pháp lành,
    dính chắc vào nơi
    năm thứ dục lạc,
    khổ não vì những
    mù quáng, đam mê.

    (63) Chính vì nhân tố
    năm thứ dục lạc
    mà họ sa vào
    ba đường độc dữ.
    Luân hồi khắp cả
    sáu nẻo sống chết,
    lãnh chịu đủ hết
    khổ sở độc địa.
    Hình hài hèn kém
    có bởi bào thai,
    đời đời liên tiếp
    cứ thêm lên mãi.
    Họ là những kẻ
    mỏng đức thiếu phước,
    và bị đủ thứ
    khổ não bức bách.

    (64) Nên họ lạc vào
    rừng rậm tà kiến,
    chấp có thế này
    chấp không thế khác.
    Căn cứ những thứ
    tà kiến như vậy,
    họ lần đủ cả
    sáu hai tà kiến,
    đắm sâu vào trong
    chủ thuyết hư vọng,
    chấp nhận cứng chắc
    không thể xả bỏ.

    (65) Họ đầy ngã mạn,
    tự cao, dua nịnh,
    quanh co, xảo trá.
    Vạn ức thời kỳ
    họ không nghe được
    danh từ Phật đà,
    chánh pháp Phật đà
    càng không nghe thấy.
    Những người như vậy
    thật khó hóa độ.

    (66) Này Xá lợi Phất,
    vì những người ấy
    cho nên Như Lai
    lập chước phương tiện:
    nói cho họ biết
    con đường diệt khổ,
    chỉ cho họ rõ
    về sự niết bàn.
    Nhưng mà Như Lai
    dẫu nói niết bàn,
    sự niết bàn đó
    chưa thật niết bàn.

    (67) Vì vậy Như Lai
    khai thị nguyên lý:
    các pháp xưa nay
    thường tự vắng lặng.
    Con Phật đi trọn
    đường đi của mình
    thì trong tương lai
    được thành Phật đà,
    như thế mới là
    niết bàn đích thực.

    (68) Như vậy đủ thấy
    do phương tiện lực
    mà Như Lai có,
    Như Lai khai thị
    đủ hết các pháp
    của ba cỗ xe;
    kỳ thật tất cả
    chư Phật Như Lai
    đều chỉ nói đến
    cỗ xe duy nhất.

    (69) Ngày nay đại hội
    hãy bỏ nghi hoặc.
    Lời chư Phật nói
    không khác sự thật:
    chỉ có cỗ xe
    Phật đà duy nhất,
    không hai cỗ xe
    thứ hai thứ ba.
    *

    (70) Vô số thời kỳ
    thuộc thì quá khứ,
    vô lượng chư Phật
    đã nhập niết bàn;
    những loại số mục
    trăm ngàn vạn ức
    không thể đem ra
    mà tính cho được.

    (71) Chư Phật như vậy
    đã dùng đủ thứ
    yếu tố, ví dụ
    của phương tiện lực,
    diễn đạt thật tướng
    tất cả các pháp.

    (72) Nghĩa là các ngài
    cũng nói giáo pháp
    cỗ xe duy nhất,
    giáo hóa chúng sinh
    làm cho vào được
    tuệ giác Phật đà.

    (73) Chư Phật quá khứ,
    những chúa thánh triết,
    biết rõ thị hiếu
    từ trong thâm tâm
    của cả thế gian,
    trong đó bao gồm
    chư thiên, nhân loại
    và bao loài khác,
    cho nên sử dụng
    phương tiện khác nhau
    để giúp phát lộ
    chân lý bậc nhất.

    (74- Ấy là ai gặp
    75) chư Phật quá khứ,
    được nghe thuyết pháp
    và rồi bố thí,
    giữ giới, nhẫn nhục,
    cùng với tinh tiến,
    thiền định, trí tuệ,
    làm đủ các pháp
    của cả hai loại
    phước đức tuệ giác,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (76) Chư Phật quá khứ
    nhập Niết bàn rồi,
    ai có tâm lý
    tốt đẹp mềm dịu,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (77-78) Chư Phật quá khứ
    nhập Niết bàn rồi,
    những ai hiến cúng
    xá lợi các ngài,
    bằng cách xây dựng
    vạn ức chùa tháp,
    lại đem bạc, vàng,
    cùng với pha lê,
    xa cừ, mã não,
    mai khôi, lưu ly,
    trang hoàng quang đãng
    trần thiết tráng lệ,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (79-80) Ai dựng chùa tháp
    bằng đá cẩm thạch,
    bằng những thứ gỗ
    đàn hương, trầm hương,
    cùng với gỗ mật
    và gỗ quý khác;
    ai dựng chùa tháp
    bằng gạch, đất sét;
    hay nơi hoang dã
    đắp nổi gò đất
    tạo thành chùa tháp
    chư Phật quá khứ;

    (81) thậm chí trẻ con
    vui đùa đắp tháp
    mà tưởng tượng rằng
    xây dựng tháp Phật,
    tất cả người này
    đã thành Phật tuệ.

    (82) Ai vì chư Phật
    trong thì quá khứ
    mà tạo hình tượng
    chạm trỗ tướng tốt,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (83) Hoặc tạo tượng Phật
    bằng bảy chất quý,
    bằng các loại đồng
    vàng đỏ và trắng,

    (84) bằng chì, thiết, sắt,
    gỗ với đất sét;
    hoặc dùng các thứ
    keo, sơn, vải bố,
    bồi đắp tô chuốt
    mà làm tượng Phật;
    tất cả người này
    đã thành Phật tuệ.

    (85) Hoặc dùng hội họa
    vẽ ra tượng Phật
    đủ cả các tướng
    trăm phước trang nghiêm,
    tự mình vẽ ra
    hay nói người vẽ,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (86) Đến nỗi trẻ con
    dùng cỏ, cây, bút,
    ngón tay, móng tay,
    vẽ chơi tượng Phật,

    (87) thì những trẻ ấy
    công đức dồn chứa,
    từ bi hoàn hảo,
    đã thành Phật tuệ,
    và chỉ giáo hóa
    chư vị Bồ tát,
    cứu độ vô lượng
    các loại chúng sinh.

    (88) Nếu ai đối với
    chùa tháp, hình tượng,
    tượng ngọc, tượng vẽ
    chư Phật quá khứ,
    mà đem bông hoa
    các loại hương liệu
    tràng phan bảo cái
    cung kính hiến cúng;

    (89-92) nếu ai tấu nhạc,
    đánh trống, thổi còi,
    thổi ốc, ống tiêu,
    ống sáo, đàn cầm,
    đàn hầu, tỳ bà,
    chiên nhỏ, bạt đồng,
    đem hết âm thanh
    nghe hay như vậy
    hiến lên chư Phật
    trong thì quá khứ;
    hoăëc là hoan hỷ
    ca hát, ngâm vịnh,
    tán dương đức tính
    chư Phật quá khứ;
    và làm như vậy
    dầu một tiếng nhỏ;
    tất cả người này
    đã thành Phật tuệ.

    (93) Những ai trong lòng
    tư tưởng xao lãng,
    chỉ được mỗi một
    bông hoa mà thôi,
    và chỉ hiến cúng
    tượng vẽ mà thôi,
    cũng vẫn dần dần
    gặp vô số Phật.

    (94) Ai biết lễ bái,
    hay chỉ chắp tay,
    đến nỗi đưa lên
    chỉ một cánh tay,
    hoặc chỉ hơi khẽ
    cúi đầu mình xuống,
    hiến cúng tượng Phật
    bằng những cách ấy
    cũng đã dần dần
    gặp vô lượng Phật,
    tự thành tựu được
    tuệ giác vô thượng,
    hóa độ rộng rãi
    vô số các chúng,
    và rồi nhập vào
    Niết bàn hoàn toàn
    tựa như củi hết
    thì lửa cũng tắt.

    (95) Những kẻ trong lòng
    tư tưởng xao lãng,
    bước vào chùa tháp
    chư Phật quá khứ,
    chỉ nói một tiếng
    con tôn kính Phật,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (96) Ở nơi chư Phật
    quá khứ như vậy,
    mà lúc các ngài
    đang còn ở đời
    hay lúc các ngài
    nhập Niết bàn rồi,
    những ai nghe danh
    của pháp như vầy,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (97) Chư Phật Như Lai
    trong thì vị lai
    số lượng vô số,
    các ngài cũng dùng
    mọi cách phương tiện
    tuyên thuyết về pháp.

    (98) Các ngài cũng dùng
    vô số phương tiện
    cứu thoát chúng sinh,
    dẫn vào tuệ giác
    không còn sai sót
    của chư Phật đà.

    (99) Những người được nghe
    pháp các ngài thuyết,
    thì không một ai
    không thành Phật đà.
    Bởi vì các ngài
    cũng lập thệ nguyện
    nguyện đem trí Phật
    mà mình hoàn thành
    dìu dắt hết thảy
    các loại chúng sinh
    cũng được hoàn thành
    trí Phật như vậy.

    (100) Chư Phật vị lai
    dẫu cũng sẽ nói
    về các pháp môn
    nhiều đến vạn ức,
    kỳ thật chỉ vì
    cỗ xe duy nhất.

    (101) Chư Phật: các đấng
    phước tuệ hoàn hảo,
    thấy biết các pháp
    thường không cố định,
    giống Phật cũng phát
    từ các yếu tố;
    thấy biết như vậy
    nên chư Phật đà
    tuyên thuyết giáo pháp
    cỗ xe duy nhất.

    (102) Chính vì vốn là
    bản thể an trú,
    bản thể nguyên vị,
    cho nên thật tướng
    của chính thế gian
    cũng vẫn thường trú;
    tại Bồ đề tràng
    các đức Đạo sư
    biết rõ như vậy,
    nên dùng phương tiện
    tuyên thuyết giáo pháp
    cỗ xe duy nhất.

    (103) Chư Phật hiện tại
    ở khắp mười phương,
    toàn là những bậc
    trời người hiến cúng,
    số lượng nhiều như
    cát của sông Hằng.
    Chư Phật như vậy
    xuất hiện thế gian,
    vì muốn làm cho
    chúng sinh yên vui
    nên cũng tuyên thuyết
    về diệu pháp này.

    (104) Chư Phật như vậy
    thấu triệt nguyên lý
    vắng lặng bậc nhất,
    và rồi áp dụng
    năng lực phương tiện,
    phô bày đủ hết
    các loại chánh pháp;
    tuy làm như vậy
    mà thật chỉ vì
    cỗ xe Phật đà.

    (105-106) Tính nết, quan niệm,
    việc làm đời trước,
    thị hiếu, khuynh hướng,
    nổ lực, năng lực,
    các căn lanh chậm,
    chư Phật biết rõ
    tất cả điều này
    của các chúng sinh.
    Thế rồi các ngài
    áp dụng đủ thứ
    yếu tố, ví dụ,
    cùng với lời chữ,
    tùy sự nên nói
    phương tiện mà nói.

    (107) Ngày nay Như Lai
    cũng làm như vậy.
    Để làm yên vui
    cho các chúng sinh,
    Như Lai thiện dụng
    các cách huấn dụ,
    tuyên thuyết biểu thị
    tuệ giác Phật đà.

    (108) Với trí tuệ lực,
    Như Lai nhận thức
    bản tính, thị hiếu
    của các chúng sinh,
    phương tiện thuyết pháp
    làm hoan hỷ cả.

    (109) Này Xá Lợi Phất,
    tôn giả nên biết,
    Như Lai sử dụng
    mắt Phật mà nhìn
    thì thấy chúng sinh
    trong cả sáu đường
    đều quánghèo nàn
    phước đức tuệ giác,
    lạc vào đường hiểm
    của chốn sống chết,
    cái khổ liên tục
    không hề dứt mất.

    (110) Họ dính sâu xa
    vào năm dục lạc,
    như bò đuôi dài
    tự cưng đuôi nó.
    Tham lam đam mê
    tự che phủ lấy,
    làm họ đui mù
    không thấy gì cả:
    không biết tìm Phật
    bậc cực hùng mạnh,
    không biết cầu pháp
    yếu tố dứt khổ.

    (111) Họ đi sâu vào
    chủ thuyết sai lầm,
    sử dụng đau khổ
    mong hết đau khổ.
    Chính vì bao kẻ
    như thế này đây,
    Như Lai động lòng
    thương xót lớn lao.

    (112-113) Trong khi mới ngồi
    nơi Bồ Đề tràng,
    vừa thành tựu được
    tuệ giác vô thượng,
    Như Lai nhìn vào
    Bồ đề đại thọ,
    lại còn kinh hành
    quanh đại thọ ấy,
    ba tuần liên tiếp
    suy nghĩ như vầy:
    Tuệ giác Như Lai
    đã thành tựu được
    thì rất tinh túy
    cao tột bậc nhất;
    còn như các căn
    của bao chúng sinh
    thì quá chậm chạp,
    lại bị cái ngu
    vì ham dục lạc
    làm mù tâm trí,
    những kẻ như vậy
    làm sao hóa độ?

    (114-116) Khi ấy các vị
    Phạn Vương, Đế Thích,
    bốn đại Thiên Vương
    hộ vệ thế gian,
    Đại Tự Tại Thiên,
    cùng các thiên chúng
    tùy thuộc của họ
    nhiều đến ngàn vạn,
    cung kính chắp tay
    đảnh lễ thỉnh cầu
    Như Lai chuyển đẩy
    bánh xe chánh pháp.
    Như Lai tức thì
    suy nghĩ như vầy:
    Nếu chỉ tán dương
    cỗ xe Phật đà,
    những kẻ chìm ngập
    ở trong đau khổ
    không thể tin được
    về pháp như vậy.
    Rồi vì phá hoại
    không tin vào pháp,
    nên rơi vào lại
    trong ba đường dữ.
    Như vậy thà là
    Như Lai không nói,
    mà nên mau chóng
    nhập vào Niết bàn.

    (117) Nhưng rồi Như Lai
    tức thì nhớ đến
    chư Phật Như Lai
    trong thì quá khứ,
    nhớ đến phương tiện
    các ngài thi hành,
    và nghĩ như vầy:
    Tuệ giác vô thượng
    mà nay Như Lai
    đã thực hiện được,
    Như Lai cũng phải
    áp dụng phương tiện
    mà tuyên thuyết ra
    đủ ba cỗ xe.

    (118) Ngay khi Như Lai
    suy nghĩ như vậy,
    chư Phật mười phương
    đều hiện trước mắt,
    dùng tiếng Phạn thiên
    khuyến khích Như Lai,
    nói rằng tốt lắm
    Thích Ca Thế Tôn!

    (119) Ngài là vị thầy
    dẫn đạo bậc nhất!
    Ngài đã hoàn thành
    cái pháp tối thượng,
    thì nên thể theo
    hết thảy chư Phật
    mà cùng dùng đến
    nghệ thuật phương tiện.

    (120) Chư Phật chúng tôi
    cũng hoàn thành được
    cái pháp bậc nhất
    rất tinh túy ấy,
    và vì chúng sinh
    các loại khác nhau
    nên phải phân ra
    nói ba cỗ xe.
    Vì kẻ trí nhỏ
    chỉ thích pháp nhỏ,
    không thể tự tín
    mình sẽ làm Phật.

    (121) Do vậy chúng tôi
    áp dụng phương tiện,
    phân nói các loại
    tuệ giác ba xe,
    và tuy nói cả
    tuệ giác ba xe,
    kỳ thật chỉ dạy
    các vị Bồ tát.

    (122) Này Xá Lợi Phất,
    tôn giả nên biết,
    Như Lai nghe được
    tiếng nói tuyệt diệu
    trong thanh thâm thúy
    của chư Như Lai –
    những bậc sư tử
    của các thánh triết,
    tức thì hoan hỷ
    và thốt lên rằng:
    Tôi xin tôn kính
    chư vị Phật đà!

    (123) Như Lai lại nghĩ:
    Như Lai xuất hiện
    nhằm vào thời kỳ
    dữ dội vẩn đục,
    thì như lời lẽ
    của chư Phật nói,
    Như Lai cũng phải
    thể theo mà làm.

    (124) Như Lai nghĩ rồi
    liền đến Lộc Uyển.
    Thật tướng các pháp
    vốn rất vắng lặng,
    không thể diễn tả
    bằng những lời chữ,
    nhưng mà Như Lai
    áp dụng phương tiện
    nói pháp ấy ra
    cho năm Tỷ kheo.

    (125) Như vậy gọi là
    quay bánh xe pháp,
    thế gian liền có
    danh hiệu Niết bàn,
    lại còn có cả
    danh hiệu La Hán,
    có pháp có Tăng
    danh hiệu khác biệt.

    (126) Từ đó đến nay
    Như Lai ca tụng
    Niết bàn hết hẳn
    cái khổ sống chết.
    Như Lai thường xuyên
    đã nói như vậy.

    (127) Nhưng Xá Lợi Phất,
    tôn giả nên biết,
    Như Lai lại thấy
    có những con Phật
    quyết chí cầu được
    tuệ giác Phật đà.
    Số ấy nhiều đến
    vô lượng vạn ức.

    (128) Ai cũng cung kính
    đến chỗ Như Lai,
    vì các đời trước
    họ đã từng nghe
    pháp mà chư Phật
    phương tiện tuyên thuyết.

    (129) Như Lai lúc ấy
    suy nghĩ như vầy:
    Sở dĩ Như Lai
    xuất hiện thế gian
    là để tuyên thuyết
    tuệ giác Phật đà,
    thì nay chính là
    thì gian tuyên thuyết.

    (130) Này Xá Lợi Phất,
    tôn giả nên biết,
    những kẻ trí nhỏ,
    các căn chậm chạp,
    chấp trước hình thức,
    kiêu căng ngạo mạn,
    thì không thể nào
    tin được pháp này.
    Nhưng mà pháp này
    Bồ tát sẽ nghe.

    (131) Thế nên ngày nay
    Như Lai cảm thấy
    hoan hỷ hết sức,
    chứ không e ngại.
    Ngay giữa đại chúng
    chư vị Bồ tát,
    Như Lai thẳng thắn
    loại bỏ phương tiện,
    chỉ còn nói đến
    tuệ giác vô thượng.

    (132) Chư vị Bồ tát
    nghe được pháp này
    thì lưới ngờ vực
    thoát bỏ được cả,
    mà ngàn hai trăm
    chư vị La hán
    ai nấy cũng sẽ
    được làm Phật đà.

    (133-134) Cho nên y như
    thể thức thuyết pháp
    của chư Phật đà
    trong ba thì gian,
    ngày nay Như Lai
    cũng làm như vậy:
    Tuyên thuyết về pháp
    không có khác nhau.

    (135) Chư Phật xuất thế
    là sự khó có,
    vì lẽ lâu xa
    mới gặp một lần.
    Mà dẫu chư Phật
    đã xuất thế rồi,
    nói về pháp này
    là sự khó có.
    Vô số thời kỳ
    mới nghe pháp này,
    nên sự nghe ấy
    là sự khó có.
    Và rồi những ai
    nghe nổi pháp này,
    thì người như vậy
    là người khó có.

    (136) Như hoa Ưu đàm
    ai cũng ưa thích,
    đến như chư thiên
    cũng thấy hiếm có,
    vì lẽ thỉnh thoảng
    mới trổ một lần.

    (137) Những người nghe nổi
    pháp như thế này,
    nghe rồi hoan hỷ
    ca tụng tán dương,
    thì dẫu đến nỗi
    chỉ pháp một lời,
    cũng đã hiến cúng
    tam thế chư Phật.
    Nên người như vậy
    hết sức khó có,
    khó có hơn cả
    hoa thiêng Ưu đàm.

    (138) Tất cả các chúng
    các người đừng nghi!
    Như Lai là bậc
    vua của các pháp,
    phổ cáo các người
    biết rằng Như Lai
    chỉ đem giáo pháp
    cỗ xe duy nhất
    mà giáo hóa cho
    chư vị Bồ tát.
    Như Lai không có
    đệ tử Thanh văn.

    (139) Này Xá Lợi Phất,
    tất cả các người,
    bất luận Thanh văn
    hay là Bồ tát,
    đều phải biết rằng
    pháp tinh túy này
    chính là bí yếu
    của chư Phật đà.

    (140) Thời kỳ dữ dội
    đầy năm vẩn đục,
    con người chỉ thích
    đắm say dục lạc,
    không bao giờ muốn
    cầu tuệ giác Phật.

    (141) Nên những kẻ ác
    trong tương lai ấy
    dẫu được nghe đến
    cỗ xe duy nhất
    của Như Lai nói,
    cũng ngu và lầm,
    không thể tin tưởng,
    không chịu tiếp nhận
    phá hoại pháp ấy
    và sa đường dữ.

    (142) Chỉ có những ai
    hổ thẹn, trong sạch,
    quyết chí tìm đến
    tuệ giác Phật đà,
    thì cần phải vì
    những người như vậy
    tán dương rộng rãi
    cỗ xe duy nhất.

    (143) Này Xá Lợi Phất,
    chư vị phải biết,
    nguyên tắc chư Phật
    là như thế đó:
    Vận dụng phương tiện
    tùy nghi thuyết pháp.
    Ai không tu học
    không thể hiểu thấu.

    (144) Đến như chư vị
    khi đã biết được
    sự thể tùy nghi
    phương tiện thuyết pháp
    của chư Phật đà,
    bậc thầy thế gian,
    thì đừng còn nữa
    những sự nghi hoặc.
    Tất cả chư vị
    hãy vui mừng lên,
    khi tự biết chắc
    mình sẽ làm Phật.


    Kết thúc tụng kinh Pháp Hoa, chúng con xin hồi hướng:
    Vạn ức thời kỳ
    không thể nói được
    mới được có lúc
    Phật nói Pháp Hoa.
    Vạn ức thời kỳ
    không thể nói được
    mới được có lúc
    nghe nói Pháp Hoa.
    Chúng con nương nhờ
    Phật Pháp Tăng lực
    mới được trì tụng
    Diệu Pháp Liên Hoa.
    Chúng con nguyện đem
    công đức như vầy
    hiến khắp tất cả
    các loại chúng sinh,
    cầu cho chúng con
    cùng với chúng sinh
    đều được thành tựu
    tuệ giác chư Phật.

    Kính lạy kinh Diệu Pháp Liên Hoa, bản kinh của tuệ giác bình đẳng vĩ đại, bản kinh dạy cho Bồ tát và được chư Phật giữ gìn. Kính lạy tất cả Pháp bảo trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ.

    Kính lạy đức Thích Ca Mâu Ni, đức Phật giáo chủ bổn sư, đã tuyên thuyết kinh Pháp Hoa. Kính lạy đức Đa Bảo, đức Phật đã làm chứng cho kinh Pháp Hoa toàn là chân thật. Kính lạy đức Di Lạc, đức Phật đương lai đã phát khởi kinh Pháp Hoa và tiếp dẫn những người hành trì Pháp Hoa vãng sinh Đâu Suất tịnh độ. Kính lạy tất cả Phật bảo trong kinh Pháp Hoa, trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ.

    Kính lạy Bồ tát Văn Thù, vị pháp sư Pháp Hoa. Kính lạy Bồ tát Phổ Hiền, vị khuyến phát Pháp Hoa. Kính lạy Bồ tát Quán Âm, vị đại sĩ toàn diện. Kính lạy tất cả Tăng bảo là các vị Bồ tát, các vị Duyên giác và các vị Thanh văn trong kinh Pháp Hoa, trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ.


     

    Lược Dẫn & Cuốn 1 | Cuốn 2 | Cuốn 3 | Cuốn 4 | Cuốn 5 | Cuốn 6 | Cuốn 7 | Phẩm Phổ Hiền | Kinh Pháp Hoa Toát Yếu |

    Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9

  • THÂU ÂM KINH PHẬT  (audio)

    THÂU ÂM KINH PHẬT (audio)

    Pháp Ảnh Lục là bộ  kinh sách do Trưởng lão Thích Trí Quang  dịch từ Hán văn. Nay trong lòng muốn ghi âm nên từ từ đọc và thâu. Không dám nghĩ xa, đơn giản từng trang kinh một. 

    Thâu âm như vậy để mang theo bên mình. Bất cứ ở đâu lúc nào, được chút ít thời gian là có thể lắng tâm đọc theo lời Phật.

    Xin chia sẻ
    10/2019
    Đệ tử tại gia Hồng Như

    [/expand]

    Di Huấn của Trưởng Lão Thích Trí Quang

    8/11/2019: Ôn Trí Quang vừa mới thị tịnh, để lại di huấn như sau:
    
    1 - Sau giờ chết rồi độ 6 giờ là liệm.
    2 - Liệm rồi các Pháp tử lạy 3 lạy rồi đưa ra xe tang.
    3- Không bàn thờ, bát nhang, báo tang, thành phục, đưa đám, phúng điếu.
    4- Chuyển đến lò thiêu; thiêu rồi đem về chùa làm tuần, chung thất, trăm ngày, tiểu tường và đại tường.
    5- Mỗi lễ chỉ tụng một trong các kinh: Địa Tạng, Kim Cương, Bồ Tát Giới, Pháp Hoa, và Thủy Sám.
    6- Mỗi lễ đều không thông báo và mời ai dự cả.
    
    Xin từ từ thâu các bộ kinh Địa Tạng, Kim Cương, Bồ Tát Giới, Pháp Hoa, và Thủy Sám trong di huấn.
    
    Với lòng biết ơn vô cùng vô tận.
    Đệ tử tại gia Hồng Như

    1. KINH KIM CƯƠNG: ĐÃ CÓ

    KINH KIM CƯƠNG – [Diamond Cutter Sutra]

    🖹 Văn Bản (text) http://hongnhu-archive.org/kinh-kim-cuong

    Phần 1 – CHÁNH VĂN

    Phần 2 – DẪN NHẬP


    Phần 3 – LƯỢC GIẢI:

    Không thâu âm, xin đọc văn bản

    2. Kinh Pháp Hoa: đang thâu

    3. Kinh Địa Tạng: thâu rồi, sẽ up

    4. KINH THỦY SÁM: ĐÃ CÓ

    KINH THỦY SÁM

    🖹 Văn Bản (text) http://hongnhu-archive.org/thuy-sam

    5. PHẨM PHỔ HIỀN, trích Kinh Hoa Nghiêm: ĐÃ CÓ

    PHẨM PHỔ HIỀN, KINH HOA NGHIÊM
    [Samantabhadra King of Prayers]

    🖹 Văn Bản (text):  http://hongnhu-archive.org/pham-pho-hien-kinh-hoa-nghiem/

    6. KINH SÁM DƯỢC SƯ: ĐÃ CÓ

    KINH SÁM DƯỢC SƯ
    [Medicine Buddha Sutra and Confessions]

    đọc không hay, để thâu lại.


    🖹Văn Bản (text)  http://hongnhu-archive.org/duoc-su-kinh-sam/

    7. KINH ÁNH SÁNG HOÀNG KIM: ĐÃ CÓ

    KINH ÁNH SÁNG HOÀNG KIM – [Golden Light Sutra]

    🖹 Văn bản: <WEB – Trì Tụng, mỗi ngày một ít >

    Nghe trọn bộ 8h

     

     


     

  • DƯỢC SƯ KINH SÁM – Thượng nhân Thích Trí Quang dịch giải

    DƯỢC SƯ KINH SÁM – Thượng nhân Thích Trí Quang dịch giải

    Dược sư kinh sám

    Trưởng lão Trí Quang dịch

    Mục lục
    
    Tiểu dẫn. 5
    Lời đề khóa tụng kinh Dược Sư của Ngọc lâm quốc sư. 8
    Kinh Dược  sư. 11
    Sám  Dược  sư  cuốn trước. 68
    Sám  Dược  sư  cuốn  giữa. 94
    Sám  Dược  sư  cuốn  sau. 128
    Lược giải kinh dược sư (có mục lục riêng) 153
    Ghi chú. 222 

    Tiểu dẫn

    1. Hiệu quả của kinh sám Dược sư là do tín tâm. Nhưng tin được là nhờ uy thần của Phật. Huống chi mọi hiệu quả đều “do năng lực phước đức và uy thần” của đức Dược sư. Kinh này không khinh thị đồ ăn, đồ mặc, đồ dùng, nhà cửa, bà con, bạn bè. Sống lâu, giàu có, quan chức và con cái, kinh này trọng thị. Nói tóm, kinh này quí sự sống và phương tiện để sống, cho cá nhân và cả tập thể. Không những như thế, kinh này còn cho sự sống và phương tiện để sống là công cụ đạt đến tuệ giác bồ đề tức làm Phật. Ðừng nói rằng đó là trước câu bằng dục lạc, sau hóa bằng chánh pháp (tiên dĩ dục câu hậu dĩ pháp trị). Dược sư nghĩa là thầy thuốc chữa bệnh, rất hiểu cái khổ của bịnh, lại càng rất quí thuốc chữa bịnh. Mà bịnh với thuốc đều có ý nghĩa vừa thực vừa rộng. Thiền tông có công án tôi nhớ như sau. Một hôm Văn thù đại sĩ bảo Thiện tài đồng tử, hãy coi cái gì là thuốc thì lấy đưa đây. Ðồng tử nhìn khắp vũ trụ, thưa, không có cái gì là thuốc cả. Ðại sĩ lại bảo, vậy cái gì không phải thuốc thì lấy đưa đây. Ðồng tử lại nhìn khắp vũ trụ, thưa, không có cái gì là không phải thuốc. Thuốc hay không phải thuốc, hiệu quả Dược sư có hay không có, căn bản là có hay không có “phát sanh tâm không dơ bẩn, tâm không giận dữ tác hại, nghĩa là đối với hết thảy chúng sanh khởi lên cái tâm lợi ích an lạc… “
    2. Sám Dược sư, quan trọng ở chỗ cho ta thấy tội lỗi và quả báo của tội lỗi đều không thật. Không thật mới hy vọng sám hối và sám hối được. Trong Phật giáo nguyên thỉ, câu chuyện A xà thế vương và Ương quật ma la chứng minh cái lẽ ấy(1). Nhưng vẫn chưa nói rõ tội tánh bản không. Phật giáo đại thừa nói rõ như vậy. Sám văn Dược sư càng nói rõ như vậy.
    3. “Xá lợi phất, ông nên biết ta đã ở trong giai đoạn dữ dội đầy cả 5 thứ dơ bẩn mà làm việc khó làm, ấy là thực hiện tuệ giác vô thượng, lại vì toàn thể thế gian nói cái pháp khó tin này (pháp môn tịnh độ Cực lạc) thì đó là việc rất khó”. Hoặc “công đức đức Dược sư là chỗ hiểu biết cực kỳ sâu xa của Phật, tiếp nhận được là do uy lực Như lai”(2). Chỉ khi nào thấm thía những lời dạy như vậy của Phật, hơn là những biện lý chứng minh, mới thấy thích thú kinh và sám Dược sư.
    4. (a) Sách này mang tên “kinh sám Dược sư” là vì có cả kinh và sám Dược sư. (b) Tài liệu chính, dùng để đối chiếu, là kinh Dược sư của Ðại tạng (Chính 14/404-408) và sám Dược sư của Tục tạng (Vạn 129/55b-62a). (c) Nghi thức khai kinh và hoàn kinh là do tôi châm chước trích soạn. (d) Sự dịch nghĩa của tôi, những chữ dịch âm Phạn tự, phần nhiều dùng chữ thông thường, như Bí sô thì dùng Tỷ kheo, Dược xoa thì dùng Dạ xoa, vân vân.
    5. Sau đây là bảng viết tắt : 1. Ðại tạng kinh bản Ðại chính, thì thí dụ Chính 14/401, là đại tạng ấy, tập 14, trang 401 ; 2. Tục tạng kinh bản chữ Vạn, thì thí dụ Vạn 129/55a, là tục tạng ấy, tập 129, tờ 55 mặt trước ; 3. Thái hư đại sư toàn thư (tập 28), thì thí dụ TH 28/2241, là toàn thư ấy, tập 28, trang 2241 ; Phật học đại từ điển của Ðinh Phúc Bảo, thì thí dụ Pđ 123t, là đại từ điển ấy, trang 123, phần trên. Ngoài những tài liệu và ký hiệu này, phần lược giải kinh Dược sư sẽ kê tài liệu riêng.
    6. Khác với bản in cũ, bản chữa và in này không còn để phần Hoa văn và phần dịch âm của kinh và sám Dược sư. Bản chữa và in này là định bản.
    Mục lục
    
    Tiểu dẫn. 5
    Lời đề khóa tụng kinh Dược Sư của Ngọc lâm quốc sư. 8
    Kinh Dược  sư. 11
    Sám  Dược  sư  cuốn trước. 68
    Sám  Dược  sư  cuốn  giữa. 94
    Sám  Dược  sư  cuốn  sau. 128
    Lược giải kinh dược sư (có mục lục riêng) 153
    Ghi chú. 222 

    Lời đề khóa tụng kinh Dược Sư
    của Ngọc lâm quốc sư

    Tôi từ lúc bái biệt công ơn cha mẹ, đoạn tuyệt bụi bặm phiền não, thì không rảnh để coi đọc gì hết. Nhưng tình cờ coi vào Ðại tạng kinh, đọc kinh Dược sư như lai bản nguyện công đức, thì bất giác tay nâng ngang trán, thất thanh mà cầu nguyện mọi người cùng nhập vào biển cả đại nguyện của Như lai. Có kẻ hỏi tại sao đối với kinh ấy tôi kinh động tán thán đến như vậy, tôi trả lời, thấy thế nhân vì cảnh ngộ thuận tiện mà đắm chìm không ít. Nên giàu với sang đáng sợ hơn là nghèo và hèn. Nay, Dược sư như lai làm cho người ta sở cầu như nguyện, để rồi từ đó mà vĩnh viễn không còn lùi mất đạo tâm, thẳng tới bồ đề. Vậy, đối với hàng vương thần, trưởng giả, và hết thảy mọi người, muốn làm cái hạnh đồng sự trong 4 nhiếp pháp mà không dùng thuyền tàu đại nguyện của Dược sư như lai, thì làm sao đạt đến cho được.

    Ðại phàm tu trì, phải tự lượng lấy mình, tự lượng lấy pháp, rồi thẳng một đường mà nghĩ, thẳng một đường mà làm. Thật chán sợ ba cõi, quyết chí vãng sanh, thì hãy chuyên tâm y theo kinh Di đà mà thâu nhiếp sáu căn, tịnh niệm liên tục, tức là chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn, thì quyết định vãng sanh. Ðó là việc làm của người tự lợi trước để sau lợi tha. Còn hiện tiền phú quí công danh toàn chưa quên nghĩ, dục vọng gái trai ăn uống cũng chưa biết chán, thì với pháp môn vãng sanh Cực lạc chưa dễ thâm tín. Có tin đi nữa thì thân tu tịnh độ mà tâm luyến Sa bà, phỏng có ích gì.

    Như vậy, muốn cầu cái pháp môn không rời lưỡi câu dục lạc mà vẫn thành tựu tuệ giác Phật đà, ở trong cảnh thuận tiện mà không đến nỗi chìm đắm, thì cố nhiên không có chi hơn tu trì theo sự đặc biệt, siêu đẳng, và khó nghĩ bàn cho thấu, của đại nguyện Dược sư như lai. Nếu tin và làm được, mãi hoài mà không nhác, thì sẽ thấy chẳng những phú quí công danh, chuyển gái thành trai, thoát ly nguy khốn, đạt đến tốt lành, tất cả đều như được ngọc như ý, tùy ý thành tựu, mà còn được điều này : là chính nơi cái chỗ thành tựu mọi sự đó mà thẳng tới bồ đề, không còn thoái chuyển. Như vậy còn sự may mắn nào sánh bằng.

    Nhân gian cũng có hạc Dương châu, chỉ cần đi bằng thuyền công đức của Như lai là kiếm được.  

    Mục lục
    
    Tiểu dẫn. 5
    Lời đề khóa tụng kinh Dược Sư của Ngọc lâm quốc sư. 8
    Kinh Dược  sư. 11
    Sám  Dược  sư  cuốn trước. 68
    Sám  Dược  sư  cuốn  giữa. 94
    Sám  Dược  sư  cuốn  sau. 128
    Lược giải kinh dược sư (có mục lục riêng) 153
    Ghi chú. 222 

    Kinh Dược  sư

     Khai  kinh

    (Tán lễ Phật)
    Ðại từ đại bi
    thương xót chúng sanh,
    đại hỷ đại xả
    cứu vớt muôn loài,
    hào quang diệu tướng
    dùng tự trang nghiêm,
    chúng con chí thành
    qui y đảnh lễ.
    Nhất tâm đảnh lễ Phật bảo thường trú khắp cả mười phương.
    Nhất tâm đảnh lễ Pháp bảo thường trú khắp cả mười phương.
    Nhất tâm đảnh lễ Tăng bảo thường trú khắp cả mười phương.
    Nhất tâm đảnh lễ bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nhất tâm đảnh lễ Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nhất tâm đảnh lễ kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nhất tâm đảnh lễ chư Phật Bồ tát trong pháp hội Dược sư.

    (cúng hương)
    Hương thơm tâm tánh
    đủ cả năm phần,
    vừa được đốt lên
    bởi lửa bản thể,
    thì cả pháp giới
    đều được chan hòa,
    phàm cùng với thánh
    xông ướp tất cả ;
    chính trong hương thơm
    quyện lên như vậy,
    mà các đức Phật
    hiển lộ toàn thân.
    Nam mô hương cúng dường bồ tát ma ha tát (3 lần).

    (Chân ngôn làm sạch ngoại cảnh)
    Án lam sa ha (21 lần)

    (Chân ngôn làm sạch thân miệng ý)
    Án sa phạ bà phạ thuật đà, sa phạ đạt ma sa phạ, bà phạ thuật độ hám (7 lần).

    (Phát nguyện)
    Kính lạy chư Thế tôn,
    qui y các Phật đà,
    nay con phát đại nguyện,
    trì tụng kinh Dược sư,
    trên trả bốn ơn nặng,
    dưới giúp ba đường khổ,
    những người thấy nghe được,
    đều phát tâm bồ đề,
    báo thân này kết thúc,
    cùng sanh các tịnh độ.

    (Niệm hiệu Phật)
    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật  (3 lần)

    (Kệ khai kinh)
    Phật pháp tuyệt diệu,
    cực kỳ cao xa,
    trăm ngàn vạn kiếp,
    khó mà gặp được ;
    nay con thấy nghe,
    lại được thọ trì,
    nguyện cầu thấu hiểu,
    ý thật của Phật.
    Nam mô Dược sư hội thượng Phật Bồ tát (3 lần)

    kinh
    Bản nguyện công đức của đức
    Dược sư lưu ly quang như lai

    Thời đại nhà Ðường, Tam tạng
    pháp sư Huyền tráng dịch

    Tôi nghe như vầy.
    Một thời, đức Thế tôn du hóa các nước, đến thành Quảng nghiêm, dừng ở dưới cây Tiếng nhạc. Tám ngàn vị đại tỷ kheo, ba vạn sáu ngàn vị đại bồ tát, và các quốc vương, đại thần, đạo sĩ, cư sĩ, tám bộ thiên long, loài người và loài không phải người, đại chúng vô lượng như vậy, cung kính vây quanh đức Thế tôn để được Ngài thuyết pháp cho.

    Lúc ấy, Mạn thù pháp vương tử vâng theo uy thần của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, trần vai áo bên trái, gối bên phải quì xuống sát đất hướng về đức Phật, cong mình, chắp tay mà thưa, bạch đức Thế tôn, con xin ngài nói về tướng loại như thế này, đó là danh hiệu, bản nguyện vĩ đại và công đức thù thắng của chư Phật, làm cho người nghe tiêu trừ những sự chướng ngại do nghiệp lực tạo ra. Là vì con muốn lợi lạc cho mọi người trong thời kỳ Phật pháp tương tự xuất hiện. Ðức Thế tôn tán dương Mạn thù đồng tử, lành thay Mạn thù, lành thay, ông đem lòng thương rộng lớn thỉnh cầu Như lai nói về danh hiệu, bản nguyện và công đức của chư Phật để cứu vớt những kẻ bị nghiệp chướng buộc thắt, lợi lạc mọi người trong thời kỳ Phật pháp tương tự. Ông hãy nghe kỹ, suy nghĩ rất khéo, Như lai sẽ nói cho. Mạn thù bạch Phật, dạ, xin Phật chỉ dạy, chúng con thích thú mà nghe.

    Phật dạy Mạn thù, phía đông, cách thế giới hệ này bởi những thế giới hệ bằng số cát hơn mười sông Hằng, có một thế giới hệ tên Tịnh lưu ly. Ðức Phật ở đó danh hiệu là Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng, chánh biến tri, minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, phật : thế tôn.

    Mạn thù, đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, xưa kia, khi làm hạnh bồ tát, đã phát ra mười hai đại nguyện, cốt làm cho mọi người thực hiện mọi sự mong ước.

    Ðại nguyện thứ nhất, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì bản thân ánh sáng rực rỡ, chiếu soi vô số thế giới hệ. Thân ấy lại được trang hoàng bằng bâm hai tướng tốt của bậc đại trượng phu, và tám mươi tướng phụ. Lại làm cho mọi người không khác gì với con.

    Ðại nguyện thứ hai, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì thân như ngọc lưu ly, trong ngoài trong suốt, không chút vẩn đục, ánh sáng to lớn và chiếu tỏa xa rộng. Công đức đồ sộ, lại khéo an trú. Những tia sáng rực rỡ, dệt nhau như mạng lưới, và tráng lệ quá hơn nhật nguyệt. Chúng sanh tối tăm được soi sáng cả, nên tùy ý hướng mà làm mọi sự nghiệp.

    Ðại nguyện thứ ba, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì vận dụng vô lượng trí tuệ và phương tiện, làm cho mọi người cùng được vô tận những vật hưởng dụng, không để cho ai có sự thiếu thốn.

    Ðại nguyện thứ tư, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì những kẻ đi theo tà đạo đều được làm cho ở yên trong đạo giác ngộ, những người tu theo thanh văn duyên giác đều được xây dựng bằng pháp đại thừa.

    Ðại nguyện thứ năm, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì vô số người tu hành phạn hạnh trong chánh pháp của con, con làm cho tất cả được giới thể không thiếu sót, trọn vẹn giới pháp ba loại. Giả sử phá phạm đi nữa, nghe danh hiệu con rồi là phục hồi thanh tịnh, không rơi vào đường dữ.

    Ðại nguyện thứ sáu, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ thân hình thấp kém, giác quan không đủ, xấu xí, u mê, mù điếc, câm ngọng, tay quắp, chân quẹo, lưng gù, phung lác, điên cuồng, đủ thứ bịnh khổ, nhưng nghe danh hiệu con rồi, tất cả đều đẹp đẽ, thông minh, giác quan hoàn bị, hết mọi bịnh khổ.

    Ðại nguyện thứ bảy, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô  thượng, những kẻ bị mọi thứ bịnh khổ hành hạ mà không ai cứu giúp không nơi nương tựa, không có y sĩ, không có dược liệu, không có thân thuộc, không có nhà cửa, nghèo nàn lắm khổ, thì danh hiệu của con, một khi đi qua thính giác của họ, là bịnh khổ tan biến, thân tâm an lạc, nhà cửa, thân thuộc và đồ dùng, đầy đủ tất cả, cho đến thực hiện được tuệ giác vô thượng.

     Ðại nguyện thứ tám, nguyện con sau này, khi dược tuệ giác vô thượng, nếu có nữ nhân nào bị hành hạ bởi cả trăm thứ khổ sở của nữ nhân, nên cùng cực chán ngán, muốn thoát thân ấy, thì nghe danh hiệu con rồi, tất cả đều chuyển thân nữ nhân thành thân nam tử, đủ tướng trượng phu, cho đến thực hiện được tuệ giác vô thượng.

    Ðại nguyện thứ chín, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì làm cho mọi người thoát khỏi mạng lưới của ma vương, cổi mở thắt buộc của ngoại đạo. Sa vào rừng rậm ác kiến thì sẽ được dẫn ra, đem đặt vào chánh kiến, và dần dần làm cho họ thực tập các hạnh bồ tát, để thực hiện một cách mau chóng tuệ giác vô thượng.

    Ðại nguyện thứ mười, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô  thượng, thì những kẻ bị phép vua ghi sổ, xích trói đánh khảo, giam nhốt lao ngục, sắp bị hành hình, cọng với vô lượng tai nạn khổ nhục và bi thảm sầu muộn khác nữa, ngâm nấu bức bách, làm cho cả cơ thể lẫn tâm trí đều chịu thống khổ, nhưng nghe danh hiệu của con, thì vì năng lực phước đức và uy thần của con mà họ thoát hết mọi sự lo sợ khổ sở.

    Ðại nguyện mười một, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ bị đói khát hành hạ, vì cầu cái ăn mà làm mọi ác nghiệp, nhưng nghe dược danh hiệu của con, nhất tâm thọ trì, thì trước hết con làm cho họ no đủ cơ thể bằng thực phẩm tuyệt diệu, sau đó con sẽ đem cái vui cứu cánh của pháp vị mà xây dựng cho họ.

    Ðại nguyện mười hai, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ nghèo thiếu y phục, ngày đêm khổ sở vì muỗi mòng lạnh nóng, nếu nghe danh hiệu của con mà nhất tâm thọ trì, thì như sở thích của họ, họ được liền những thứ y phục tuyệt diệu, lại được những đồ trang sức bằng vàng ngọc. Hoa vòng, hương hoa, âm nhạc hòa tấu và mọi kỹ thuật biểu diễn, tùy ý họ thích, con làm cho đầy đủ tất cả.

    Mạn thù, đó là mười hai đại nguyện tối thượng, nhiệm mầu, của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng, chánh biến tri, đã lập ra khi còn làm hạnh bồ tát.

    Mạn thù, những đại nguyện tối thượng của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai đã lập ra khi còn làm hạnh bồ tát, và những công đức trang nghiêm của thế giới hệ đức Phật ấy, Như lai diễn tả trong một đại kiếp, hay hơn một đại kiếp, cũng không thể cùng tận. Thế giới hệ của đức Phật ấy hoàn toàn thanh tịnh, không có nữ nhân, không có ác đạo không có cả đến cái tiếng thống khổ. Ðất làm bằng ngọc lưu ly. Ðường ngăn bằng giây vàng. Thành, cửa thành, cung điện, lầu gác, mái hiên, cửa sổ, lưới giăng, toàn bằng bảy thứ quí báu. Y như thế giới hệ Cực lạc ở phía tây, công đức trang nghiêm không khác gì cả. Thế giới hệ ấy có hai vị đại bồ tát, thứ nhất danh hiệu Nhật quang biến chiếu, thứ hai danh hiệu Nguyệt quang biến chiếu. Ðó là hai vị đứng đầu chúng bồ tát nhiều vô số lượng của thế giới hệ ấy, thứ lớp kế vị thành Phật, và cùng có khả năng nắm giữ kho tàng ngọc báu chánh pháp của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai. Thế nên, Mạn thù, những thiện nam hay thiện nữ có đức tin hãy nguyện sanh thế giới hệ của đức Phật ấy.

    Lúc ấy, đức Thế tôn lại bảo Mạn thù đồng tử, Mạn thù, có những kẻ không nhận thức cái lẽ thiện ác, chỉ giữ thói tham lẫn mà không biết bố thí và phước báo bố thí. Ngu muội, không có trí tuệ, thiếu cả đức tin. Dồn chứa tài sản vàng ngọc cho nhiều, nỗ lực mà giữ. Thấy người xin đến, lòng họ không vui. Giả sử bất đắc dĩ mà bố thí, thì lúc đó đau tiếc sâu xa như cắt thịt mình. Lại còn lắm kẻ tham lẫn, dồn chứa tài sản mà đối với bản thân của họ, họ còn không hưởng dụng, huống chi có thể đem cho cha mẹ, vợ con, tôi tớ, người làm hay kẻ đến xin. Những kẻ ấy, sinh mạng kết thúc ở đây thì sanh trong thế giới quỉ đói hay súc vật. Nhưng xưa kia, khi ở trong loài người, từng được thoáng nghe danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang như lai, nên ngày nay, dầu ở trong ác đạo, vẫn thoáng nhớ danh hiệu của đức Như lai ấy, và ngay khi nhớ thì chết ở ác đạo mà sanh lại loài người, được sự nhớ đời trước nên sợ nỗi khổ ác đạo mà không ham dục lạc, thích bố thí và ca tụng người bố thí. Có gì cũng không tiếc. Dần dần tiếp theo, đầu mắt, tay chân, máu thịt và những bộ phận khác của cơ thể, còn có thể đem cho người đến xin, huống chi những thứ tiền tài sản vật khác.

    Mạn thù, có kẻ dầu thọ giới pháp với Như lai mà lại phá giới pháp ấy. Có kẻ không phá giới pháp mà phá qui tắc. Có kẻ đối với giới pháp và qui tắc tuy được sự không phá hoại, nhưng lại phá hoại chánh kiến. Có kẻ không phá hoại chánh kiến mà bỏ phế đa văn, nên đối với nghĩa lý sâu xa của kinh Phật nói không thể lý giải. Có kẻ tuy đa văn mà thượng mạn : vì thượng mạn úp che tâm trí nên cho mình phải, bảo người trái, ghét chê cả chánh pháp, làm bè đảng với ma. Những kẻ ngu si như vậy tự mình đã làm theo tà kiến, lại làm cho vô số người khác rơi xuống hố lớn nguy hiểm. Những kẻ ấy đáng lý trôi lăn vô cùng trong địa ngục, súc sanh và loài quỉ. Nhưng nếu được nghe danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang như lai, thì bỏ ngay tánh ác, tu các pháp lành, và sẽ không sa vào các ác đạo. Giả sử có kẻ vẫn không thể bỏ ngay tánh ác, tu các pháp lành, và phải sa vào các ác đạo đi nữa, thì nhờ uy lực đại nguyện của đức Dược sư lưu ly quang như lai mà làm cho họ thoáng nghe được danh hiệu của ngài, sinh mạng kết thúc ở ác đạo, sanh lại trong loài người, được chánh kiến, tinh tiến, và ý thích khéo thuần hóa, nên thoát ly gia đình, đi đến phi gia đình, ở trong pháp Như lai mà thọ giới, giữ giới, không có phạm giới mà lại chánh kiến, đa văn, lý giải nghĩa lý cực kỳ sâu xa mà lại viễn ly thượng mạn, không chê chánh pháp, không làm bạn ma, dần dần tu hành các hạnh bồ tát và đầy đủ một cách mau chóng.

    Mạn thù, có những kẻ tham lẫn ganh ghét, tán tụng bản thân, công kích kẻ khác, nên sẽ sa vào ba ác đạo, nhiều lần ngàn năm chịu mọi sự khổ sở khốc liệt. Chịu khổ sở khốc liệt rồi, sinh mạng kết thúc ở đó mà đến sanh trong loài người, thì làm trâu bò, lừa ngựa, lạc đà, thường bị đánh đập, đói khát hành hạ, lại luôn luôn mang nặng, chở nhiều, và đi theo đường phải đi, hoặc được làm người thì sinh nơi hèn hạ, làm tôi tớ người, bị người sai sử, thường mất tự do. Nhưng nếu xưa kia, khi còn làm người, từng nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, thì do nhân lành ấy mà nay nhớ lại, chí tâm qui y, nhờ thần lực của Ngài mà thoát hết khổ sở, giác quan tinh nhuệ, trí tuệ đa văn, thường cầu thắng pháp, thường gặp thiện hữu, đứt hẳn lưới ma, đập vỏ vô minh, khô sông phiền não, giải thoát hết thảy sinh lão bịnh tử, lo buồn khổ não.

    Mạn thù, có những kẻ tính thích chống đối, ly gián, đấu tranh, kiện tụng, gây bực tức và rối loạn cho bản thân và kẻ khác. Ðem cả thân thể, lời nói và ý nghĩ mà tạo ra và thêm lớn đủ thứ ác nghiệp. Gây mãi cho nhau những sự bất lợi để mưu hại lẫn nhau. Cáo triệu những vị thần rừng núi, cây cối, mồ mả ; giết sinh vật lấy máu huyết mà cúng tế dạ xoa, la sát ; viết tên người mình oán, làm hình và ảnh của người ấy, đem chú thuật tàn ác mà thư ;  ếm phù chú, dùng thuốc độc, chú quỉ khởi thi – dùng mọi cách này mà làm đứt sinh mạng người ấy, làm chết thân họ. Người ấy nếu được nghe danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang như lai thì mọi việc dữ trên không cách nào hại được. Lại cùng kẻ kia, tất cả đôi bên đều nổi dậy từ tâm đối với nhau, làm lợi ích an lạc mà không còn ý thức thương tổn hay tâm lý ghét giận. Ðôi bên cùng vui đẹp. Ðối với những thứ mình hưởng thụ, ai cũng thích vừa đủ thì thôi, không muốn lấn nhau, chỉ làm ích lợi cho nhau.

    Mạn thù, trong bốn chúng tỷ kheo, tỷ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, và những thiện nam thiện nữ khác có đức tin thuần tịnh, nếu ai có khả năng thọ trì Bát quan trai giới, bằng cách hoặc cả năm hoặc ba tháng, thọ trì giới ấy. Rồi đem thiện căn này nguyện sanh thế giới hệ Cực lạc ở phía tây, chỗ A di đà phật, để được nghe chánh pháp của ngài, nhưng chưa quyết định. Nếu nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, thì đến khi sinh mạng  kết thúc, có tám vị đại bồ tát, danh hiệu Văn thù sư lợi bồ tát, Quan thế âm bồ tát, Ðắc đại thế bồ tát, Vô tận ý bồ tát, Bảo đàn hoa bồ tát, Dược vương bồ tát, Dược thượng bồ tát và Di lạc bồ tát, tám vị đại bồ tát này lướt không gian mà đến, chỉ đường cho người ấy. Tức thì người ấy tự nhiên hóa sinh trong hoa sen bằng các thứ ngọc, và đủ mọi màu sắc xen lẫn với nhau, của thế giới hệ Cực lạc. Cũng có người nhờ sự ấy mà sanh lên cõi trời. Tuy sanh lên cõi trời, nhưng thiện căn xưa cũng chưa cùng tận, và không còn sanh lại tại các ác đạo. Mà sự sống lâu trên cõi trời chấm hết thì sanh lại trong nhân gian. Bằng cách hoặc sanh làm luân vương, thống nhiếp cả bốn đại châu, uy đức tự tại, xây dựng vô lượng trăm ngàn chúng sanh vào mười thiện nghiệp. Hoặc sanh vào dòng sát đế lợi, bà la môn, cư sĩ, đại gia, nhiều tiền tài, lắm vàng ngọc, kho bồ tràn đầy, thân hình và tướng mạo đều đẹp đẽ trang nghiêm, bà con và bạn bè cùng đầy đủ, trí tuệ thông minh, sức lực mạnh mẽ như đại lực sĩ. Nếu là phụ nữ mà được nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, nhất tâm thọ trì thì về sau không còn chịu lại thân thể phụ nữ.

    (3)Mạn thù, khi đức Dược sư lưu ly quang như lai thành tựu tuệ giác vô thượng bồ đề, thì do năng lực đại nguyện xưa mà quán sát chúng sanh bị mọi bịnh khổ, như những bịnh gầy ốm, co quắp, tiêu khô, vàng nóng, hoặc bị trúng bùa ếm, thuốc độc, hoặc chết non, chết ngang trái. Muốn làm cho họ tiêu trừ những bịnh khổ ấy, sở cầu mãn nguyện, nên bấy giờ đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai nhập định danh hiệu Diệt trừ mọi khổ não của chúng sanh. Nhập định ấy rồi, từ trong nhục kế phóng ra ánh sáng lớn. Trong ánh sáng này diễn ra đà la ni vĩ đại sau đây : Nam mô, Bạc già phạt đế, bệ sát xã lũ rô – bệ lưu ly bát lạt bà – hát ra xà dã, đát tha yết đa dã, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha : Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ – bệ sát xã – tam một yết đế, sa ha. Khi trong ánh sáng diễn ra đà la ni vĩ đại ấy rồi, đại địa chấn động, phóng ánh sáng lớn, hết thảy chúng sanh bịnh khổ tiêu trừ, hưởng được cái vui yên ổn. Mạn thù, nếu thấy nam tử hay nữ nhân, ai bị bịnh khổ, thì nên nhất tâm vì bịnh nhân ấy mà luôn luôn tinh khiết, tắm rửa, súc miệng, rồi đem thực phẩm, dược phẩm, hay nước không có trùng, trì chú này một trăm lẻ tám biến, cho họ uống, ăn, thì bịnh khổ họ có tiêu tan tất cả. Nếu có cầu gì, chí tâm tụng niệm thì cũng được như vậy, lại không bịnh, thêm tuổi, và sau khi sinh mạng kết thúc thì sanh thế giới hệ của đức Dược sư lưu ly quang như lai, được sự không còn thoái chuyển cho đến tuệ giác bồ đề. Vì vậy Mạn thù, nếu có nam tử nữ nhân nào đối với đức Dược sư lưu ly quang như lai mà chí tâm, tha thiết, cung kính, cúng dường, thì hãy thường trì chú này, đừng để bỏ phế, quên mất.

    Mạn thù, nếu nam tử hay nữ nhân có đức tin thuần tịnh, được nghe danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng, chánh biến  tri, nghe rồi trì niệm. Sáng sớm đánh răng, tắm rửa, súc miệng sạch sẽ, đem các thứ hương hoa, trong đó có hương đốt, hương xoa, và diễn tấu kỹ nhạc mà cúng dường hình tượng của ngài. Ðối với kinh này, hoặc tự chép, hoặc bảo người chép, nhất tâm thọ trì, nghe học nghĩa lý. Ðối với pháp sư giảng giải kinh này, cũng nên cúng dường, mọi đồ giúp sống thân thể mà mình có, hãy cúng dường đầy đủ, đừng để vị ấy thiếu thốn. Như vậy thì được chư Phật hộ niệm, sở cầu mãn nguyện, cho đến thực hiện tuệ giác bồ đề(4).

    Lúc ấy Mạn thù đồng tử bạch Phật, bạch đức Thế tôn, con nguyện khi thời kỳ Phật pháp tương tự xuất  hiện, thì dùng mọi cách làm cho những thiện nam hay thiện nữ có đức tin thuần tịnh được nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai. Cho đến trong lúc ngủ, con cũng đem danh hiệu Ngài thức tỉnh thính giác của họ. Bạch đức Thế tôn, đối với kinh này thì thọ trì đọc tụng hay tuyên thuyết khai thị cho người, tự chép hay bảo người chép, cung kính tôn trọng, đem hiến cúng những thứ hương hoa, hương xoa, hương vụn, hương đất, vòng hoa, chuỗi ngọc, tràng phan, bảo cái, và kỹ thuật biểu diễn, trong đó có âm nhạc. Lấy tơ lụa có năm màu sắc làm bao mà đựng. Quét rưới chỗ thanh tịnh, trần thiết dá cao mà để. Thì khi ấy bốn đại thiên vương, cùng tùy thuộc của họ, và vô số trăm ngàn thiên chúng, đều đến chỗ đó mà cúng dường, hộ vệ. Bạch đức Thế tôn, những chỗ kinh bảo này lưu hành, có ai thọ trì được, thì vì bản nguyện, công đức, và danh hiệu được nghe, của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, mà nên biết người ấy không còn chết ngang trái, không còn bị những quỉ thần ác đoạt mất tinh chất. Ðã bị đoạt thì được lại như cũ, thân tâm an  lạc. 

    Phật dạy, Mạn thù, đúng như vậy, đúng như ông nói. Mạn thù, nếu có thiện nam thiện nữ đức tin thuần tịnh, muốn cúng dường đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, thì trước hết, hãy tạo lập hình tượng của Ngài, trần thiết tòa thanh tịnh mà đặt để. Rải các thứ hoa, đốt các thứ hương, đem các thứ tràng phan mà trang hoàng chỗ ấy. Bảy ngày đêm thọ Bát quan trai giới, ăn đồ ăn thanh tịnh. Tắm gội cho sạch và thơm, mặc y phục sạch sẽ. Nên phát sanh tâm không dơ bẩn, tâm không giận dữ tác hại. Nghĩa là đối với hết thảy chúng sanh khởi lên cái tâm lợi ích an lạc, từ bi hỷ xả và bình đẳng. Rồi tấu nhạc và ca tụng, nhiễu quanh tượng phật Dược sư lưu ly quang như lai theo chiều hướng bên phải. Lại nên tưởng niệm bản nguyện và công đức của đức Như lai ấy, đọc tụng kinh này, tư duy nghĩa ý và diễn giảng khai thị. Như vậy thì mọi sở cầu đều toại ý : cầu sống lâu được sống lâu, cầu giàu có được giàu có, cầu quan chức được quan chức, cầu con trai dược con trai, cầu con gái được con gái. Nếu ai bỗng nhiên bị ác mộng, thấy đủ cảnh tượng khủng khiếp, hoặc bị những giống chim quái dị đến tập hợp lại, hoặc chỗ ở có cả trăm sự quái dị xuất hiện, kẻ ấy nếu đem những đồ tuyệt diệu cung kính cúng dường đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, thì những ác mộng và những cảnh tượng khủng khiếp, những sự không cát tường, ẩn mất tất cả, không thể tác hại. Nếu ai bị những sự hãi sợ như thủy tai, hỏa hoạn, khí giới, độc chất, chơi vơi giữa chừng, sa xuống chỗ hiểm, voi dữ, sư tử, cọp, sói, gấu, bi, rắn độc, bò cạp, rít, sâu, muỗi, nhặng, mà chí tâm tưởng niệm được đức phật Dược sư lưu ly quang như lai, cung kính cúng dường, thì mọi sự hãi sợ đều thoát được cả. Nếu ai bị nước khác xâm lăng, quấy nhiễu, nội bộ trộm cướp, phản loạn, tưởng niệm cung kính đức Như lai ấy cũng thoát hết thảy. 

    Mạn thù, nếu có thiện nam thiện nữ đức tin thuần tịnh, cho đến hết đời, không thờ vị trời nào khác chỉ nhất tâm qui y Phật Pháp Tăng, thọ trì giới pháp, như năm giới, mười giới, bốn trăm giới của bồ tát, hai trăm năm mươi giới của tỷ kheo, năm trăm giới của tỷ kheo ni. Nhưng đối với giới pháp của họ thọ trì, hoặc có kẻ phá phạm nên sợ đọa lạc ác đạo. Nếu biết chuyên tâm trì niệm danh hiệu đức phật Dược sư lưu ly quang như lai, cung kính cúng dường, thì quyết chắc không phải lãnh chịu đời sống trong ba ác đạo.

    Nếu có nữ nhân nào, lúc gần sinh sản, chịu đựng đau đớn cùng cực, mà biết chí tâm trì niệm danh hiệu, lễ bái, ca tụng, cung kính, cúng dường đức Như lai ấy, thì mọi nỗi đau đớn tan biến tất cả. Ðứa con sinh ra, mọi bộ phận của thân hình đều hoàn bị, sắc tướng của thân hình ấy đẹp và nghiêm, ai thấy cũng hoan hỷ, giác quan tinh nhuệ, trí tuệ thông minh, yên ổn, ít bịnh, không có một kẻ không phải người đoạt mất tinh chất của đứa con ấy.

    Lúc ấy đức Thế tôn bảo tôn giả A nan, công đức mà đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai có mà Như lai đã ca tụng, là chỗ hiểu biết cực kỳ sâu xa của chư Phật, khó mà lý giải, ông tin được không ? Tôn giả A nan bạch Phật, bạch đức Thế tôn uy đức cao cả, đối với khế kinh Ngài dạy, con không sinh tâm nghi ngờ. Tại sao, vì thân thể, lời nói và ý nghĩ của các đức Như lai, không động tác nào mà không thanh tịnh. Bạch đức Thế tôn, vầng nhật nguyệt kia có thể làm cho rơi rụng, và Tu di, hòn núi chúa tể trong các hòn núi, cũng có thể làm cho nghiêng đổ, nhưng lời nói của chư Phật thì không thể làm cho khác đi được. Tuy nhiên, bạch đức Thế tôn, có những kẻ đức tin không đủ nghe nói chỗ hiểu biết cực kỳ sâu xa của chư Phật thì nghĩ, tại sao chỉ trì niệm một danh hiệu Phật của đức Dược sư lưu ly quang như lai mà thu hoạch bao nhiêu công đức và ích lợi vượt bậc như vậy. Vì sự không tin này mà quay lại phỉ báng. Những kẻ ấy suốt đêm trường mất lợi lạc lớn, đọa lạc ác đạo trôi lăn không cùng. Phật dạy tôn giả A nan, những kẻ ấy nếu nghe dược danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, chí tâm thọ trì, không sinh nghi hoặc, mà vẫn đọa lạc ác đạo là điều không có. A nan, đó là chỗ hiểu biết cực kỳ sâu xa của chư Phật, khó thể tin và hiểu. Nay ông tiếp nhận được, phải biết toàn là do uy lực Như lai. A nan, hết thảy Thanh văn, Ðộc giác và các vị Bồ tát chưa bước lên thập địa, đều không thể tin và hiểu một cách đúng như sự thực, chỉ trừ các vị Bồ tát còn hệ thuộc một đời mà thôi. A nan, thân thể loài người khó mà có được, sự tin tưởng tôn kính Tam bảo càng khó mà có được, nhưng nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai lại khó được hơn những sự khó được ấy. A nan, vô lượng bồ tát hạnh, vô lượng thiện phương tiện, và vô lượng quảng đại nguyện, của đức Dược sư lưu ly quang như lai, trong một đại kiếp hay hơn một đại kiếp, Như lai nói một cách đầy đủ, thì đại kiếp ấy có thể kết thúc mau chóng, còn hạnh nguyện và phương tiện của đức Phật này vẫn không cùng tận. 

    Lúc ấy trong chúng hội có một vị đại sĩ danh hiệu Cứu thoát, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trần vai áo bên phải, gối bên phải quì xuống sát đất, cong mình, chắp tay mà bạch Phật, bạch đức Thế tôn uy đức cao cả, khi thời kỳ Phật pháp tương tự xuất hiện, có những kẻ bị mọi thứ bịnh hoạn làm cho nguy khốn. Bịnh mãi, gầy ốm, ăn uống không được, cổ và môi đều khô nóng. Nhìn mọi phía đều đen tối. Tướng chết xuất hiện. Cha mẹ, anh em, bà con, bạn bè, quen biết, khóc lóc vây quanh. Nhưng bản thân bịnh nhân thì tuy vẫn nằm chỗ của mình, mà lại thấy sứ giả Diêm vương dẫn thần thức của mình đến trước vị vua chấp pháp này. Nguyên mọi người đều có vị thần cùng sanh, tùy việc họ làm, tội cũng như phước, ghi chép đầy đủ, và bấy giờ trao cả cho Diêm vương. Diêm vương tra hỏi kẻ ấy, tính việc họ làm, tùy tội và phước mà xử phán. Chính trong lúc này, thân thuộc hay quen biết của bịnh nhân, nếu biết vì họ mà qui y đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, cung thỉnh chư Tăng đọc tụng kinh này, đốt cây đèn bảy tầng, treo phan thần “tiếp nối mạng sống” bằng năm màu, thì hoặc có kẻ nơi đây thần thức về được, và như trong chiêm bao, tự thấy rõ ràng ; hoặc trải qua bảy ngày, hoặc hai mươi mốt ngày, hoặc ba mươi lăm ngày, hoặc bốn mươi chín ngày, khi thần thức về được thì như từ chiêm bao thức dậy, tự nhớ biết tất cả quả báo của thiện nghiệp ác nghiệp. Nhờ tự chứng kiến nghiệp báo, nên đến nỗi gặp phải tai nạn cho sinh mạng, cũng không tạo tác ác nghiệp. Vì vậy, những thiện nam thiện nữ đức tin thuần tịnh, hãy thọ trì danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang như lai, tùy sức có thể mà cung kính cúng dường.

    Lúc ấy tôn giả A nan hỏi bồ tát Cứu thoát, thiện nam tử, nên bằng cách nào cung kính cúng dường đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai ? Phan và đèn “tiếp nối mạng sống” nên làm cách nào ? Bồ tát Cứu thoát nói, đại đức, nếu bịnh nhân muốn thoát bịnh khổ, nên vì họ mà bảy ngày đêm thọ trì Bát quan trai giới. Nên đem đồ ăn, đồ uống và đồ dùng, tùy sức liệu biện mà cúng dường Tỷ kheo tăng. Ngày đêm sáu buổi lễ bái cúng dường đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai. Ðọc tụng kinh này bốn mươi chín biến. Ðốt bốn mươi chín ngọn đèn. Tạo hình tượng đức Như lai ấy bảy vị. Trước mỗi hình tượng để bảy ngọn đèn, cái lượng mỗi ngọn đèn lớn như bánh xe. Và đến bốn mươi chín ngày đêm, ánh sáng không đứt. Còn làm phan năm màu thì dài bốn mươi chín gang tay. Nên phóng sanh đến bốn mươi chín giống khác nhau. Như vậy thì có thể qua được tai nạn nguy khốn, không bị mọi thứ ngang trái và quỉ dữ tác hại. 

     Ðại đức A nan, nếu giai cấp Sát đế lợi, các vị vua đã làm lễ quán đảnh, khi tai nạn nổi dậy, như dân chúng bịnh dịch, nước khác lấn ép, nước mình phản nghịch, tinh tú quái dị, nhật thực nguyệt thực gió mưa trái thì, quá thì không mưa, thì giai cấp Sát đế lợi, các vị vua đã làm lễ quán đảnh, lúc ấy, hãy phát khởi tâm từ bi đối với tất cả chúng sanh, ân xá những người bị giam bị nhốt, và theo cách cúng dường tôi đã nói trên mà cúng dường đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai. Nhờ thiện căn như vậy, và nhờ năng lực bản nguyện của đức Như lai ấy, mà làm cho quốc độ của họ tức khắc yên ổn, gió mưa điều hòa, lúa má thành thục, mọi  người vô bịnh, vui vẻ. Trong  quốc độ của họ không có những loại thần Dạ xoa bạo ác, tác hại chúng sanh. Mọi hiện tượng dữ ẩn mất tất cả và tức thì. Còn giai cấp Sát đế lợi, và những vị vua đã làm lễ quán đảnh, thì sự sống, tướng tốt, sức mạnh, vô bịnh và tự do, đều được tăng thêm. Nếu hoàng hậu, hoàng phi, đông cung, vương tử, đại thần, phụ chánh, thể nữ, bách quan và dân chúng, bị bịnh làm khổ, và bị những tai nạn khác, cũng nên làm phan thần năm màu và đốt đèn sáng liên tục, phóng các loại có sinh mạng, rải những bông hoa đủ màu, đốt những hương thơm nổi tiếng, thì bịnh hết, nạn khỏi. 

    Lúc ấy tôn giả A nan lại hỏi bồ tát Cứu thoát, thiện nam tử, tại sao mạng sống đã hết mà có thể làm cho tăng thêm ? Bồ tát Cứu thoát nói, đại đức, ngài không nghe đức Thế tôn nói có chín sự chết ngang trái hay sao. Vì chín sự chết này mà tôi khuyên làm phan và đèn “tiếp nối mạng sống”, tu các phước đức. Nhờ tu các phước đức mà trọn đời không trải qua một cơn đau đớn hoạn nạn nào cả. Tôn giả A nan hỏi, chín sự chết ngang trái là gì ? Bồ tát Cứu thoát nói, có kẻ bị bịnh tuy nhẹ, nhưng không thầy, không thuốc, không ai coi sóc. Gặp thầy thì lại bị cho thuốc không đúng, nên thật không đáng chết mà chết một cách ngang trái. Lại tin thầy bà yêu nghiệt của tà ma ngoại đạo thuộc phạm vi thế gian nói  vớ vẩn về họa phước, nên đâm ra sợ hãi, dao động. Tâm thì không tự chánh nó lại, lại đi bói hỏi để tìm lấy tai họa. Giết hại sinh vật mà giải tấu thần minh, van vái yêu quái để xin làm phước giúp đỡ mong muốn thêm tuổi nhưng chung cục không thể đạt được. Ngu si mê lầm, tin theo cái thấy cong và ngược, nên làm chết mình một cách ngang trái, nhập vào địa ngục, không có kỳ hạn thoát ra. Ðó là sự chết ngang trái thứ nhất. Thứ hai, một cách ngang trái bị phép vua giết. Thứ ba, săn bắn, chơi bời, đam mê tửu sắc, phóng túng vô độ, một cách ngang trái bị những kẻ không phải người đoạt mất tinh chất. Thứ tư, một cách ngang trái bị lửa đốt. Thứ năm, một cách ngang trái bị nước chìm. Thứ sáu, một cách ngang trái bị các giống thú dữ ăn. Thứ bảy, một cách ngang trái rơi xuống sườn núi. Thứ tám, một cách ngang trái trúng chết bởi thuốc độc, ếm vái, chú thư, quỉ khởi thi. Thứ chín, chết một cách ngang trái vì đói khát nguy khốn, không được đồ ăn thức uống. Ðó là sự chết ngang trái mà đức Thế tôn nói vắn tắt có chín thứ như vậy. Ngoài ra còn có vô số những sự ngang trái khác, khó nói cho đủ.

     Ðại đức A nan, Diêm vương lãnh xét sự ghi chép về sách tịch của thế gian. Ai bất hiếu cha mẹ, làm năm tội nghịch, hủy nhục Tam bảo, phá phép vua tôi, làm hỏng tánh giới, thì Diêm vương theo tội nặng nhẹ xét mà phạt. Vì lý do ấy, nay tôi khuyến cáo mọi người đốt đèn, treo phan, phóng sanh, tu phước, làm cho họ qua khỏi khốn khổ, không gặp mọi sự hoạn nạn.

    Lúc ấy trong chúng hội có mười hai vị đại tướng Dạ xoa, cùng có mặt ở đó, là đại tướng Cung tỳ la, đại tướng Phạt chiết la, đại tướng Mê xí la, đại tướng An để la, đại tướng Ngạch nễ la, đại tướng San để la, đại tướng Nhân đạt la, đại tướng Ba di la, đại tướng Ma hổ la, đại tướng Chân đạt la, đại tướng Chiêu đỗ la, đại tướng Tỳ yết la. Mười hai vị đại tướng Dạ xoa này, mỗi vị có bảy ngàn Dạ xoa làm tùy thuộc, cùng lúc cất tiếng bạch Phật, bạch đức Thế tôn, chúng con bây giờ nhờ uy lực của Ngài mà nghe được danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, không còn nỗi sợ hãi về ác đạo nữa. Chúng con đốc suất nhau, cùng nhau nhất tâm, suốt đời qui y Phật Pháp Tăng, thệ nguyện gánh vác hết thảy chúng sanh, tạo cho họ cái lợi chân thật, cái vui lợi ích. Tùy thôn làng, thị thành, thủ đô, và trong rừng thanh vắng, của bất cứ xứ nào, mà hoặc có kinh này lưu hành, hoặc có kẻ trì niệm danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang như lai, cung kính cúng dường Ngài, thì chúng con, và tùy thuộc của chúng con, hộ vệ người ấy, làm cho họ thoát mọi khổ nạn, mọi ước nguyện đều thỏa mãn.  Hoặc ai bị bịnh khổ mà cầu thoát qua, thì cũng   nên đọc tụng kinh này, dùng tơ sợi năm màu mà kết tên chúng con. Ðược toại nguyện rồi mới tháo kết ấy. 

    Lúc ấy đức Thế tôn tán dương các đại tướng Dạ xoa, rằng lành thay các tướng Ðại dạ xoa, lành thay, các người nghĩ báo ân đức của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, thì thường nên như vậy mà lợi ích an lạc hết thảy chúng sanh.

    Bấy giờ tôn giả A nan bạch Phật, bạch đức Thế tôn, nên mệnh danh như thế nào về pháp môn này, và chúng con nên phụng trì kinh này như thế nào ? Phật dạy tôn giả A nan, pháp môn này nên mệnh danh Nói về bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai, cũng nên mệnh danh Nói về sự kết nguyện thần chú để lợi ích chúng sanh của mười hai thần tướng, lại nên mệnh danh Bạt trừ hết thảy nghiệp chướng. Nên phụng trì như vậy. 

    Khi đức Thế tôn nói lời này rồi, các vị đại bồ tát cùng các vị đại thanh văn, quốc vương, đại thần, đạo sĩ, cư sĩ, thiên chúng, long chúng, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lầu la, khẩn na la, ma hầu la dà, loài người và loài không phải người, toàn thể đại chúng như vậy nghe những điều Phật dạy, ai cũng cực kỳ hoan hỷ, tín thọ phụng hành.

    Nam mô Dược sư hội thượng Phật Bồ tát  (3 lần)

    Hoàn kinh

    (Ðảnh lễ)
    Nhất tâm đảnh lễ bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nhất tâm đảnh lễ Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nhất tâm đảnh lễ kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nhất tâm đảnh lễ chư Phật Bồ tát trong pháp hội Dược sư.
    Nhất tâm đảnh lễ Nhật quang biến chiếu bồ tát.
    Nhất tâm đảnh lễ Nguyệt quang biến chiếu bồ tát.
    Nhất tâm đảnh lễ Văn thù sư lợi bồ tát.
    Nhất tâm đảnh lễ Quan thế âm bồ tát.
    Nhất tâm đảnh lễ Ðắc đại thế bồ tát.
    Nhất tâm đảnh lễ Vô tận ý bồ tát.
    Nhất tâm đảnh lễ Bảo đàn hoa bồ tát.
    Nhất tâm đảnh lễ Dược vương bồ tát.
    Nhất tâm đảnh lễ Dược thượng bồ tát.
    Nhất tâm đảnh lễ Di lạc bồ tát

    (cầu nguyện.- I. Cầu nguyện cho bản thân)
    Ðệ tử tên x x pháp danh x x, đem công đức thọ trì kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai, cầu nguyện bịnh chướng tiêu trừ, phước thọ tăng trưởng, đời này thiện căn không bị trở ngại, kiếp sau đích thân tiếp nhận sự thọ ký tối thượng của Phật. 

    (2. cầu nguyện cho người khác)
    Ðệ tử tên xx pháp danh xx, chí thành vì xx, pháp danh xx, thọ trì kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai, cầu nguyện xx nhờ công đức này mà bịnh chướng tiêu tan, phước thọ tăng thượng, chánh tín không bị phá hoại, thiện căn không bị trở ngại, đời này thân cận phụng sự Tam bảo, kiếp sau đích thân nhận được sự thọ ký của Phật.

    (Hồi hướng)
    Nguyện đem công đức này
    hướng về khắp tất cả,
    nguyện con và chúng sanh
    đều trọn thành Phật đạo.

    (Qui y Tam bảo)
    Tự qui y Phật,
    xin nguyện chúng sanh,
    thể theo đạo cả,
    phát lòng vô thượng.

    Tự qui y Pháp,
    xin nguyện chúng sanh,
    thấu rõ kinh tạng,
    trí tuệ như biển.

    Tự qui y Tăng,
    xin nguyện chúng sanh,
    thống lý đại chúng,
    hết thảy không ngại.

    Mục lục
    
    Tiểu dẫn. 5
    Lời đề khóa tụng kinh Dược Sư của Ngọc lâm quốc sư. 8
    Kinh Dược  sư. 11
    Sám  Dược  sư  cuốn trước. 68
    Sám  Dược  sư  cuốn  giữa. 94
    Sám  Dược  sư  cuốn  sau. 128
    Lược giải kinh dược sư (có mục lục riêng) 153
    Ghi chú. 222 

     Sám  Dược  sư – cuốn trước

    Khai kinh

    (Tán lễ Phật)
    Ðại từ đại bi
    thương xót chúng sanh,
    đại hỷ đại xả
    cứu vớt muôn loài,
    hào quang diệu tướng
    dùng tự trang nghiêm,
    chúng con chí thành
    qui y đảnh lễ.
    Nhất tâm đảnh lễ Phật bảo thường trú khắp cả mười phương.
    Nhất tâm đảnh lễ Pháp bảo thường trú khắp cả mười phương.
    Nhất tâm đảnh lễ Tăng bảo thường trú khắp cả mười phương.
    Nhất tâm đảnh lễ bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nhất tâm đảnh lễ Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nhất tâm đảnh lễ kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nhất tâm đảnh lễ chư Phật Bồ tát trong pháp hội Dược sư.

    (cúng hương)
    Hương thơm tâm tánh
    đủ cả năm phần,
    vừa được đốt lên
    bởi lửa bản thể,
    thì cả pháp giới
    đều được chan hòa,
    phàm cùng với thánh
    xông ướp tất cả,
    chính trong hương thơm 
    quyện lên như vậy,
    mà các đức Phật 
    hiển lộ toàn thân.
    Nam mô hương cúng dường bồ tát ma ha tát (3 lần)

    ( chân ngôn làm sạch ngoại cảnh)
    Án lam sa ha. (21 lần)

    (Chân ngôn làm sạch thân miệng ý)
    Án sa phạ bà phạ thuật đà,
    sa phạ đạt ma sa phạ, bà phạ thuật độ hám. (7 lần)

    (Phát nguyện)
    Kính lạy chư Thế tôn,
    qui y các Phật đà,
    nay con phát đại nguyện,
    lễ bái Dược sư sám,
    trên trả bốn ơn nặng,
    dưới giúp ba đường khổ,
    những người thấy nghe được,
    đều phát tâm bồ đề,
    báo thân này kết thúc,
    cùng sanh các tịnh độ.

    (Niệm hiệu  Phật)
    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật. (3 lần)
    Nam mô Dược sư hội thượng Phật Bồ tát. (3 lần)

    Mở đầu vận dụng phương pháp sám hối “đạo tràng Dược sư”, chúng con ngày nay nên đem tánh mạng mà qui y đảnh lễ chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai :

    Nam mô quá khứ Tỳ bà thi phật.
    Nam mô Thi khí phật.
    Nam mô Tỳ xá phù phật.
    Nam mô Cầu lưu tôn phật.
    Nam mô Câu na hàm mâu ni phật.
    Nam mô Ca diếp phật.
    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nam mô đương lai Di lạc tôn phật
    Nam mô Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Dược sư hải hội Phật Bồ tát.

    Phương pháp sám hối “Dược sư tiêu tai diên thọ”(5). cuốn trước

    Hết thảy chư Phật thương tưởng chúng sanh, nên đã dạy cho phương pháp sám hối “đạo tràng Dược sư”.  Là vì con người dơ bẩn quá nặng, bóng tối vô minh che khuất tâm trí, không hiểu nhân quả không siêng sám hối. Phóng túng tham lam sân hận ngu si, buông thả sát sanh trộm cắp dâm dục. Tội lỗi dơ bẩn đã tạo vô lượng vô biên, ác nghiệp oán cừu đã kết vô cùng vô tận, không hay không biết, ngày càng sâu dày. Ðến nỗi thúc ngắn đời sống lâu dài mà thành chết yểu chết oan, cách mất chức vị quan quyền mà thành thấp thỏi nghèo hèn, tước bỏ giàu sang sung túc mà thành nghèo khổ khốn cùng, chết non con trai con gái mà thành cô đơn lẻ chiếc. Mắc vào chín cái chết ngang trái, sa xuống ba con đường ác đạo. Khổ quả nhiều mối, tự tạo tác, tự lãnh chịu. ác báo nhiều cách, hoặc đời này, hoặc kiếp sau. Tơ tóc không sai, dầu mau dầu chậm chắn chắc phải trả.

    Nên xưa kia, đức Thích ca  đã từ bi cứu vớt, bằng cách nói bản kinh về Bản nguyện và công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai(6), dạy người đọc tụng hãy tạo hình tượng đức Như lai  bảy vị, trước mỗi vị đặt bảy ngọn đèn, cái lượng mỗi ngọn đèn lớn như bánh xe, đốt đến bốn mươi chín ngày, ánh sáng không tắt. Nhưng việc ấy chỉ vua quan(7), cư sĩ đại gia, nhiều tiền lắm của, kho bồ tràn đầy mới làm nổi, còn người kém sức, lòng dẫu ưng muốn mà không có khả năng làm cho trang nghiêm đúng cách. Vì lý do ấy mà căn cứ chính trong kinh Bản nguyện công đức nói trên, diễn ra phương pháp sám hối “Tiêu tai diên thọ”, tiện cho mọi người tắm gội trai giới, hoặc trong chùa chiền, hoặc nơi nhà cửa, hoặc mời các vị xuất gia, hoặc cùng những người thiện niệm, rưới quét sửa dọn, hương hoa đèn nến, tùy sức hiến cúng, y văn đọc tụng, chí thành lễ bái, như thế thì không có sự mong cầu nào không ứng nghiệm, không có sự ước nguyện nào không hoàn thành.

    Trong kinh dạy rằng, bộc bạch sám hối tội ác đã làm, là điều mà Tịnh danh đại sĩ ưa chuộng. Vì vậy mà sửa chứa quá khứ, tu tỉnh tương lai, tẩy giặt thân tâm, đoạn tuyệt ác pháp, thề không làm lại, tội lỗi nhiều kiếp sạch hết không còn, nên tùy nguyện cầu thỏa mãn tất cả. Ðệ tử chúng con chí tâm đảnh lễ khẩn cầu sám hối :

    Nam mô Tỳ lô giá na phật.
    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nam mô Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Vô lượng thọ phật.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì quá khứ.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì hiện tại.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì vị lai.
    Kính lạy kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Nhật quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Nguyệt quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Văn thù sư lợi bồ tát.
    Nam mô Quan thế âm bồ tát.
    Nam mô Ðắc đại thế bồ tát.
    Nam mô Vô tận ý bồ tát.
    Nam mô Bảo đàn hoa bồ tát.
    Nam mô Dược vương bồ tát.
    Nam mô Dược thượng bồ tát.
    Nam mô Di lạc bồ tát.
    Nam mô Tiêu tai chướng bồ tát.
    Nam mô Tăng phước thọ bồ tát.
    Kính lạy ba vạn sáu ngàn vị đại bồ tát dưới cây Tiếng nhạc.
    Kính lạy các vị đại thánh tăng là tôn giả A nan và tám ngàn vị tỷ kheo.
    Nam mô Cứu thoát bồ tát.

    Ðảnh lễ chư Phật rồi lại sám hối tiếp. Nghĩ lại thời kỳ Phật pháp tương tự xuất hiện, nếu mọi người vì muốn lợi ích an lạc, nhổ trừ tất cả nghiệp chướng, xây dựng công đức hơn lạ ; muốn tu tập một cách đầy đủ đại nguyện của chư Phật, và thọ trì một cách trọn vẹn danh hiệu và kho báu chánh pháp của chư Phật ; muốn được vô thượng chánh biến giác, bâm hai tướng tốt và tám mươi tướng phụ trang hoàng cơ thể ; muốn được vô lượng trí tuệ phương tiện để làm cho chúng sanh đứng yên trong pháp đại thừa ; muốn tu hành phạn hạnh, được giới thể không thiếu sót, trọn vẹn giới pháp ba loại, tuyệt đối thanh tịnh không có phá phạm ; muốn được các giác quan đều hoàn bị, không mọi tật nguyền và bịnh khổ, nhà cửa, thân thuộc và đồ dùng đều đủ và nhiều ; muốn phá rách mạng lưới của ma vương, cổi mở ràng buộc của ngoại đạo, phát nhổ rừng rậm của mọi thứ ác kiến(9) ; nếu có nữ nhân muốn chuyển nữ thành nam, đầy đủ hình tướng trượng phu ; muốn cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái, cầu sống lâu được sống lâu ; hoặc bị phép vua làm tội mà muốn giải thoát mọi sự lo sợ thống khổ ; muốn được đồ ăn đồ uống tuyệt diệu, pháp vị no đủ, mọi thứ y phục tuyệt diệu và tất cả đồ trang sức bằng vàng ngọc ; muốn thực hành bố thí, mọi thứ mình có toàn không ham tiếc, hiến cả cho người đến xin ; muốn được chánh kiến, tinh tiến và ý thích khéo thuần hóa, đa văn thông lợi, lý giải nghĩa lý cực kỳ sâu xa, thường cầu thắng pháp, thường gặp thiện hữu ; muốn thọ trì giới pháp, nguyện sanh thế giới hệ Cực lạc ở phía tây, chỗ A di đà phật, để được nghe chánh pháp của ngài ; nếu có giới pháp đã phá hủy mà muốn phục hồi thanh tịnh, sinh mạng đã hết mà muốn cứu muốn nối ; cho đến quốc độ  và dân chúng bị mọi sự ngang trái và mọi sự tai nạn mà muốn tiêu trừ cho ẩn mất để mưa gió thuận thời, dân chúng vui vẻ, thì hãy trang nghiêm đúng cách, qui y và đảnh lễ đức Dược sư lưu ly quang như lai, nhất tâm tinh tiến, tu tập chánh định. Tại sao, vì đức Như lai ấy, khi làm hạnh bồ tát, đã phát mười hai đại nguyện tối thượng và nhiệm mầu, tạo ra công đức thù thắng, nên làm cho những người nghe được thì nghiệp chướng tiêu trừ, hết thảy sở cầu đều được mãn nguyện. Ðiều này chỉ các vị bồ tát còn hệ thuộc một đời mới có khả năng tin và hiểu đúng như sự thực, tu hành đúng như Phật dạy. Nên phải đem thân thể, tính mạng(10) và tài sản ra, không lẫn không tiếc, tận lực trang nghiêm, thì quyết chắc được kết quả và toại nguyện. Vì nghĩ lại như vậy, nên ngày nay đệ tử cùng những người hiện diện, tất cả đều chí tâm qui mạng đảnh lễ :

    Nam mô Tỳ lô giá na phật.
    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nam mô Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Vô lượng thọ phật.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì quá khứ.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì hiện tại.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì vị lai.
    Kính lạy kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Nhật quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Nguyệt quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Văn thù sư lợi bồ tát.
    Nam mô Quan thế âm bồ tát.
    Nam mô Ðắc đại thế bồ tát.
    Nam mô Vô tận ý bồ tát.
    Nam mô Bảo đàn hoa bồ tát.
    Nam mô Dược vương bồ tát.
    Nam mô Dược thượng bồ tát.
    Nam mô Di lạc bồ tát.
    Nam mô Tiêu tai chướng bồ tát.
    Nam mô Tăng phước thọ bồ tát.
    Kính lạy ba vạn sáu ngàn vị đại bồ tát dưới cây Tiếng nhạc.
    Kính lạy các vị đại thánh tăng là tôn giả A nan và tám ngàn vị tỷ kheo.
    Nam mô Cứu thoát bồ tát.

    Ðảnh lễ chư Phật rồi lại sám hối tiếp. Nguyện xin chư Phật Bồ tát đồng vận từ bi, giáng lâm đạo tràng ; toàn thể tám bộ thiên long, các tướng Dạ xoa, cùng sinh thương tưởng, đi đến đạo tràng. Các thánh chúng như vậy, xin cùng chứng minh. Chúng con ngày nay, muốn vì chúng sanh khắp cả mười phương và toàn thể lục đạo, mà tu hành tuệ giác vô thượng, đoạn trừ hết thảy nghiệp chướng, cùng vào biển cả đại nguyện của đức Như lai, để hiện sắc thân khắp nơi, nơi trong một niệm mà cúng dường hết thảy Tam bảo khắp cả mười phương, nơi trong một niệm mà hóa độ cùng khắp tất cả chúng sanh trong lục đạo, làm cho họ nhập vào tuệ giác vĩ đại và bình đẳng. Vì muốn như vậy nên ngày nay nhất tâm tinh tiến, tu hành đúng như Phật dạy. Nguyện xin chư Phật, Bồ tát, đức Dược sư như lai, đem năng lực bản nguyện mà nhận cho sự sám hối của con, làm cho việc con làm quyết định phá trừ nghiệp chướng, viên thành hạnh nguyện. Như kinh đã dạy, nguyện xin chứng minh, “Nam mô Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng, chánh biến tri, minh hạnh viên mãn, quang minh quảng đại. Công đức đồ sộ thân khéo an trú. Lưới sáng tráng lệ quá hơn nhật nguyệt. Chúng sanh tối tăm được soi sáng cả… Tùy mong cầu gì cũng đều toại nguyện… Bao nhiêu bịnh khổ đều tiêu tan cả… Vô lượng bồ tát hạnh, vô lượng thiện phương tiện, và vô lượng quảng đại nguyện, của đức phật Dược sư, trong một đại kiếp hay hơn một đại kiếp, ta, Thích ca như lai, nói một cách đầy đủ thì đại kiếp ấy có thể kết thúc mau chóng, còn hạnh nguyện và phương tiện của đức Phật này vẫn không cùng tận”. Vì thế mà chúng con chí tâm qui mạng đảnh lễ :

    Nam mô, Bạc già phạt đế, bệ sát xã lũ rô – bệ lưu ly bát lạt bà – hát ra xà dã, đát tha yết đa dã, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha : Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ – bệ sát xã – tam một yết đế, sa ha. (3 lần)

    Nam mô Dược sư hội thượng Phật Bồ tát. ( 3 lần)

    Hoàn kinh

    (Tán Phật)
    Kính lạy đức Dược sư,
    chánh giác rất vi diệu,
    ở cõi Tịnh lưu ly,
    thuộc phía đông cõi này ;
    Ngài thật khó nghĩ bàn,
    đủ ba vô số kiếp,
    và không ai sánh bằng,
    với mười hiệu tôn xưng.
    Trong nhân đã phát ra
    mười hai môn đại nguyện
    trong quả đã viên mãn
    trăm ngàn loại tướng hảo ;
    biển từ bi rộng lớn
    khó ai lường cho nổi,
    núi công đức cao cả
    không thể khen cho cùng.
    Nam mô đông phương Tịnh lưu ly giới, Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng, chánh  biến tri, minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, phật : thế  tôn(11).

    (Niệm Phật)
    Nam mô Dược sư lưu ly quang phật. (30 đến 108 tiếng)
    (từ đây sắp xuống, mỗi danh hiệu 3 tiếng)
    Nam mô Nhật quang biến chiếu bồ tát. 
    Nam mô Nguyệt quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Văn thù sư lợi bồ tát.
    Nam mô Quan thế âm bồ tát.
    Nam mô Ðắc đại thế bồ tát.
    Nam mô Vô tận ý bồ tát.
    Nam mô Bảo đàn hoa bồ tát.
    Nam mô Dược vương bồ tát.
    Nam mô Dược thượng bồ tát.
    Nam mô Di lạc bồ tát.

    ( cầu nguyện 1. Cầu nguyện cho bản thân )
    Ðệ tử tên xx pháp danh xx, đem công đức bái sám theo phương pháp sám hối “đạo tràng Dược sư”, cầu nguyện bịnh chướng tiêu trừ, phước thọ tăng trưởng, đời này thiện căn không bị trở ngại, kiếp sau đích thân tiếp nhận sự thọ ký tối thượng của Phật.

    (2. cầu nguyện cho người khác)
    Ðệ tử tên xx pháp danh xx, chí thành vì xx, pháp danh xx, bái sám theo phương pháp sám hối “đạo tràng Dược sư”, cầu nguyện xx nhờ công đức này mà bịnh chướng tiêu tan, phước thọ tăng thượng, chánh  tín không bị phá hoại, thiện căn không bị trở ngại, đời này thân cận phụng sự tam bảo, kiếp sau đích thân nhận được sự thọ ký của Phật.

    (Hồi hướng)
    Nguyện đem công đức này
    hướng về khắp tất cả,
    nguyện con và chúng sanh
    đều trọn thành Phật đạo.

    (Qui y Tam bảo)
    Tự qui y Phật,
    xin nguyện chúng sanh,
    thể theo đạo cả,
    phát lòng vô thượng.

    Tự qui y Pháp,
    xin nguyện chúng sanh,
    thấu rõ kinh tạng,
    trí tuệ như biển.

    Tự qui y Tăng,
    xin nguyện chúng sanh,
    thống lý đại chúng,
    hết thảy không ngại.

    Mục lục
    
    Tiểu dẫn. 5
    Lời đề khóa tụng kinh Dược Sư của Ngọc lâm quốc sư. 8
    Kinh Dược  sư. 11
    Sám  Dược  sư  cuốn trước. 68
    Sám  Dược  sư  cuốn  giữa. 94
    Sám  Dược  sư  cuốn  sau. 128
    Lược giải kinh dược sư (có mục lục riêng) 153
    Ghi chú. 222 

    Sám  Dược  sư – cuốn  giữa

    Khai kinh

    (Tán lễ Phật)
    Ðại từ đại bi
    thương xót chúng sanh,
    đại hỷ đại xả
    cứu vớt muôn loài,
    hào quang diệu tướng
    dùng tự trang nghiêm,
    chúng con chí thành
    qui y đảnh lễ.
    Nhất tâm đảnh lễ Phật bảo thường trú khắp cả mười phương.
    Nhất tâm đảnh lễ Pháp bảo thường trú khắp cả mười phương.
    Nhất tâm đảnh lễ Tăng bảo thường trú khắp cả mười phương.
    Nhất tâm đảnh lễ bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nhất tâm đảnh lễ Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nhất tâm đảnh lễ kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nhất tâm đảnh lễ chư Phật Bồ tát trong pháp hội Dược sư.

    (cúng hương)
    Hương thơm tâm tánh
    đủ cả năm phần,
    vừa được đốt lên
    bởi lửa bản thể,
    thì cả pháp giới
    đều được chan hòa,
    phàm cùng với thánh
    xông ướp tất cả,
    chính trong hương thơm 
    quyện lên như vậy,
    mà các đức Phật 
    hiển lộ toàn thân.
    Nam mô hương cúng dường bồ tát ma ha tát (3 lần)

    ( chân ngôn làm sạch ngoại cảnh)
    Án lam sa ha. (21 lần)

    (Chân ngôn làm sạch thân miệng ý)
    Án sa phạ bà phạ thuật đà,
    sa phạ đạt ma sa phạ, bà phạ thuật độ hám. (7 lần)

    (Phát nguyện)
    Kính lạy chư Thế tôn,
    qui y các Phật đà,
    nay con phát đại nguyện,
    lễ bái Dược sư sám,
    trên trả bốn ơn nặng,
    dưới giúp ba đường khổ,
    những người thấy nghe được,
    đều phát tâm bồ đề,
    báo thân này kết thúc,
    cùng sanh các tịnh độ.

    (Niệm hiệu  Phật)
    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật. (3 lần)
    Nam mô Dược sư hội thượng Phật Bồ tát. (3 lần)

    Phương pháp sám hối Dược sư tiêu tai diên thọ, cuốn giữa.

    Hết thảy chư Phật thương tưởng chúng sanh, dạy cho phương pháp sám hối “đạo tràng Dược sư”, nên ngày nay chúng con đem tánh mạng mà qui y đảnh lễ hết thảy chư Phật :

    Nam mô Tỳ lô giá na phật.
    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nam mô Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Vô lượng thọ phật.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì quá khứ.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì hiện tại.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì vị lai.
    Kính lạy kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Nhật quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Nguyệt quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Văn thù sư lợi bồ tát.
    Nam mô Quan thế âm bồ tát.
    Nam mô Ðắc đại thế bồ tát.
    Nam mô Vô tận ý bồ tát.
    Nam mô Bảo đàn hoa bồ tát.
    Nam mô Dược vương bồ tát.
    Nam mô Dược thượng bồ tát.
    Nam mô Di lạc bồ tát.
    Nam mô Tiêu tai chướng bồ tát.
    Nam mô Tăng phước thọ bồ tát.
    Kính lạy ba vạn sáu ngàn vị đại bồ tát dưới cây Tiếng nhạc.
    Kính lạy các vị đại thánh tăng là tôn giả A nan và tám ngàn vị tỷ kheo.
    Nam mô Cứu thoát bồ tát.

    Ðảnh lễ chư Phật rồi lại sám hối tiếp. Ðệ tử chúng con khắp vì bốn ơn(12) ba cõi(13) và pháp giới chúng sanh, nguyện đoạn trừ cả ba thứ chướng ngại(14), nên qui tánh mạng về nơi Phật, đảnh lễ mà sám hối. Con với chúng sanh, vô thỉ đến giờ, do ái và kiến(15) mà trong chấp nhân ngã, ngoài vì bạn xấu, nên không tùy hỷ ai cả, dầu là một điều thiện bằng tơ tóc, chỉ biết khắp  cả thân miệng ý cùng làm đủ các ác nghiệp. Việc tuy không rộng mà ác ý bủa khắp. Ngày đêm liên tục, không có gián đoạn. Che giấu lỗi lầm, không muốn ai hay. Không sợ ác đạo, không hổ không thẹn. Bài bác, cho rằng không có nhân quả. Tội chướng như vậy mà chưa hề trải qua sự sám hối nào cả. Chúng con ngày nay dối trước chư Phật khắp cả mười phương, trước đức Dược sư như lai, tin tưởng sâu xa nguyên lý nhân quả, phát sanh hổ thẹn hệ trọng và phát sanh sợ hãi to lớn mà bộc bạch sám hối. Ðoạn tâm liên tục mà phát tâm bồ đề. Ðoạn ác tu thiện, siêng năng thúc dục cả thân miệng ý. Ðổi bỏ tánh xấu nặng nề ngày xưa mà tùy hỷ đối với người phàm cũng như bậc thánh, dầu chỉ một điều thiện bằng tơ tóc mà thôi. Nghĩ nhớ đức phật Dược sư có cái sức của thệ nguyện to lớn, có thể cứu vớt con, đem con ra khỏi biển hai chết(16) mà đặt lên trên bờ ba đức(17), nên nguyện xin Ngài từ bi, thương xót nhiếp thọ. Tất cả đều chí tâm qui mạng đảnh lễ :

    Nam mô Tỳ lô giá na phật.
    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nam mô Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Vô lượng thọ phật.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì quá khứ.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì hiện tại.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì vị lai.
    Kính lạy kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Nhật quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Nguyệt quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Văn thù sư lợi bồ tát.
    Nam mô Quan thế âm bồ tát.
    Nam mô Ðắc đại thế bồ tát.
    Nam mô Vô tận ý bồ tát.
    Nam mô Bảo đàn hoa bồ tát.
    Nam mô Dược vương bồ tát.
    Nam mô Dược thượng bồ tát.
    Nam mô Di lạc bồ tát.
    Nam mô Tiêu tai chướng bồ tát.
    Nam mô Tăng phước thọ bồ tát.
    Kính lạy ba vạn sáu ngàn vị đại bồ tát dưới cây Tiếng nhạc.
    Kính lạy các vị đại thánh tăng là tôn giả A nan và tám ngàn vị tỷ kheo.
    Nam mô Cứu thoát bồ tát.

    Ðảnh lễ chư Phật rồi lại sám hối tiếp. Ðệ tử chúng con từ vô thỉ đến ngày nay, có cái bịnh tham lam sân hận và tật đố, cái bịnh kiêu mạn ngạo ngược, cái bịnh không biết thiện ác, cái bịnh không tin tội phước, cái bịnh bất hiếu ngũ nghịch(18), cái bịnh phá phạm trai giới, cái bịnh phá phạm thi la(19), cái bịnh khen mình chê người, cái bịnh ham được không chán, cái bịnh say mê tiếng hay và chạy theo sắc đẹp, cái bịnh ham hố hơi thơm và ưa thích đụng chạm, cái bịnh tin theo sự thấy cong và ngược(20) cái bịnh đam mê tửu sắc mà phóng túng vô độ, cái bịnh dầu gặp thầy mà lại cho thuốc không đúng, cái bịnh vô lượng tai nạn, khổ nhục, và bi thảm sầu muộn khác nữa, ngâm nấu bức bách, làm cho cả cơ thể lẫn tâm trí đều chịu  thống khổ. Muốn làm cho những bịnh khổ ấy tiêu trừ, sở cầu mãn nguyện, nên bấy giờ đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai nhập định danh hiệu Diệt trừ mọi khổ não của chúng sanh. Nhập định ấy rồi, từ trong nhục kế phóng ra ánh sáng lớn. Trong ánh sáng này diễn ra đà la ni vĩ dại sau đây : Nam mô, Bạc già phạt đế, bệ sát xã lũ rô – bệ lưu ly bát lạt bà – hát ra xà dã, đát tha yết đa dã, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha : Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ – bệ sát xã – tam một yết đế, sa ha. Khi trong ánh sáng diễn ra đà la ni vĩ  đại ấy rồi, đại địa chấn động, phóng ánh sáng lớn, hết thảy chúng sanh bịnh khổ tiêu trừ, hưởng dược cái vui yên ổn.

    Do đó mà biết công năng sám hối là tễ thuốc linh nghiệm làm lành bịnh thân tâm, là toa thuốc thần kỳ làm thoát khổ sinh tử. Có vị đại y vương theo bịnh đặt thuốc : từ bi hỷ xả là thuốc, nhẫn nhục nhu hòa là thuốc, chánh tín Tam bảo là thuốc, siêng tu phước tuệ là thuốc, sáu ba la mật là thuốc, ăn no cam lộ là thuốc, ham cầu pháp vị là thuốc, tu chân dưỡng khí là thuốc, phản bản hoàn nguyên là thuốc, có lỗi đổi được là thuốc, phương tiện khôn khéo là thuốc, không động vì tiếng hay sắc đẹp là thuốc, lắng lòng tuyệt dục là thuốc. Thường dùng những thứ thuốc như vậy giã ra, giần đi, rồi hợp lại mà thường thường đem uống.

    Nhưng, chúng sanh nếu bịnh lẽ ra cùng một bịnh, chúng sanh cần thuốc lẽ ra cùng một thuốc. Nếu nói có nhiều pháp thì thế là điên đảo. Nếu căn cứ thật tướng của nhất thừa(21) mà nói, thì đâu có thêm có bớt, có dơ có sạch, có lành có dư, có tội có phước, có bịnh có thuốc. Nhìn lại phương tiện trước đã áp dụng, thật như người trong chiêm bao : chiêm bao thấy thân bị bịnh nên tìm thầy uống thuốc mà được hết được lành ; đến lúc tỉnh giấc chiêm bao thì rõ ra vốn là không bịnh, sự không bịnh cũng không, huống chi thầy với thuốc. Nên bịnh của chúng sanh toàn là bịnh huyễn, thuốc của chư Phật toàn là thuốc huyễn. Do đó mà biết, pháp mà Như lai thuyết ra toàn là một tướng một vị, tướng vị giải thoát, tách rời, diệt sạch, cứu cánh niết bàn, chung qui về Không(22). Ví như từ một đám mây mà mưa xuống, thì cây thuốc lớn nhỏ gì cũng được tốt tươi, chúng con ngày nay nhờ ơn Phật mà được nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, không còn có nữa cái nạn bịnh khổ, mới có khả năng đạt đến một cách trọn vẹn tuệ giác vô thượng bồ đề. Vì vậy, ngày nay chúng con đốc suất nhau, cùng nhau nhất tâm, suốt đời qui y Phật Pháp Tăng. Và bây giờ qui y đảnh lễ hết thảy chư Phật :

    Nam mô Tỳ lô giá na phật.
    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nam mô Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Vô lượng thọ phật.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì quá khứ.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì hiện tại.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì vị lai.
    Kính lạy kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Nhật quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Nguyệt quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Văn thù sư lợi bồ tát.
    Nam mô Quan thế âm bồ tát.
    Nam mô Ðắc đại thế bồ tát.
    Nam mô Vô tận ý bồ tát.
    Nam mô Bảo đàn hoa bồ tát.
    Nam mô Dược vương bồ tát.
    Nam mô Dược thượng bồ tát.
    Nam mô Di lạc bồ tát.
    Nam mô Tiêu tai chướng bồ tát.
    Nam mô Tăng phước thọ bồ tát.
    Kính lạy ba vạn sáu ngàn vị đại bồ tát dưới cây Tiếng nhạc.
    Kính lạy các vị đại thánh tăng là tôn giả A nan và tám ngàn vị tỷ kheo.
    Nam mô Cứu thoát bồ tát.

    Ðảnh lễ chư Phật rồi lại sám hối tiếp. Nếu người nào muốn thoát bịnh khổ, nên vì họ mà bảy ngày đêm thọ trì Bát quan trai giới. Nên đem đồ ăn, đồ uống và đồ dùng, tùy sức liệu biện mà cúng dường Tỷ kheo tăng. Ngày đêm sáu buổi lễ bái hành dạo, cúng dường đức thế tôn Dược sư lưu  ly quang như lai. Ðọc tụng bản kinh tôn quí(23) bốn mươi chín biến. Ðốt bốn mươi chín ngọn đèn. Ðến bốn mươi chín ngày đêm, ánh sáng không đứt. Như vậy thì có thể qua được tai nạn nguy khốn, không bị mọi thứ ngang trái và quỉ dữ tác hại. Vì vậy, ngày nay đệ tử cùng với những người hiện diện, tất cả đều cùng cực tinh tiến(24), đốt hương rãi hoa, thắp đèn treo phan(25), phóng sanh tu phước, để được qua khỏi khốn khổ, không gặp mọi sự hoạn nạn. Nguyện xin đức Như lai chứng minh cho sự sám hối của con.

    Ðệ tử chúng con từ vô thỉ đến ngày nay, làm gì cũng không vừa ý. Nên biết tất cả đều vì quả báo sót lại của ác nghiệp từ quá khứ đến nay, mà gây ra. Vì vậy, ngày nay cần phải nỗ lực mà cầu xin sám hối. Sám hối quả báo ác mộng, những cảnh tượng khủng khiếp, những sự không cát tường của trong loài người. Sám hối quả báo bịnh dữ liền năm, lắm tháng không lành, gối giường nằm chiếu, không thể đứng đi của trong loài người. Sám hối quả báo đông ôn hạ dịch(26), sốt ác tính và thương hàn của trong loài người. Sám hối quả báo thủy tai hỏa hoạn, trộm cướp giặc giả, chiến tranh nguy khốn của trong loài người. Sám hối quả  báo bị sư tử, cọp, sói, rắn độc, bò cạp, rít và sâu làm hại của trong loài người. Sám hối quả báo sanh lão bịnh tử, lo buồn khổ não của trong loài người. Sám hối quả báo thân miệng và ý toàn là công cụ tạo tác và tăng trưởng đủ thứ ác nghiệp của cả chúng sanh. Sám hối quả báo sẽ sa vào ba ác đạo, nhiều lần ngàn năm chịu mọi sự khổ sở khốc liệt của cả chúng sanh. Sám hối quả báo hay bị trôi lăn vô cùng trong địa ngục, súc sanh và loài quỉ(27) của cả chúng sanh. Sám hối quả báo lại sanh nữa trong các ác đạo của cả chúng sanh. Sám hối quả báo làm tôi tớ người, bị người sai sử của cả chúng sanh. Sám hối quả báo hoặc làm trâu bò, lừa ngựa, lạc đà, thường bị đánh dập, lại còn quả báo luôn luôn mang nặng chở nhiều, đi theo đường phải đi mà bị đói khát hành hạ, của cả chúng sanh. Sám hối quả báo bị bùa ếm, thuốc độc và quỉ khởi thi(28) ngụy tạo yêu dị của trong loài người. Cùng loại như vậy, trong hiện tại cũng như vị lai, loài người cũng như chư thiên, quả báo có vô lượng tai họa, ngang trái, biến cố, thời khí, chết chóc, hoạn nạn, suy tồn và quấy phá. Chúng con ngày nay chí thành hướng về đức phật Dược sư, về thánh chúng qui tụ như biển cả, mà cầu xin sám hối, nguyện tiêu diệt cả.

    Trước đã cứu xét cái lẽ cứu cánh là bịnh này thuốc này đồng là huyễn ảo, lại cứu xét mà sám hối trọn vẹn hết thảy báo chướng do ác nghiệp gây ra. Nay nên tuần tự phát nguyện hồi hướng. Ðệ tử chúng con nguyện đem công đức được phát sanh bởi sự sám hối ba thứ chướng ngại mà hồi hướng cả, hiến cho hết thảy chúng sanh để cùng sám hối. Nguyện cùng chúng sanh, từ nay sắp đi, cho đến ngày thực hiện tuệ giác vô thượng, nhớ khổ sanh tử mà phát bồ đề tâm. Ðổi ác làm lành, bỏ tà về chánh. Thân tâm an lạc, sống lâu vô cùng, áo cơm sung túc, nhà cửa, thân thuộc, đồ dùng và kho nẫm tràn đầy. Hình tướng đoan chánh, trí tuệ thông minh, uy nghiêm dũng liệt. Các tướng Dạ xoa hộ vệ, chư Phật thánh chúng nhiếp thọ. Làm gì cũng được ân trạch của đức Từ bi.

    Ðệ tử chúng con lại nguyện từ nay sắp đi, mau chứng tuệ giác bồ dề, tướng tốt tướng phụ và ánh sáng đều tráng lệ, lạ và hơn cả. Nguyện chúng sanh được ánh sáng soi sáng, tùy ý hướng mà làm mọi sự nghiệp. Nguyện chúng sanh cùng được vô tận những vật hưởng dụng, không có sự thiếu thốn. Nguyện chúng sanh xây dựng đại thừa, cùng được ở yên trong dạo giác ngộ(29). Nguyện chúng sanh dược giới thể không thiếu sót, giả sử phá phạm thì phục hồi thanh tịnh. Nguyện chúng sanh đẹp đẽ, thông minh, giác quan hoàn bị, hết mọi bịnh khổ. Nguyện chúng sanh bịnh khổ tan biến, nhà cửa, thân thuộc và đồ dùng, đầy đủ tất cả. Nguyện chúng sanh chuyển thân nữ nhân thành thân nam tử, đủ tướng trượng phu, cho đến thực hiện tuệ giác vô thượng. Nguyện chúng sanh thoát khỏi mạng lưới của ma vương, cổi mở thắt buộc của ngoại đạo. Nguyện chúng sanh, phép vua làm tội, bi thảm sầu muộn ngâm nấu bức bách, đều thoát được cả. Nguyện chúng sanh ăn uống no đủ, sau đó lại được xây dựng bằng cái vui cứu cánh của pháp vị. Nguyện chúng sanh, như sở thích của họ, mọi thứ y phục tùy ý mong muốn đầy đủ tất cả(30).

    Lại nguyện tất cả chúng sanh, sống lâu, giàu có, quan chức, con trai con gái, cầu gì cũng toại nguyện cả. Nguyện tất cả quốc  độ, trăm sự quái dị, chín cái chết ngang trái, tám thứ chướng nạn, ba thứ tai họa(31), nước khác xâm lăng quấy nhiễu, đạo tặc làm phản làm loạn, hết thảy nạn dữ như vậy tiêu mất tất cả ; quốc độ yên ổn, gió mưa điều hòa, lúa má thành thục, mọi người vô bịnh, vui vẻ, hạnh nguyện bồ đề sáng chói hơn lên trong từng ý nghĩ, cứu giúp người khác đau khổ thì luôn luôn tưởng như cứu vớt bản thân.

    Lại nguyện đời đời kiếp kiếp, sanh ra ở đâu cũng không rơi nhằm những chỗ biên thùy, mọi rợ, mà lại sinh vào gia đình chánh tín ; tướng mạo đoan nghiêm, trí tuệ biện tài ; viễn ly ác pháp, thân cận thiện hữu ; kiên trì giới hạnh, kiến lập đại thừa. Lại nguyện đời đời kiếp kiếp,  sanh ra ở đâu cũng chấn hưng pháp Phật, phá hủy lưới ma ; phấn chí mà tu hành đầy đủ sáu ba la mật ; quảng tu cúng dường để trang nghiêm hai thứ phước tuệ, nhẫn nhục tinh tiến để thực hiện tuệ giác bồ đề.

    Chúng con ngày nay nên nghĩ báo ân đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai, bằng cách h an lạc hết thảy chúng sanh. Vì thế mà chúng con chí tâm qui y đảnh lễ :

    Nam mô, Bạc già phạt đế, bệ sát xã lũ rô – bệ lưu ly bát lạt bà – hát ra xà dã, đát tha yết đa dã, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da, đát diệt tha : Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ – bệ sát xã – tam một yết đế, sa ha. (3 lần)

    Nam mô Dược sư hội thượng Phật Bồ tát. (3 lần)

     Hoàn kinh

    (Tán Phật)
    Kính lạy đức Dược sư,
    chánh giác rất vi diệu,
    ở cõi Tịnh lưu ly,
    thuộc phía đông cõi này ;
    Ngài thật khó nghĩ bàn,
    đủ ba vô số kiếp,
    và không ai sánh bằng,
    với mười hiệu tôn xưng.
    Trong nhân đã phát ra
    mười hai môn đại nguyện
    trong quả đã viên mãn
    trăm ngàn loại tướng hảo ;
    biển từ bi rộng lớn
    khó ai lường cho nổi,
    núi công đức cao cả
    không thể khen cho cùng.
    Nam mô đông phương Tịnh lưu ly giới, Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng, chánh biến tri, minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, phật : thế tôn.

    (Niệm Phật)
    Nam mô Dược sư lưu ly quang phật. (30 đến 108 tiếng)
    (từ đây sắp xuống, mỗi danh hiệu 3 tiếng)
    Nam mô Nhật quang biến chiếu bồ tát. 
    Nam mô Nguyệt quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Văn thù sư lợi bồ tát.
    Nam mô Quan thế âm bồ tát.
    Nam mô Ðắc đại thế bồ tát.
    Nam mô Vô tận ý bồ tát.
    Nam mô Bảo đàn hoa bồ tát.
    Nam mô Dược vương bồ tát.
    Nam mô Dược thượng bồ tát.
    Nam mô Di lạc bồ tát.

    ( cầu nguyện 1. Cầu nguyện cho bản thân )
    Ðệ tử tên xx pháp danh xx, đem công đức bái sám theo phương pháp sám hối “đạo tràng Dược sư”, cầu nguyện bịnh chướng tiêu trừ, phước thọ tăng trưởng, đời này thiện căn không bị trở ngại, kiếp sau đích thân tiếp nhận sự thọ ký tối thượng của Phật.

    (2. cầu nguyện cho người khác)
    Ðệ tử tên xx pháp danh xx, chí thành vì xx, pháp danh xx, bái sám theo phương pháp sám hối “đạo tràng Dược sư”, cầu nguyện xx nhờ công đức này mà bịnh chướng tiêu tan, phước thọ tăng thượng, chánh  tín không bị phá hoại, thiện căn không bị trở ngại, đời này thân cận phụng sự tam bảo, kiếp sau đích thân nhận được sự thọ ký của Phật.

    (Hồi hướng)
    Nguyện đem công đức này
    hướng về khắp tất cả,
    nguyện con và chúng sanh
    đều trọn thành Phật đạo.

    (Qui y Tam bảo)
    Tự qui y Phật,
    xin nguyện chúng sanh,
    thể theo đạo cả,
    phát lòng vô thượng.

    Tự qui y Pháp,
    xin nguyện chúng sanh,
    thấu rõ kinh tạng,
    trí tuệ như biển.

    Tự qui y Tăng,
    xin nguyện chúng sanh,
    thống lý đại chúng,
    hết thảy không ngại.

    Mục lục
    
    Tiểu dẫn. 5
    Lời đề khóa tụng kinh Dược Sư của Ngọc lâm quốc sư. 8
    Kinh Dược  sư. 11
    Sám  Dược  sư  cuốn trước. 68
    Sám  Dược  sư  cuốn  giữa. 94
    Sám  Dược  sư  cuốn  sau. 128
    Lược giải kinh dược sư (có mục lục riêng) 153
    Ghi chú. 222 

     Sám  Dược  sư – cuốn  sau

    Khai kinh

    (Tán lễ Phật)
    Ðại từ đại bi
    thương xót chúng sanh,
    đại hỷ đại xả
    cứu vớt muôn loài,
    hào quang diệu tướng
    dùng tự trang nghiêm,
    chúng con chí thành
    qui y đảnh lễ.
    Nhất tâm đảnh lễ Phật bảo thường trú khắp cả mười phương.
    Nhất tâm đảnh lễ Pháp bảo thường trú khắp cả mười phương.
    Nhất tâm đảnh lễ Tăng bảo thường trú khắp cả mười phương.
    Nhất tâm đảnh lễ bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nhất tâm đảnh lễ Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nhất tâm đảnh lễ kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nhất tâm đảnh lễ chư Phật Bồ tát trong pháp hội Dược sư.

    (cúng hương)
    Hương thơm tâm tánh
    đủ cả năm phần,
    vừa được đốt lên
    bởi lửa bản thể,
    thì cả pháp giới
    đều được chan hòa,
    phàm cùng với thánh
    xông ướp tất cả ;
    chính trong hương thơm
    quyện lên như vậy,
    mà các đức Phật
    hiển lộ toàn thân.
    Nam mô hương cúng dường bồ tát ma ha tát (3 lần).

    (Chân ngôn làm sạch ngoại cảnh)
    Án lam sa ha (21 lần)

    (Chân ngôn làm sạch thân miệng ý)
    Án sa phạ bà phạ thuật đà, sa phạ đạt ma sa phạ, bà phạ thuật độ hám (7 lần).

    (Phát nguyện)
    Kính lạy chư Thế tôn,
    qui y các Phật đà,
    nay con phát đại nguyện,
    lễ bái Dược sư sám,
    trên trả bốn ơn nặng,
    dưới giúp ba đường khổ,
    những người thấy nghe được,
    đều phát tâm bồ đề,
    báo thân này kết thúc,
    cùng sanh các tịnh độ.

    (Niệm hiệu  Phật)
    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật. (3 lần)
    Nam mô Dược sư hội thượng Phật Bồ tát. (3 lần)

     Phương pháp sám hối Dược sư tiêu tai Diên thọ”, cuốn sau

    Chư Phật trong ba thì gian thương tưởng chúng sanh, dạy cho phương pháp sám hối đạo tràng Dược sư”, nên ngày nay chúng con đem tánh mạng mà qui y đảnh lễ hết thảy chư Phật :

    Nam mô Tỳ lô giá na phật.
    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nam mô Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Vô lượng thọ phật.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì quá khứ.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì hiện tại.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì vị lai.
    Kính lạy kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Nhật quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Nguyệt quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Văn thù sư lợi bồ tát.
    Nam mô Quan thế âm bồ tát.
    Nam mô Ðắc đại thế bồ tát.
    Nam mô Vô tận ý bồ tát.
    Nam mô Bảo đàn hoa bồ tát.
    Nam mô Dược vương bồ tát.
    Nam mô Dược thượng bồ tát.
    Nam mô Di lạc bồ tát.
    Nam mô Tiêu tai chướng bồ tát.
    Nam mô Tăng phước thọ bồ tát.
    Kính lạy ba vạn sáu ngàn vị đại bồ tát dưới cây Tiếng nhạc.
    Kính lạy các vị đại thánh tăng là tôn giả A nan và tám ngàn vị tỷ kheo.
    Nam mô Cứu thoát bồ tát.

    Ðảnh lễ chư Phật rồi lại sám hối tiếp. Ðệ tử chúng con, từ trên đến đây, đã sám hối rồi, bây giờ nên phát sanh tâm không dơ bẩn, tâm không giận dữ tác hại, nghĩa là đối với hết thảy chúng sanh khởi lên cái tâm lợi ích an lạc, từ bi hỷ xả và bình đẳng. Chính trong tâm nguyện như vậy mà nhiếp niệm chánh quán. Bằng cách không tuyệt kiết sử mà cũng không giữ kiết sử(32), quán các pháp không, như thật tướng.

    Quán các pháp không là thế nào ? Hành giả xét kỹ, hiện tại một tâm niệm đây, chỉ là vọng tâm tùy duyên hiện khởi. Tâm như vậy, là do tâm mà thành tâm ? là không do tâm mà thành tâm ? là cũng do tâm, cũng không do tâm mà thành tâm ? là không phải do tâm, không phải không do tâm mà thành tâm ? là ở quá khứ, ở hiện tại hay ở vị lai ? là ở trong, ở ngoài hay ở trung gian ? có dấu vết gì ? ở phương chỗ nào ? Trong mọi sự tương quan như vậy mà tìm tâm, vẫn thấy cứu cánh không thể tìm được, như huyễn như mộng, không danh không tướng. Bấy giờ hành giả còn không thấy tâm là sinh tử, đâu có thấy tâm là niết bàn. Và không tìm được cái bị xét thì cũng không tìm được cái hay xét, không lấy không bỏ, không dựa không bám, cũng không trú ở nơi sự yên lặng, con đường ngôn ngữ đã tuyệt(33), hết thể trình bày nói phô. Xét tâm không thật là tâm thì tội phước không có chủ thể. Tội phước tánh không thì hết thảy các pháp toàn là không. Tâm không phải tâm, pháp chẳng ở  pháp. Sám hối như vậy gọi là sự sám hối to lớn, là sự sám hối phá hủy tâm thức. Vì lý do này, tâm này cũng như tâm khác thực sự lặng mất, niệm trước cùng với niệm sau toàn không trú ở. Như hư không mà hư không cũng không thể tìm được, sự không thể tìm được cũng không thể tìm được, tự nhiên siêu việt trên các tam muội, ánh sáng chiếu sáng, vạn pháp hiển hiện, thấu suốt tất cả, không còn chướng ngại, quảng đại như pháp tánh, cứu cánh như hư không. Nguyện xin được như sở nguyện, mãn bồ đề nguyện. Ðệ tử chúng con, ai nấy vận dụng tất cả tâm trí mà qui y đảnh lễ :

    Nam mô Tỳ lô giá na phật.
    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nam mô Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Vô lượng thọ phật.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì quá khứ.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì hiện tại.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì vị lai.
    Kính lạy kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Nhật quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Nguyệt quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Văn thù sư lợi bồ tát.
    Nam mô Quan thế âm bồ tát.
    Nam mô Ðắc đại thế bồ tát.
    Nam mô Vô tận ý bồ tát.
    Nam mô Bảo đàn hoa bồ tát.
    Nam mô Dược vương bồ tát.
    Nam mô Dược thượng bồ tát.
    Nam mô Di lạc bồ tát.
    Nam mô Tiêu tai chướng bồ tát.
    Nam mô Tăng phước thọ bồ tát.
    Kính lạy ba vạn sáu ngàn vị đại bồ tát dưới cây Tiếng nhạc.
    Kính lạy các vị đại thánh tăng là tôn giả A nan và tám ngàn vị tỷ kheo.
    Nam mô Cứu thoát bồ tát.

    Ðảnh lễ chư Phật rồi, lại kế tiếp xét thật tướng của tâm. Bất cứ lúc nào, bất cứ làm gì, dầu đi dầu đứng, dầu ra dầu vào, đại tiện tiểu tiện, rưới quét rửa giặt, thi vi cử động, cúi ngước xem nghe, đều nên một lòng tưởng niệm Tam bảo, xét tâm tánh không. Không được, dầu trong khoảnh khắc mà thôi, nhớ đến ngũ dục, đến việc đời, sinh tâm tà niệm.

    Không cùng người nói năng bàn tán, buông thả giỡn cợt, nhìn sắc đẹp, nghe tiếng hay, bám dính cảnh trần, nổi nghiệp bất thiện, nổi ý niệm tạp mà thực chất là phiền não vô ký, không thể tu hành đúng như Phật pháp. Nếu quả tâm tâm liên tục, không rời phật tướng, không tiếc thân mạng, vì toàn thể chúng sanh mà tu hành phương pháp sám hối, thì thế gọi là chân thật, là nhất tâm tinh tiến, lấy Phật pháp mà trang hoàng. Do đó, chúng con lại chí thành, năm bộ phận gieo xuống sát đất mà qui y đảnh lễ Tam bảo thường trú :

    Nam mô Tỳ lô giá na phật.
    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni phật.
    Nam mô Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Vô lượng thọ phật.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì quá khứ.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì hiện tại.
    Kính lạy tất cả chư Phật cùng mười phương, khắp pháp giới, thuộc thì vị lai.
    Kính lạy kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.
    Nam mô Nhật quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Nguyệt quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Văn thù sư lợi bồ tát.
    Nam mô Quan thế âm bồ tát.
    Nam mô Ðắc đại thế bồ tát.
    Nam mô Vô tận ý bồ tát.
    Nam mô Bảo đàn hoa bồ tát.
    Nam mô Dược vương bồ tát.
    Nam mô Dược thượng bồ tát.
    Nam mô Di lạc bồ tát.
    Nam mô Tiêu tai chướng bồ tát.
    Nam mô Tăng phước thọ bồ tát.
    Kính lạy ba vạn sáu ngàn vị đại bồ tát dưới cây Tiếng nhạc.
    Kính lạy các vị đại thánh tăng là tôn giả A nan và tám ngàn vị tỷ kheo.
    Nam mô Cứu thoát bồ tát.

    Ðảnh lễ chư Phật rồi lại chí tâm sám hối. Ðệ tử chúng con cùng với pháp giới hết thảy chúng sanh, từ vô thỉ đến bây giờ, vì ba thứ chướng ngại vấn thắt và úp che tâm trí, nên đối với mọi cảnh tượng vọng sinh tham trước ; ngu si vô trí, thiếu mất tín tâm, đem thân miệng ý tạo đủ ác nghiệp, đến nỗi phỉ báng Phật pháp, phá phạm thi la, triển chuyển thường làm những việc bất lợi. Hoặc ở  tịnh địa(34) nhưng thánh quả chưa tròn đầy, lưu chú(35) nhỏ nhiệm nên tam muội khó kết quả. Nay gặp đức Dược sư lưu ly quang như lai là có thể trừ diệt tội  chướng mau chóng, thành tựu quả vị diệu giác(36). Nên con chí tâm qui hướng, cúi đầu trán, gieo chân thành, bộc bạch tội lỗi, cầu xin sám hối. Nguyện xin đấng Biển cả đại nguyện đại từ bi(37) bình đẳng nhiếp thọ, làm cho con, và pháp giới chúng sanh, nghiệp chướng cũ tự tiêu mất, mọi tai nạn đều thoát qua. Ðập võ vô minh, khô sông phiền não. Chánh kiến mở tỏ, diệu tâm sáng suốt. Ở yên nơi tuệ giác bồ đề, nên ánh sáng của bản thể luôn luôn vắng lặng(38) được hiện tiền. Không bịnh, yên vui, đúng như sở thích mong cầu, mọi đồ trang sức(39) tùy ý muốn gì có nấy. Giác quan tinh nhuệ, đa văn và lý giải thấu suốt. Giữ phạn hạnh một cách tinh thuần, nhập vào tam ma địa. Vận dụng vô lượng phương tiện của trí tuệ mà làm cho chúng sanh được mọi đồ dùng, không thiếu chi cả. Khéo tu đủ thứ bồ tát pháp hạnh, mau chứng vô thượng chánh đẳng bồ đề. Ðến lúc gần chết thì minh mẫn, yên lành, vui đẹp, quyết định sanh thế giới hệ Cực lạc của đức phật A di đà, thuộc về phía tây. Bằng s ị đại bồ tát. Tự nhiên hóa sinh trong hoa quí báu. Rồi tiếp nhận sự thọ ký của Phật, thực hiện vô lượng đà la ni môn. Nên hết thảy công đức đều thành tựu được cả. Sau đó phân hóa thân hình ra vô số, khắp cả thế giới hệ trong mười phương. Trong một niệm mà cúng dường hết thảy chư Phật khắp cả pháp giới, trong một niệm mà hiện đủ sức thần, độ thoát hết thảy chúng sanh khắp cả pháp giới, thành bậc vô thượng chánh đẳng chánh giác.

    Hư không mà cùng tận đi nữa, thệ nguyện của con trên đây cũng vẫn vô cùng. Sám hối phát nguyện rồi, chúng con qui y đảnh lễ hết thảy Tam bảo thường trú.

    Nam mô, Bạc già phạt đế, bệ sát xã lũ rô – bệ lưu ly bát lạt bà – hát ra xà dã, đát tha yết đa dã, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha : Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ – bệ sát xã – tam  một yết đế, sa ha. (3 lần)

    Nam mô Dược sư hội thượng Phật Bồ tát. (3 lần)

    Hoàn kinh

    (Tán Phật)
    Kính lạy đức Dược sư,
    chánh giác rất vi diệu,
    ở cõi Tịnh lưu ly,
    thuộc phía đông cõi này ;
    Ngài thật khó nghĩ bàn,
    đủ ba vô số kiếp,
    và không ai sánh bằng,
    với mười hiệu tôn xưng.
    Trong nhân đã phát ra
    mười hai môn đại nguyện
    trong quả đã viên mãn
    trăm ngàn loại tướng hảo ;
    biển từ bi rộng lớn
    khó ai lường cho nổi,
    núi công đức cao cả
    không thể khen cho cùng.
    Nam mô đông phương Tịnh lưu ly giới, Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng, chánh biến tri, minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, phật : thế tôn.

    (Niệm Phật)
    Nam mô Dược sư lưu ly quang phật. (30 đến 108 tiếng)
    (từ đây sắp xuống, mỗi danh hiệu 3 tiếng)
    Nam mô Nhật quang biến chiếu bồ tát. 
    Nam mô Nguyệt quang biến chiếu bồ tát.
    Nam mô Văn thù sư lợi bồ tát.
    Nam mô Quan thế âm bồ tát.
    Nam mô Ðắc đại thế bồ tát.
    Nam mô Vô tận ý bồ tát.
    Nam mô Bảo đàn hoa bồ tát.
    Nam mô Dược vương bồ tát.
    Nam mô Dược thượng bồ tát.
    Nam mô Di lạc bồ tát.

    ( cầu nguyện 1. Cầu nguyện cho bản thân )
    Ðệ tử tên xx pháp danh xx, đem công đức bái sám theo phương pháp sám hối “đạo tràng Dược sư”, cầu nguyện bịnh chướng tiêu trừ, phước thọ tăng trưởng, đời này thiện căn không bị trở ngại, kiếp sau đích thân tiếp nhận sự thọ ký tối thượng của Phật.

    (2. cầu nguyện cho người khác)
    Ðệ tử tên xx pháp danh xx, chí thành vì xx, pháp danh xx, bái sám theo phương pháp sám hối “đạo tràng Dược sư”, cầu nguyện xx nhờ công đức này mà bịnh chướng tiêu tan, phước thọ tăng thượng, chánh  tín không bị phá hoại, thiện căn không bị trở ngại, đời này thân cận phụng sự tam bảo, kiếp sau đích thân nhận được sự thọ ký của Phật.

    (Hồi hướng)
    Nguyện đem công đức này
    hướng về khắp tất cả,
    nguyện con và chúng sanh
    đều trọn thành Phật đạo.

    (Qui y Tam bảo)
    Tự qui y Phật,
    xin nguyện chúng sanh,
    thể theo đạo cả,
    phát lòng vô thượng.

    Tự qui y Pháp,
    xin nguyện chúng sanh,
    thấu rõ kinh tạng,
    trí tuệ như biển.

    Tự qui y Tăng,
    xin nguyện chúng sanh,
    thống lý đại chúng,
    hết thảy không ngại.

    Mục lục
    
    Tiểu dẫn. 5
    Lời đề khóa tụng kinh Dược Sư của Ngọc lâm quốc sư. 8
    Kinh Dược  sư. 11
    Sám  Dược  sư  cuốn trước. 68
    Sám  Dược  sư  cuốn  giữa. 94
    Sám  Dược  sư  cuốn  sau. 128
    Lược giải kinh dược sư (có mục lục riêng) 153
    Ghi chú. 222 

    Lược giải kinh dược sư

    Mục lục Lược giải

    Tài liệu. 155
    Dịch giả. 157
    Mệnh đề. 158
    Cương yếu. 159
    Lược giải 161
    A1 mở đầu. 161
    A2 nội dung, có 3 B. 164
    B1. Danh hiệu. 164
    B2. Bản nguyện. 168
    B3. Công đức, có 7C. 174
    C1. nói về y chánh trang nghiêm.. 174
    C2. nói về đại dụng của danh hiệu, có 5 D. 177
    D1. diệt sự tham lẫn mà được sự bố thí 177
    D2. diệt sự phạm tội mà được sự giữ giới 179
    D3. diệt sự ganh ghét mà được sự giải thoát 181
    D4. diệt sự hại nhau mà được sự thương nhau. 182
    D5. được sanh Cực lạc hay các sự chuyển sanh khác  184
    C3. nói về đại dụng của chú. 188
    C4. nói về đại dụng của sự phụng trì, có 3 D. 194
    D1. Phật dạy tổng quát và ngài Văn thù phát nguyện. 194
    D2. Phật chỉ cách thức và nói ích lợi 198
    D3. Phật nói ích lợi trong sự khỏi nạn. 199
    C5. nói là chỗ hiểu biết sâu xa của Phật 201
    C6. nói cách tiêu tai diên thọ, có 5 D. 205
    D1. chỉ cách tiêu tai diên thọ. 205
    D2. chỉ thêm cách tiêu tai diên thọ, đặc biệt tiêu bịnh khổ  208
    D3. lại còn tiêu quốc nạn. 210
    D4. tiêu bất định nghiệp. 213
    D5. tiêu cả định nghiệp. 215
    C7. nói sự hộ vệ của Dạ xoa. 216
    A3 kết thúc. 219
    B1. nói tên kinh. 219
    B2. chúng hội phụng hành. 220
    Ghi chú. 222


    Tài liệu

    Tài liệu dùng để dịch giải kinh này gồm có :

    1. Phật thuyết quán đánh bạt trừ quá tội sanh tử đắc độ kinh quyển đệ thập nhị (Chính 21/532-536) ;
    2. Phật thuyết Dược sư như lai bản nguyện kinh (Chính 14/401-404) ;
    3. Dược sư lưu ly quang như lai bản nguyện công đức kinh (Chính 14/404-408) ;
    4. Dược sư lưu ly quang thất Phật bản nguyện công đức kinh (Chính 14/409-418) ;
    5. Dược sư kinh cổ tích (Vạn 35/172-178) ;
    6. Dược sư kinh trực giải (Vạn 35/179-196) ;
    7. Dược sư lưu ly quang như lai bản nguyện công đức kinh giảng ký (TH 28/2229-2408) ;
    8. Dược sư lưu ly quang như lai bản nguyện công đức kinh (bản in riêng, của cơ quan Lưu thông sách Phật ở Hương cảng) ;
    9. Dược sư lưu ly quang như lai bản nguyện công đức kinh (Trung Anh hợp san, của cơ quan Lưu thông sách Phật ở Hương cảng).

    Ngoài 9 tài liệu trên đây, còn có Dược sư đăng diệm (Vạn 59/145-146) và 10 bản Nghi quỹ (Chính 19/20 – 67). Ðiều đáng nói và đáng tiếc là, theo Pđ 2838d, còn có tài liệu gọi là Dược sư kinh sớ của ngài Khuy cơ (đệ tử ngài Huyền tráng). Tài liệu này, nếu có, tất nhiên quan trọng bậc nhất. Nhưng hiện trong Ðại tạng kinh bản Ðại chính tân tu và Tục tạng kinh bản chữ Vạn đều không có.

    Sau đây là những điều cần biết :

    1. Kinh này trước sau có 5 bản dịch : bản dịch 1 là tài liệu 1, dịch giả Cát hữu, dịch quãng 317 ; bản dịch 2 là Dược sư lưu ly quang kinh, dịch giả Tuệ giản, dịch quãng 457, bản này thất lạc ; bản dịch 3 là tài liệu 2, dịch giả Pháp hạnh, dịch năm 615 ; bản dịch 4 là tài liệu 3, dịch giả Huyền tráng, dịch năm 650 ; bản dịch 5 là tài liệu 4, dịch giả Nghĩa tịnh, dịch năm 707.
    2. Ðối chiếu đại khái về 4 bản dịch hiện còn trên đây thì cần ghi ngay ở đây là 2 chỗ : (l) tên 8 vị bồ tát là trích tài liệu 1 (Chính 21/533d) ; (2) chú là trích tài liệu 4 (Chính 14/414). Ðối chiếu này còn phải nói rõ hơn nơi mục dịch giả dưới đây.
    3. Bản văn tôi dịch là tài liệu 8, đối chiếu với bản chính là tài liệu 3 (bản dịch 4) và các tài liệu đã kê. Sự đối chiếu này sẽ nói rõ trong lược giải. Sở dĩ tôi chọn tài liệu 8 là vì bản này mới thường trì tụng.

    Dịch giả

    Thời đại nhà Ðường, Tam tạng pháp sư Huyền tráng dịch.

    Niên đại của ngài Huyền tráng là 569-664. Kinh này dịch vào lúc ngài 55 tuổi, năm 650. Trên đây là tham khảo PHNC bài 18 trang 59-81. Bài này là bản niên phổ quí nhất của ngài Huyền tráng.

    Nhưng, bản tài liệu 8 mà tôi căn cứ để dịch giải, đúng ra còn phải kê thêm các dịch giả Cát hữu và Nghĩa tịnh. Vì lẽ, như khoản B cần biết ở mục tài liệu trên đã nói, bản này có bổ túc 2 chỗ là tên 8 vị bồ tát và chú. Việc bổ túc ấy do ai thì tìm chưa thấy, nhưng chú thích số 11 và số 13 của Chính 14/406 (tài liệu 3, bản chính) cho biết có bản bổ túc như vậy. Sự bổ túc này đã lưu hành xưa nay.

    Ðiều phải nói hơn nữa, là cả 2 chỗ bổ túc trong tài liệu 1 đã có. Riêng về chú, tài liệu 1 không những có (Chính 21/536t) mà nói có lý hơn cả tài liệu 4 (là nơi trích chú). Tài liệu 1 lại có trước nhất và sớm nhất, vào đầu thế kỷ 4 (317), còn tài liệu 4 có gần 4 thế kỷ sau (707). Vậy trích 2 chỗ nói trên mà bổ túc cho tài liệu chính (tài liệu 3, có năm 650) là rất phải.

    Mệnh đề

    Kinh Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai.

    Mệnh đề này có nghĩa là bản kinh nói về bản nguyện và công đức của đức Dược sư.

    Bản nguyện, bản, nghĩa đen là gốc, trước, của mình. Nguyện là thề nguyền, chí nguyện. Cái nguyện gốc, trước và của mình (đức Dược sư), gọi là bản nguyện.

    Công đức, ở đây, nghĩa giản dị nhất, công là công tu, đức là được : hiệu quả đạt được bởi công năng tu tập, gọi là công đức. Công đức ấy của đức Dược sư gồm có :

    – Chánh báo y báo trang nghiêm, tức thân thể và vũ trụ trang nghiêm của ngài ;

    – Danh hiệu của ngài ;

    – Những ích lợi (diệu dụng hay thần lực) mà ngài ban cho chúng sanh, trong đó có sự tiêu tai diên thọ.

    Trong 3 loại công đức trên đây, danh hiệu có khi được tách ra mà nói danh hiệu, bản nguyện và công đức.

    Dược sư lưu ly quang như lai là danh hiệu đầy đủ của đức Dược sư. Dược sư, Phạn tự là Bệ sát xã lũ rô (Bhaishajyaguru), nghĩa  đen : thầy thuốc chữa bịnh. Lưu ly quang là dịch âm (lưu ly) và dịch nghĩa (quang) Phạn tự Bệ lưu ly bát lạt bà – hát ra xà dã (Vaiduryaprabha-rajaya), nghĩa đen : ánh sáng lưu ly. Lưu ly là dịch âm và gọi tắt tên một thứ ngọc đá. Ngọc này trong ngoài trong suốt màu xanh, vật gì gần nó cũng thành một màu ấy. Dược sư lưu ly quang như lai : một đức Như lai có danh hiệu là Thầy thuốc chữa bịnh, ánh sáng như ngọc lưu ly.

    Cương yếu

    Kinh này nội dung có 2 phần, là nói về bản nguyện và công đức của đức Dược sư. Phần danh hiệu chỉ là phần công đức tách ra.

    Nhưng, nói về một đức Phật thì không phải chỉ có bản nguyện và công đức. Chỉ nói bản nguyện và công đức, vì đó là 2 phần nhân và quả của một đức Phật. Nhưng, nhân và quả của một đức Phật cũng không phải chỉ có bản nguyện và công đức. Chỉ nói bản nguyện và công đức là vì nhiều lý do, mà lý do quan trọng nhất là đề cao tha lực. Kinh này nói tự lực (sự hành trì của ta) thì ít, nói tha lực (sự gia hộ của Phật) mới nhiều. Mà nhân và quả của một đức Phật thì bản nguyện và công đức là 2 phần vì chúng sanh và cho chúng sanh, nên đặc biệt nêu lên.

    Ðiều phải chú ý hơn hết là, như vừa nói, kinh này đề cao tha lực. Thật vậy, kinh này đề cao tha lực đến nỗi C5 trong B3 cho biết, sự gia hộ của Phật là điều thuộc “thậm thâm hành xứ” của Phật, điều của Phật làm và của Phật biết, chỉ “nhất sanh bồ tát” là bồ tát chỉ một đời nữa làm Phật mới tin và hiểu đúng như sự thực. Còn ngài A nan đi nữa mà tiếp nhận được là do uy lực của Phật, huống chi phàm phu chúng ta.


    Lược giải

    Như thường lệ, kinh này vẫn có 3 A : mở đầu, nội dung và kết thúc.

    A1 mở đầu

    Tôi nghe như vầy.

    Một thời, đức Thế tôn du hóa các nước, đến thành Quảng nghiêm, dừng ở dưới cây Tiếng nhạc. Tám ngàn vị đại tỷ kheo, ba vạn sáu ngàn vị đại bồ tát, và các quốc vương, đại thần,  đạo sĩ cư sĩ tám bộ thiên long, loài người và loài không phải người, đại chúng vô lượng như vậy, cung kính vây quanh đức Thế tôn để được ngài thuyết pháp cho.

    Tôi nghe như vầy (như thị ngã văn), nghĩa là “toàn bộ pháp thoại như thế này là do tôi nghe”. Câu này cũng có thể dịch tôi nghe như thế này, như vầy tôi nghe. Nhưng, như vầy là tiếng thổ ngữ, bất đắc dĩ mới dùng.

    Ðạo sĩ (Bà la môn), Bà la môn đúng là giai cấp đạo sĩ, cũng như Sát đế lợi đúng là giai cấp võ sĩ. Tám bộ thiên long (thiên long bát bộ). Tám bộ là 8 loài : thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lầu la, khẩn na la, ma hầu la dà (Phạn tự : deva, naga, yaksha, gandharva, asula, garuda, kimnara, mahoraga). Tám bộ này, thiên và long là 2 loại mà đứng đầu, nên hay nói “thiên long bát bộ”. Nếu chép “thiên long dược xoa” thì cũng nói 8 bộ mà chỉ kê ra 3 loại đầu. Riêng kinh này, nếu chép “thiên long dược xoa” cũng có lý, vì C7 của B3, loại dạ xoa liên hệ nhiều đến kinh này.

    Lúc ấy, Mạn thù pháp vương tử vâng theo uy thần của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, trần vai áo bên trái, gối bên phải quì xuống sát đất, hướng về đức Phật, cong mình, chắp tay mà thưa, bạch đức Thế tôn, con xin ngài nói về tướng loại như thế này, đó là danh hiệu, bản nguyện vĩ đại và công đức thù thắng của chư Phật, làm cho người nghe tiêu trừ những sự chướng ngại do nghiệp lực tạo ra. Là vì con muốn lợi lạc cho mọi người trong thời kỳ Phật pháp tương tự xuất hiện. Ðức Thế tôn tán dương Mạn thù đồng tử, lành thay Mạn thù, lành thay, ông đem lòng thương rộng lớn thỉnh cầu Như lai nói về danh hiệu, bản nguyện và công đức của chư phật dể cứu vớt những kẻ bị nghiệp chướng buộc thắt, lợi lạc mọi người trong thời kỳ Phật pháp tương tự. Ôâng hãy nghe kỹ, suy nghĩ rất khéo, Như lai sẽ nói cho. Mạn thù bạch Phật, dạ, xin Phật chỉ dạy, chúng con thích thú mà nghe.

    Mạn thù = Mạn thù thất lợi, Văn thù sư lợi, Văn thù : Manjushri. Pháp vương tử : thái tử của đấng Pháp vương. Chỉ ngài Mạn thù mới hay được gọi như vậy. Kinh này được hỏi bởi ngài Mạn thù, còn kinh Di đà do Phật tự nói chứ không ai hỏi được : hãy so sánh giữa 2 kinh, rồi so sánh giữa 2 kinh với các kinh, về sự mở đầu này mà thôi, cũng thấy được giá trị kinh này.

    Tướng loại : sắc thái và bộ môn, tức danh hiệu, bản nguyện và công đức của chư Phật. Cũng có thể đọc “tương loại”, nghĩa là tương tự : tương tự giữa chư Phật, về danh hiệu, bản nguyện và công đức. Bản nguyện vĩ đại (bản đại nguyện) đúng ra phải dịch là đại nguyện gốc, trước. Thời kỳ Phật pháp tương tự (tượng pháp) Phật pháp có 3 thời kỳ. Trước thời kỳ này là thời kỳ Phật pháp nguyên chất (chánh pháp) và sau thời kỳ này là thời kỳ Phật pháp cuối cùng (mạt pháp). Nhưng tôi không tin kinh này chỉ nói cho người thuộc thời kỳ Phật pháp tương tự. Nói người thuộc thời kỳ này mới đa số tin và làm theo kinh này thì có lý hơn. Ðoạn văn trên có 2 chỗ dùng chữ tượng pháp (thời kỳ Phật pháp tương tự) là chỗ ngài Văn thù thỉnh và chỗ Phật khen. Chỗ trước, bản dịch 1 cũng dùng chữ tượng pháp (Chính 21/532g), bản dịch 3 dùng chữ lai thế chánh pháp hoại thời (Chính 14/401g), bản dịch 5 cũng dùng chữ tượng pháp (Chính 14/409t). Nhưng chỗ sau, bản dịch 1 chỉ dùng chữ nhất thế vô lượng chúng sanh (Chính 21/532g), bản dịch 3 chỉ dùng chữ chư thiên nhân (Chính 14/401g), bản dịch 5 chỉ dùng chữ vô lượng nghiệp chướng hữu tình (Chính 14/409g). Rất nên đối chiếu như vậy để thấy người mạt pháp không phải vô phần đối với kinh này.

    Ðồng tử = kumara, nghĩa đen : trẻ thơ. Ở đây ý nghĩa là không có ý niệm dâm dục như tâm hồn trẻ thơ.

    A2 nội dung, có 3 B

    Lời thỉnh của ngài Văn thù và lời hứa của đức Thế tôn, trong văn mở đầu, đều nói danh hiệu, bản nguyện và công đức. Vậy nội dung kinh này nên chia ra 3 B : danh hiệu, bản nguyện và công đức của đức Dược sư.

    B1. Danh hiệu

    Phật dạy Mạn thù, phía đông, cách thế giới hệ này bởi những thế giới hệ   bằng số cát hơn mười sông Hằng, có một thế giới hệ tên Tịnh lưu ly. Ðức Phật ở đó danh hiệu là Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng, chánh biến tri, minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, phật : thế tôn.

    Ðoạn này vắn tắt nhưng nói được 3  điều : chánh báo trang nghiêm của đức Dược sư, danh hiệu viên mãn của ngài, sau hết, mở đầu tổng quát cho nội dung kinh này (là nội dung nói về đức Dược sư). Tuy nói được đến 3 điều như vậy, phần danh hiệu viên mãn vẫn là phần chính.

    Trước hết, thế giới hệ (thế giới) là chỉ  cho đại thiên thế giới, nên ngài Thái hư nói bằng với tinh vân hệ hay tinh hải hệ của thiên văn (TH 28/2326)(40), do đó, phải dịch là thế giới hệ mới đúng. Còn từ ngữ thế giới hay lầm lẫn với địa cầu. Mà địa cầu chỉ là một trong rất nhiều thành phần của tiểu thế giới(41). Ngàn tiểu thế giới là tiểu thiên thế  giới. Ngàn tiểu thiên thế giới là trung thiên thế giới. Ngàn trung thiên thế giới mới là đại thiên thế giới, có 1 tỷ tiểu thế giới (TH 28/2326).

    Bây giờ nói danh hiệu của đức Dược sư. Danh hiệu “Dược sư lưu ly quang” đã cắt nghĩa. Nhưng, được gọi là một đức Phật, phải là đấng có 10 công đức lớn, tiêu biểu bởi 10 đức hiệu (dầu 10 công đức và 10 đức hiệu cũng chỉ nói tóm lược mà thôi). Mười đức hiệu, tài liệu chính (Chính 14/405) chép : như lai, ứng, chánh đẳng giác, minh hạnh viên mãn, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng trượng phu, điều ngự sĩ, thiên nhân sư, phật : bạc già phạn. Chép như vậy thì có 3 điều cần chú ý.

    Một, 10 đức hiệu, thông thường thì nguyên Phạn tự như sau :

    1. Tathagata,
    2. Arhat,
    3. Samyaksambuddha,
    4. Vidyacarana-sampanna,
    5. Sugata,
    6. Lokavid,
    7. Anuttara,
    8. Purusa-damya-sarathi,
    9. Sasta-deavamanusyanam,
    10. Buddha-lokanatha.

    Dịch nghĩa và chấm câu như sau :

    1. Như lai,
    2. Ứng cúng,
    3. Chánh biến tri,
    4. Minh hạnh túc,
    5. Thiện thệ,
    6. Thế gian giải,
    7. Vô thượng sĩ,
    8. Ðiều ngự trượng phu,
    9. Thiên nhân sư,
    10. Phật – thế tôn.

    Nhưng đức hiệu Thế tôn, nếu dịch âm là Phật đà – lộ ca na tha, và nguyên Phạn tự là Buddha-lokanatha, thì Phật – thế tôn là 1 đức hiệu, nếu dịch âm là Bạc già phạn, và nguyên Phạn tự là Bhagavan, thì Thế tôn là đức hiệu riêng : đấng có 10 đức hiệu nên tôn xưng là Thế tôn (Pđ 252t). Ở đây, nguyên Hoa văn dịch âm là Bạc già phạn, thì Phạn tự là Bhagavan, nên Thế tôn là đức hiệu riêng, và phải chấm câu như đã chấm.

    Hai, có mấy chỗ dịch nghĩa cần lưu ý :
    Ứng = ứng cúng ;
    Chánh đẳng giác (chánh đẳng chánh giác) = Chánh biến tri ;
    Minh hạnh viên mãn = Minh hạnh túc ;
    Vô thượng trượng phu = Vô thượng sĩ ;
    Ðiều ngự sĩ = Ðiều ngự trượng phu.

    Ba, 10 đức hiệu này, quan trọng nhất là như lai, ứng cúng, chánh biến tri, nên trong kinh này, và nhiều chỗ khác, có khi chỉ nói 3 đức hiệu ấy.

    B2. Bản nguyện

    Mạn thù, đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, xưa kia, khi làm hạnh bồ tát, đã phát ra mười hai đại nguyện, cốt làm cho mọi người thực hiện mọi sự mong ước.

    Ðại nguyện thứ nhất, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì bản thân ánh sáng rực rỡ, chiếu soi vô số thế giới hệ. Thân ấy lại được trang hoàng bằng bâm hai tướng tốt của bậc đại trượng phu, và tám mươi tướng phụ. Lại làm cho mọi người không khác gì với con.

    Ðại nguyện thứ hai, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì thân như ngọc lưu ly, trong ngoài trong suốt, không chút vẩn đục, ánh sáng to lớn và chiếu tỏa xa rộng. Công đức đồ sộ, lại khéo an trú. Những tia sáng rực rỡ, dệt nhau như mạng lưới, và tráng lệ quá hơn nhật nguyệt. Chúng sanh tối tăm được soi sáng cả, nên tùy ý hướng mà làm mọi sự nghiệp.

    Ðại nguyện thứ ba, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì vận dụng vô lượng trí tuệ và phương tiện, làm cho mọi người cùng được vô tận những vật hưởng dụng, không để cho ai có sự thiếu thốn.

    Ðại nguyện thứ tư, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì những kẻ đi theo tà đạo đều được làm cho ở yên trong đạo giác ngộ, những người tu theo thanh văn duyên giác đều được xây dựng bằng pháp đại thừa.

    Ðại nguyện thứ năm, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì vô số người tu hành phạn hạnh trong chánh pháp của con, con làm cho tất cả được giới thể không thiếu sót, trọn vẹn giới pháp ba loại. Giả sử phá phạm đi nữa, nghe danh hiệu con rồi là phục hồi thanh tịnh, không rơi vào đường dữ.

    Ðại nguyện thứ sáu, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ thân hình thấp kém, giác quan không đủ, xấu xí, u mê, mù điếc, câm ngọng, tay quắp, chân quẹo, lưng gù phung lác, điên cuồng, đủ thứ bịnh khổ, nhưng nghe danh hiệu con rồi, tất cả đều đẹp đẽ, thông minh, giác quan hoàn bị, hết mọi bịnh khổ.

    Vạn 35/1 73a, dẫn kinh A tu la nói, Lưu ly quang bồ tát gặp Trí thắng phật thì bắt đầu phát ra đại nguyện tổng quát, nơi Bảo đảnh phật mới phát ra đại nguyện riêng biệt. Lại dẫn kinh Thập phương chư Phật hiện tiền, nói, nơi Thanh long quang phật phát ra 12 đại nguyện. Như vậy, văn từ 12 đại nguyện chữ “ngã” phải dịch “con”, vì là lời Bồ tát nguyện với Phật.

    Tuệ giác vô thượng, nguyên Hoa văn ở đại nguyện 1 nói đủ là A nậu đa la tam niệu tam bồ đề (Anuttara – samyaka – sambodhi), ở 11 đại nguyện sau nói tắt là bồ đề. Ðó là tuệ giác của Phật. Nói được tuệ giác ấy có nghĩa là nói thành Phật. Lại khéo an trú (thân thiện an trú), chữ thân bỏ, vì nó đã là chủ từ cả đoạn văn này. Khéo an trú : khéo ngồi yên tịnh, khéo yên tịnh. Giới pháp ba loại (tam tụ giới) = giới pháp bồ tát, cùng lúc phải đủ nhiếp luật nghi (đoạn ác) nhiếp thiện pháp (tu thiện) nhiêu ích hữu tình (lợi người). Nghe danh hiệu con rồi là nói tắt. Nói đủ một chút thì “rồi, biết nhất tâm qui y, trì niệm, thì nhờ năng lực phước đức và uy thần của con… “

    Ðại nguyện thứ bảy, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ bị mọi thứ bịnh khổ hành hạ mà không ai cứu giúp, không nơi nương tựa, không có y sĩ, không có dược liệu, không có thân thuộc, không có nhà cửa, nghèo nàn lắm khổ, thì danh hiệu của con, một khi đi qua thính giác của họ, là bịnh khổ tan biến, thân tâm an lạc, nhà cửa, thân thuộc và đồ dùng, đầy dủ tất cả, cho đến thực hiện được tuệ giác vô thượng.

    Ðại nguyện thứ tám, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, nếu có nữ nhân nào bị hành hạ bởi cả trăm thứ khổ sở của nữ nhân, nên cùng cực chán ngán, muốn thoát thân ấy, thì nghe danh hiệu con rồi, tất cả đều chuyển thân nữ nhân thành thân nam tử, đủ tướng trượng phu, cho đến thực hiện được tuệ giác vô thượng.

    Ðại nguyện thứ chín, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, thì làm cho mọi người thoát khỏi mạng lưới của ma vương, cởi mở thắt buộc của ngoại dạo. Sa vào rừng rậm ác kiến thì sẽ được dẫn ra, đem đặt vào chánh kiến, và dần dần làm cho họ thực tập các hạnh bồ tát, để thực hiện một cách mau chóng tuệ giác vô thượng.

    Ðại nguyện thứ mười, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng,  thì những kẻ bị phép vua ghi sổ, xích trói đánh khảo, giam nhốt lao ngục, sắp bị hành hình, cọng với vô lượng tai nạn khổ nhục, bi thảm sầu muộn khác nữa, ngâm nấu bức bách, làm cho cả cơ thể lẫn tâm trí đều chịu thống khổ, nhưng nghe danh hiệu của con, thì vì năng lực phước đức và uy thần  của con mà họ thoát hết mọi sự lo sợ khổ sở.

    Ðại nguyện mười một, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ bị đói khát hành hạ, vì cầu cái ăn mà làm mọi ác nghiệp, nhưng nghe được danh hiệu của con, nhất tâm thọ trì, thì trước hết con làm cho họ no đủ cơ thể bằng thực phẩm tuyệt diệu, sau đó con sẽ đem cái vui cứu cánh của pháp vị mà xây dựng cho họ.

    Ðại nguyện người hai, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô thượng, những kẻ nghèo thiếu y phục, ngày đêm khổ sở vì muỗi mòng lạnh nóng, nếu nghe danh hiệu của con mà nhất tâm thọ trì, thì như sở thích của họ, họ được liền những thứ y phục tuyệt diệu, lại được những đồ trang sức bằng vàng ngọc. Hoa vòng, hương xoa, âm nhạc hòa tấu và mọi kỹ thuật biểu diễn, tùy ý họ thích, con làm cho đầy đủ tất cả.

    Mạn thù, dó là mười hai đại nguyện tối thượng, nhiệm mầu, của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng, chánh biến tri, đã lập ra khi còn làm hạnh bồ tát.

    Trong đại nguyện thứ 7, nhà cửa thân thuộc (gia thuộc tư cụ), tài liệu 9 (Anh văn, trang 4 dòng 11) dịch là gia tộc, bạn bè. Cho đến thực hiện được tuệ giác vô thượng, câu này, và những văn ý tương tự, có 2 điểm cần chú ý : (a) chính sự sống và phương tiện để sống, đã được sau khi trì niệm danh hiệu Phật, cũng là công cụ dẫn đến sự thành Phật ; (b) chữ cho đến là nói tắt sự tu dần các hạnh bồ tát. Pháp vị : mùi vị chánh pháp. Chánh pháp đem lại hoan lạc thật, bền, và cho cả thân lẫn tâm, nên gọi là pháp vị.

    B3. Công đức, có 7C

    B3 này có 7C : 1. nói về y chánh trang nghiêm, 2. nói về đại dụng của danh hiệu, 3. nói về đại dụng của chú, 4. nói về đại dụng của sự phụng trì, 5. nói là chỗ hiểu biết sâu xa của Phật(42), 6. nói cách tiêu tai diên thọ, 7. nói sự hộ vệ của Dạ xoa. Tổng quát thì, bằng 7 cách nói, C3 này nói về y chánh, danh hiệu và diệu dụng, là 3 đại yếu công đức của đức Dược sư. Cũng nên nói thêm, công đức ấy là của đại nguyện, do đại nguyện thành tựu.

    C1. nói về y chánh trang nghiêm

    Nhưng văn này chỉ nói y báo trang nghiêm của đức Dược sư. Mà nói rất vắn tắt. Còn chánh báo trang nghiêm đã nói trong B1.

    Mạn thù, những đại nguyện tối thượng của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai đã lập ra khi còn làm hạnh bồ tát, và những công đức trang nghiêm của thế giới hệ đức Phật ấy, Như lai diễn tả trong một đại kiếp, hay hơn một đại kiếp, cũng không thể cùng tận. Thế giới hệ của đức Phật ấy hoàn toàn thanh tịnh, không có nữ nhân, không có ác đạo, không có cả đến cái tiếng thống khổ. Ðất làm bằng ngọc lưu ly. Ðường ngăn bằng giây vàng. Thành, cửa thành, cung điện, lầu gác, mái hiên, cửa sổ, lưới giăng, toàn bằng bảy thứ quí báu. Y như thế giới hệ Cực lạc ở phía tây, công đức trang nghiêm không khác gì cả.

    Ðại kiếp (kiếp), kiếp này là đại kiếp. (TH 28/2326). Kiếp, Phạn tự là kalpa, âm : kiếp ba, nghĩa : trường thời (thời kỳ dài). Kiếp có tiểu, trung và đại. Sự sống con người từ 10 tuổi, cứ mỗi trăm năm tăng 1 tuổi, tăng đến 84.000 tuổi gọi là 1 tăng. Sự sống con người từ 84.000 tuổi, cứ mỗi trăm năm giảm 1 tuổi, giảm đến 10 tuổi gọi là 1 giảm. Mỗi 1 tăng hay mỗi 1 giảm gọi là tiểu kiếp ; mỗi 1 tăng và giảm gọi là trung kiếp (4 thời kỳ thành, trú, hoại, không, mỗi thời kỳ có 20 trung kiếp) ; 4 thời kỳ (nghĩa là 80 lần tăng và giảm) là 1 đại kiếp : đó là thuyết Câu xá luận. Mỗi 1 tăng và giảm mới là tiểu kiếp ; 20 tiểu kiếp (20 lần tăng và giảm) mới là trung kiếp, 4 thời kỳ thành, trú, hoại, không, mỗi thời kỳ có 1 trung kiếp, 4 thời kỳ (nghĩa là 80 lần tăng và giảm) là 1 đại kiếp : đó là thuyết Trí độ luận. Cả 2 thuyết đồng nhau về số lượng của đại kiếp.

    Ðường ngăn bằng giây vàng là chỉ hay lề đường bằng vàng. Lưới giăng : kể cả các đường xoi hồi văn. Bảy thứ quí báu : kinh Di đà nói là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ xích châu, mã não (suvarna, rupya, vaidurya, sphatika, musara galva, rohita-mukta, asmagarbha).

    Thế giới hệ ấy có hai vị đại bồ tát, thứ nhất danh hiệu Nhật quang biến chiếu, thứ hai danh hiệu Nguyệt quang biến chiếu. Ðó là hai vị đứng đầu chúng bồ tát nhiều vô số lượng của thế giới hệ ấy, thứ lớp kế vị thành Phật, và cùng có khả năng nắm giữ kho tàng ngọc báu chánh pháp của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai. Thế nên, Mạn thù, những thiện nam hay thiện nữ có đức tin hãy nguyện sanh thế giới hệ của đức Phật ấy. 

    Thứ lớp kế vị thành Phật (thứ bổ Phật xứ), nghĩa đen : kế tiếp bổ vào chỗ Phật. Thứ bổ Phật xứ cũng gọi tắt là bổ xứ : bổ vào chỗ Phật. Lại hay thêm “nhất sanh bổ xứ”: một đời nữa là bổ vào chỗ Phật. Thêm bớt gì cũng chỉ một nghĩa : vị bồ tát chỉ  còn một đời nữa là thành Phật, thay vào chỗ  đức Phật của mình. Vị bồ tát như vậy gọi là bổ xứ bồ tát. Vì còn hệ thuộc một đời nên cũng gọi là nhất sanh sở hệ bồ tát. Như bổ xứ bồ tát của đức Thích ca là đức Di lạc, của đức Di đà là đức Quan âm, của đức Dược sư là đức Nhật quang (và sau đó là đức  Nguyệt quang).

    Nguyện sanh thế giới hệ của đức Phật ấy, chú ý : sanh, chứ không phải vãng sanh. Nói vãng sanh chỉ để dễ hiểu. Mười phương quốc độ đều duy Tâm sở hiện. Tâm uế thì sanh uế độ, Tâm tịnh thì sanh tịnh độ. Sanh nghĩa là hiện khởi, hiện hành.

    C2. nói về đại dụng của danh hiệu, có 5 D

    Ðại dụng ấy đâu phải chỉ năm ba việc. Sau đây chỉ là nói 5 việc làm điển hình mà thôi.

    D1. diệt sự tham lẫn mà được sự bố thí

    Lúc ấy, đức Thế tôn lại bảo Mạn thù đồng tử, Mạn thù, có những kẻ không nhận thức cái lẽ thiện ác, chỉ giữ thói tham lẫn mà không biết bố thí và phước báo bố thí. Ngu muội, không có trí tuệ, thiếu cả đức tin. Dồn chứa tài sản vàng ngọc cho nhiều, nỗ lực mà giữ. Thấy người xin đến, lòng họ không vui. Giả sử bất đắc dĩ mà bố thí, thì lúc đó đau tiếc sâu xa như cắt thịt mình. Lại còn lắm kẻ tham lẫn, dồn chứa tài sản, mà đối với bản thân của họ, họ còn không hưởng dụng, huống chi có thể đem cho cha mẹ, vợ con, tôi tớ, người làm hay kẻ đến xin. Những kẻ ấy, sinh mạng kết thúc ở đây thì sanh trong thế giới quỉ đói hay súc vật. Nhưng xưa kia, khi ở trong loài người, từng được thoáng nghe danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang như lai, nên ngày nay, dẫu ở trong ác đạo, vẫn thoáng nhớ danh hiệu của đức Như lai ấy, và ngay khi nhớ thì chết ở ác đạo mà sanh lại loài người, được sự nhớ đời trước nên sợ nỗi khổ ác đạo mà không ham dục lạc, thích bố thí và ca tụng người bố thí. Có gì cũng không tiếc. Dần dần tiếp theo, đầu mắt, tay chân, máu thịt, và những bộ phận khác của cơ thể, còn có thể đem cho người đến xin, huống chi những thứ tiền tài sản vật khác. 

     Người làm (tác sứ) : người làm việc cho mình, người của mình sai sử. Ngay khi nhớ thì chết ở ác đạo mà sanh lại loài người, được sự nhớ đời trước nên sợ nỗi khổ ác đạo mà không ham dục lạc, thích bố thí và ca tiếng người bố thí, đó là những hiệu quả tốt của sự nhớ lại danh hiệu Phật. Ở trong ác đạo mà nhớ lại được danh hiệu Phật mới khó. Nên chết liền ở ác đạo và nhớ đời trước ở đó chính là phước báo. Rồi dần dần có gì cho nấy, cho cả của ở trong là tư tưởng, sức lực, uy thế và cơ thể, thì đó là hành bồ tát đạo và cũng là hiệu quả của sự nhớ lại danh hiệu Phật. 

    D2. diệt sự phạm tội mà được sự giữ giới

    Mạn thù, có kẻ dầu thọ giới pháp với Như lai mà lại phá giới pháp ấy. Có kẻ không phá giới pháp mà phá qui tắc. Có kẻ đối với giới pháp và qui tắc tuy được sự không phá hoại, nhưng lại phá hoại chánh kiến. Có kẻ không phá hoại chánh kiến mà bỏ phế đa văn, nên đối với nghĩa lý sâu xa của kinh Phật nói không thể lý giải. Có kẻ tuy đa văn mà thượng mạn : vì thượng mạn úp che tâm trí nên cho mình phải, bảo người trái, ghét chê cả chánh pháp, làm bè đảng với ma. Những kẻ ngu si như vậy tự mình đã làm theo tà kiến, lại làm cho vô số người khác rơi xuống hố lớn nguy hiểm. Những kẻ ấy đáng lý trôi lăn vô cùng trong địa ngục, súc sanh và loài quỉ. Nhưng nếu được nghe danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang như lai, thì bỏ ngay tánh ác tu các pháp lành, và sẽ không sa vào các ác đạo. Giả sử có kẻ vẫn không thể bỏ ngay tánh ác, tu các pháp lành, và phải sa vào ác đạo đi nữa, thì nhờ uy lực đại nguyện của đúc Dược sư lưu ly quang như lai mà làm cho họ thoáng nghe được danh hiệu của ngài, sinh mạng kết thúc ở ác đạo, sanh lại trong loài người, được chánh kiến, tinh tiến, và ý thích khéo thuần hóa, nên thoát ly gia đình, đi đến phi gia đình, ở trong pháp Như lai mà thọ giới, giữ giới, không có phạm giới mà lại chánh kiến, đa văn, lý giải nghĩa lý cực kỳ sâu xa mà lại viễn ly thượng mạn, không chê chánh pháp, không làm bạn ma, dần dần tu hành các hạnh bồ tát và đầy đủ một cách mau chóng.

    Qui tắc cũng là giới luật mà gồm hết các phần uy nghi và “kiền độ”, nói tóm, là mọi qui định về tất cả sự tổ chức và sinh hoạt của hàng xuất gia. Thượng mạn = tăng thượng mạn, là sự kiêu ngạo cho mình đã được pháp tăng thượng. Ở đây là tự thị sự đa văn cho là đã thấu triệt. Ðáng lý trôi lăn vô cùng, đáng lý, nguyên văn là ưng, nghĩa đen : nên, phải, lẽ ra, đáng lý. Mà nói như vậy là gần như nói định nghiệp. Vậy mà nghe (và trì) danh hiệu Phật thì sự đáng lý ấy không còn nữa, chứn g tỏ diệu dụng của danh hiệu Phật thật lớn và mạnh. Nhờ uy lực đại nguyện của đức Dược sư lưu ly quang như lai mà làm cho họ thoáng nghe được danh hiệu của ngài, nên chú ý văn và nghĩa của câu “nhờ uy lực đại nguyện “… “Làm cho họ thoáng nghe” (linh kỳ hiện tiền tạm văn), đủ thì phải dịch : làm cho họ hiện tại thoáng nghe. Hiện tại đây là đang lúc sa vào ác đạo. Ði đến phi gia đình (thú ư phi gia) thấy có người dịch từ Paly là sống không gia đình. Làm bạn ma : làm bè đảng với ma. Ma đây là ma vương.

    D3. diệt sự ganh ghét mà được sự giải thoát

    Mạn thù, có những kẻ tham lẫn ganh ghét, tán tụng bản thân, công kích kẻ khác, nên sẽ sa vào ba ác đạo, nhiều lần ngàn năm chịu mọi sự khổ sở khốc liệt. Chịu khổ sở khốc liệt rồi,  sinh mạng kết thúc ở đó mà đến sanh trong loài người, thì làm trâu bò, lừa ngựa, lạc đà, thường bị đánh đập, đói khát hành hạ, lại luôn luôn mang nặng, chở nhiều, và đi theo đường phải đi ; hoặc được làm người thì sinh nơi hèn hạ, làm tôi tớ người, bị người sai sử, thường mất tự do. Nhưng nếu xưa kia, khi còn làm người, từng nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, thì do nhân lành ấy mà nay nhớ lại, chí tâm qui y, nhờ thần lực của Ngài mà thoát hết khổ sở, giác quan tinh nhuệ, trí tuệ đa văn, thường cầu thắng pháp, thường gặp thiện hữu, đứt hẳn lưới ma, đập vỏ vô minh, khô sông phiền não, giải thoát hết thảy sinh lão bịnh tử, lo buồn khổ não.

    Trâu bò (ngưu), Hoa văn thì trâu bò gì cũng là ngưu, phân biệt chăng là thủy ngưu hoàng ngưu mà thôi. Thắng pháp : chánh pháp hơn hết.

    D4. diệt sự hại nhau mà được sự thương nhau

    Mạn thù, có những kẻ tính thích chống đối, ly gián, đấu tranh, kiện tụng, gây bực tức và rối loạn cho bản thân và kẻ khác. Ðem cả thân thể, lời nói và ý nghĩ mà tạo ra và thêm lớn đủ thứ ác nghiệp. Gây mãi cho nhau những sự bất lợi để mưu hại lẫn nhau. Cáo triệu những vị thần rừng núi, cây cối mồ mả, giết sinh vật lấy máu huyết mà cúng tế dạ xoa, la sát, viết tên người mình oán, làm hình và ảnh của người ấy, đem chú thuật tàn ác mà thư, ếm phù chú, dùng thuốc độc, chú quỉ khởi thi –  dùng mọi cách này mà làm đứt sinh mạng người ấy, làm chết thân họ. Người ấy nếu được nghe danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang như lai, thì mọi việc dữ trên không cách nào hại được. Lại cùng kẻ kia, tất cả đôi bên đều nổi dậy từ tâm đối với nhau, làm lợi ích an lạc mà không còn ý thức thương tổn hay tâm lý ghét giận. Ðôi bên cùng vui đẹp. Ðối với những thứ mình hưởng thụ, ai cũng thích vừa đủ thì thôi, không muốn lấn nhau, chỉ làm lợi ích cho nhau.

    Gây mãi cho nhau những sự bất lợi để mưu hại lẫn nhau… (triển chuyển thường vi bất nhiêu ích sự, hỗ tương mưu hại) cũng có thể dịch : gây mãi cho nhau những sự bất lợi, mưu hại lẫn nhau, bằng cách… Dạ xoa (dược xoa = yaksha) một loại quỉ ăn thịt người, mạnh, nhanh, khó lường, ở trên mặt đất, trong không gian và trên chư thiên. La sát ( = raksasa) tên chung các ác quỉ, ăn uống máu thịt loài người, phi trong không hoặc đi trên đất, giống cái rất đẹp (và gọi là raksasi).

    Thuốc độc (cổ đạo) : đồ độc luyện có thuật, với ác ý. Chú quỉ khởi thi nghĩa là chú cho thây chết đứng dậy. Dùng chú Vetala tụng mà chú cho thây chết đứng dậy, bảo đi giết người, gọi là quỉ khởi thi (Phạn : krtya, Paly : kicca). Người ấy nếu được nghe danh hiệu…, người ấy là “người mình oán” ở trên, là người bị thù oán. Lại cùng kẻ kia…, kẻ kia là kẻ thù oán, kẻ đã dùng mọi cách mà hại người ở trên. Ðôi bên cùng vui đẹp (các các hoan duyệt) cũng có thể dịch nôm na là ai nấy đều vui vẻ. Thích vừa đủ thì thôi (hỷ túc = tri túc) dịch không thừa thì chỉ là thích đủ.

    D5. được sanh Cực lạc hay các sự chuyển sanh khác

    Mạn thù, trong bốn chúng tỷ kheo, tỷ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, và những thiện nam thiện nữ khác có đức tin thuần tịnh, nếu ai có khả năng thọ trì Bát quan trai giới, bằng cách hoặc cả năm hoặc ba tháng, thọ trì giới ấy. Rồi đem thiện căn này nguyện sanh thế giới hệ Cực lạc ở phía tây, chỗ A di đà phật, để được nghe chánh pháp của ngài, nhưng chưa quyết định. Nếu nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, thì đến khi sinh mạng kết thúc, có tám vị đại bồ tát danh hiệu Văn thù sư lợi bồ tát, Quan thế âm bồ tát, Ðắc đại thế bồ tát, Vô tận ý bồ tát, Bảo đàn hoa bồ tát, Dược vương bồ tát, Dược thượng bồ tát và Di lạc bồ tát, tám vị đại bồ tát này lướt không gian mà đến, chỉ đường cho người ấy. Tức thì người ấy tự nhiên hóa sinh trong hoa sen bằng các thứ ngọc, và đủ mọi màu sắc xen lẫn với nhau, của thế giới hệ Cực lạc.

    Cả năm (nhất niên) : trọn một năm, mỗi năm. Cả năm thọ trì Bát quan trai giới là mỗi tháng trong một năm thọ trì 6 ngày : 8, 14, 15, 23, 29, 30 (tháng thiếu thì lui lại các ngày 28, 29). Ba tháng là mỗi năm thọ trì Bát quan trai giới bằng cách chay tịnh 3 tháng : giêng, năm và chín.

    Danh hiệu 8 vị đại bồ tát là trích bản dịch 1 (Chính 21/533d) mà bổ túc. Danh hiệu ấy, Phạn tự như sau, trích tài liệu 9.

    Manjushri,
    Avalokitesvara,
    Maha srhama prapta,
    Akohayamati,
    Pouh thang tha (Hoa văn),
    Bhaishajyaraja,
    Bhaisajyasamudgata,
    Maitreya.

    Ðoạn này nói danh hiệu của đức Dược sư làm cho những người nguyện sanh Cực lạc được quyết định sanh thế giới hệ ấy. Ðoạn dưới đây nói danh hiệu của Ngài làm cho người sanh lên cõi trời, hoặc làm cho người chuyển nữ thành nam :

    Cũng có người nhờ sự ấy mà sanh lên cõi trời. Tuy sanh lên cõi trời, nhưng thiện căn xưa cũng chưa cùng tận, và không còn sanh lại tại các ác đạo. Mà sự sống lâu trên cõi trời chấm hết thì sanh lại trong nhân gian. Bằng cách hoặc sanh làm luân vương, thống nhiếp cả bốn đại châu, uy đức tự tại, xây dựng vô lượng trăm ngàn chúng sanh vào mười thiện nghiệp. Hoặc sanh vào dòng sát đế lợi, bà la môn, cư sĩ, đại gia, nhiều tiền tài, lắm vàng ngọc, kho bồ tràn đầy, thân hình và tướng mạo đều đẹp đẽ trang nghiêm, bà con và bạn bè cùng đầy đủ, trí tuệ thông minh, sức lực mạnh mẽ như đại lực sĩ. Nếu là phụ nữ mà được nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, nhất tâm thọ trì, thì về sau không còn chịu lại thân thể phụ nữ.

    Sự ấythiện căn xưa đều chỉ cho việc thọ trì Bát quan trai giới cả năm hay ba tháng nói trên. Ðại gia : gia đình thế tộc hoặc tôn xưng phụ nữ (đại gia = đại cô). Luân vương = chuyển luân vương. Luân vương có 7 thứ quí báu, nhưng quan trọng là bánh xe (luân). Luân vương có 4 : bánh vàng, bánh bạc, bánh đồng, bánh sắt. Luân vương có bánh xe vàng thì thống trị cả 4 đại châu : đông là Thắng thần châu, nam là Thiệm bộ châu, tây là Ngưu hóa châu, bắc là Câu lô châu. Các vị luân vương khác, bánh xe sắt chỉ thống trị 1 đại châu phía nam,  bánh xe đồng chỉ thống trị 2 đại châu phía nam và phía tây, còn bánh xe bạc chỉ thống trị 3 đại châu phía nam, phía tây và phía đông.

    Mười thiện nghiệp là đình chỉ 10 ác nghiệp :

    Thân        không sát sanh, không trộm cướp, không dâm dục,

    Miệng      không nói dối trá, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không nói thô ác,

    Ý             không tham lam, không sân hận, không tà kiến,

    C3. nói về đại dụng của chú

    Trọn phần này trích bản dịch 5) (Chính 14/414g) mà bổ túc.

    Mạn thù, khi đức Dược sư lưu ly quang như lai thành tựu tuệ giác vô thượng bồ đề, thì do năng lực đại nguyện xưa mà quán sát chúng sanh bị mọi bịnh khổ, như những bịnh gầy ốm, co quắp, tiêu khô, vàng nóng, hoặc bị trúng bùa ếm, thuốc độc, hoặc chết non, chết ngang trái. Muốn làm cho họ tiêu trừ những bịnh khổ ấy, sở cầu mãn nguyện, nên bấy giờ đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai nhập định danh hiệu Diệt trừ mọi khổ não của chúng sanh. Nhập định ấy rồi, từ trong nhục kế phóng ra ánh sáng lớn. Trong ánh sáng này diễn ra đà la ni vĩ đại sau đây : Nam mô, Bạc già phạt dế, bệ sát xã lũ rô – bệ lưu ly bát lạt bà – hát ra xà dã, đát tha yết đa dã, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha : Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ – bệ sát xã – tam một yết đế, sa ha. Khi trong ánh sáng diễn ra đà la ni vĩ đại ấy rồi, đại địa chấn động, phóng ánh sáng lớn, hết thảy chúng sanh bịnh khổ tiêu trừ, hưởng được cái vui yên ổn. Mạn thù, nếu thấy nam tử hay nữ nhân, ai bị bịnh khổ, thì nên nhất tâm vì bịnh nhân ấy mà luôn luôn tinh khiết, tắm rửa, súc miệng, rồi đem thực phẩm, dược phẩm, hay nước không có trùng, trì chú này một trăm lẻ tám biến, cho họ uống, ăn, thì bịnh khổ họ có tiêu tan tất cả. Nếu có cần gì, chí tâm tụng niệm thì cũng được như vậy, lại không bịnh, thêm tuổi và sau khi sinh mạng kết thúc thì sanh thế giới hệ của đức Dược sư lưu ly quang như lai, được sự không còn thoái chuyển cho đến tuệ giác bồ đề. Vì vậy, Mạn thù, nếu có nam tử nữ nhân nào đối với đức Dược sư lưu  ly quang như lai mà chí tâm, tha thiết, cung kính, cúng dường, thì hãy thường trì chú này, đừng để phế bỏ, quên mất.

     Trước hết, đây là mấy chỗ cần âm thích. Thuốc độc (cô độc = cô đạo) : coi lại trang 105. Chết ngang trái (hoạnh tử), hoạnh là phi lý, bất trắc, dữ dội ; hoạnh tử là chết không đáng, ngang trái, dữ dội hay bất trắc. Ðà la ni (dharani) dịch tổng trì, có nghĩa nắm giữ toàn thể. Ở đây, đà la ni là chú, 1 trong 4 đà la ni (văn, nghĩa, chú, nhẫn). Chú mà gọi đà la ni, vì chú do thiền định phát khởi và tổng trì vô lượng văn nghĩa, vô lượng công đức. Mật giáo còn nói, đà la ni dịch là minh (đà la ni do ánh sáng của Phật diễn ra) là chú (hiệu nghiệm như thần, diệt trừ tai họa) là mật ngữ (không thể hiểu nổi) là chân ngôn (lời nói chân thật của Phật). Luôn luôn tinh khiết, dịch luôn luôn là vì có bản chép chữ thường vào đây. Nhưng tuồng như không cần phải như vậy. Trừ trường hợp muốn như vậy.

    Bây giờ có 4 chi tiết quan trọng cần nói.

    Chi tiết thứ I, theo bản dịch 1 (Chính 21/536) thì tên 12 đại tướng Dạ xoa và chú này đều do Cứu thoát bồ tát nói. Xét văn ý xuất xứ trên, và văn ý của chú, thấy như vậy có lý hơn.

    Chi tiết thứ 2, sau đây là Phạn tự của chú, trích tài liệu 9, phần Anh văn, trang 11 : Namo bhagavate bhaishajyaguru vaiduryaprabha rajaya tathagataya arhate samyaksambuddhaya tadyatha. Om bhaishajye bhaishajye bhaishajya samudgate svaha.

    Chi tiết thứ 3, Vạn 35/189a nói, Nam mô (namo) dịch qui y. Bạc già phạt đế  (bhaigavate) dịch thế tôn. Bệ sát xã lũ rô (bhaishajyaguru) dịch Dược sư. Bệ lưu ly bát lạt bà – hát ra xà dã (vaiduryaprabha-rajaya) dịch âm và nghĩa là lưu ly quang. Ðát tha yết da dã (tathagataya) dịch như lai. A ra hát đế (arhate) dịch ứng cúng. Tam miệu tam bột đà da (samyaksambuddhaya) dịch chánh biến tri. Ðát diệt tha (tadyatha) dịch tức thuyết chú viết. Liên lạc lại, có nghĩa : Qui kính đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng, chánh biến tri, nói chú như sau. Từ chữ Án đến chữ sa ha mới là chú, mật ngữ.

    Chi tiết thứ 4, tôi cắt in ảnh nơi 2 trang phụ sau đây : a. nguyên Phạn tự cổ của chú này (và 1 câu tiểu

     
    chú), cắt Vạn 35/196a ; b. nguyên Phạn tự cổ, và một lối dịch âm khác, của chú này, cắt Chính 19/21

    C4. nói về đại dụng của sự phụng trì, có 3 D

    Ðại dụng này cũng không phải chỉ năm ba việc. Sau đây chỉ là nói điển hình mà thôi.

    D1. Phật dạy tổng quát và ngài Văn thù phát nguyện

    Mạn thù, nếu nam tử hay nữ nhân có đức tin thuần tịnh, được nghe danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng, chánh biến tri, nghe rồi trì niệm. Sáng sớm đánh răng, tắm rửa, súc miệng sạch sẽ, đem các thứ hương hoa, trong đó có hương đốt, hương xoa, và diễn tấu kỹ nhạc mà cúng dường hình tượng của ngài. Ðối với kinh này, hoặc tự chép, hoặc bảo người chép, nhất tâm thọ trì, nghe học nghĩa lý. Ðối với pháp sư giảng giải kinh này, cũng nên cúng dường, mọi đồ giúp sống thân thể mà mình có, hãy cúng dường đầy đủ, đừng để vị ấy thiếu thốn. Như vậy thì được chư Phật hộ niệm, sở cầu mãn nguyện, cho đến thực hiện tuệ giác bồ đề.

    Lời này, cũng như trọn C3 ở trên, vẫn trích Chính 14/414d, nhưng đã đổi những chữ “bảy đức Phật như trên” (như thượng thất Phật) thành những chữ “đức Dược sư lưu ly quang” (Dược sư lưu ly quang). Lời này chỉ tài liệu 4 (bản dịch 5) có.

    Lời này Phật dạy tổng quát về sự cúng dường hình tượng đức Dược sư, cúng dường kinh Dược sư, và cúng dường pháp sư giảng dạy kinh ấy. Ích lợi của sự cúng dường như trên là được chư Phật hộ niệm. Hộ niệm : gia hộ, tưởng nhớ, truyền cảm hứng. Ðược chư Phật hộ niệm nên cầu gì được nấy, cho đến thực hiện tuệ giác bồ đề (nghĩa là thành Phật). Tuệ giác bồ đề, chữ tuệ giác là thêm cho dễ hiểu, thật ra chính bồ đề là tuệ giác. Nhưng nói bồ đề chỉ là nói tắt A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.

    Trong lời trên, còn nên chú ý câu diễn tấu kỹ nhạc (tác chúng kỹ nhạc). Cứ như chỗ tôi hiểu, thì tác chúng kỹ nhạc có 2 nghĩa hẹp và rộng. Hẹp thì chỉ có nghĩa hòa tấu các nhạc khí. Rộng thì có nghĩa biểu diễn các kỹ thuật, trong đó có sự hòa tấu nhạc khí.

    Lúc ấy Mạn thù đồng tử bạch Phật, bạch đức Thế tôn, con nguyện khi thời kỳ Phật pháp tương tự xuất hiện, thì dùng mọi cách làm cho những thiện nam hay thiện nữ có đức tin thanh tịnh được nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai. Cho đến trong lúc ngủ, con cũng đem danh hiệu Ngài thức tỉnh thính giác của họ. Bạch đức Thế tôn, đối với kinh này thì thọ trì đọc tụng hay tuyên thuyết khai thị cho người, tự chép hay bảo người chép, cung kính tôn trọng, đem hiến cúng những thứ hương hoa, hương xoa, hương vụn, hương đốt, vòng hoa, chuỗi ngọc, tràng phan, bảo cái, và kỹ thuật biểu diễn, trong đó có âm nhạc. Lấy tơ lụa có năm màu sắc làm bao mà đựng. Quét rưới chỗ thanh tịnh, trần thiết dá cao mà để. Thì khi ấy bốn đại thiên vương, cùng tùy thuộc của họ, và vô số trăm ngàn thiên chúng, đều đến chỗ đó mà cúng dường, hộ vệ. Bạch đức Thế tôn, những chỗ kinh bảo này lưu hành, có ai thọ trì được, thì vì bản nguyện, công đức, và danh hiệu được nghe, của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, mà nên biết chỗ ấy không còn chết ngang trái, không còn bị những quỉ thần ác đoạt mất tinh chất. Ðã bị đoạt thì được lại như cũ, thân tâm an lạc.

    Khi thời kỳ Phật pháp tương tự xuất hiện, là khi tượng pháp xuất hiện. Nhưng tra các bản dịch, câu này khác nhau như sau : Bản dịch 1 “Phật khứ thế hậu’ (Chính 21/533d), bản dịch 3 “hậu thời” (Chính 14/403t) ; bản dịch 5 “mạt pháp” (Chính 14/4 14d). Sở dĩ tôi quan tâm và tra kỹ, vì như trước tôi đã nói, tôi không tin kinh này chỉ nói cho người tượng pháp.

    Dá cao (cao tòa) tòa là cái dá, cái ghế hay bàn. Bốn đại thiên vương : đông là Trì quốc (Dhritarastra), nam là Tăng trưởng (Virudhaka), tây là Quảng mục (Virupaksa), bắc là Ða văn (Dhanada hay Vaisramana) ; 4 vị này hộ vệ 4 đại châu loài người nên gọi là 4 thiên vương hộ thế (hộ vệ thế gian). Tinh chất (tinh khí), tài liệu 9 (Anh văn, trang 13) và Pđ 2511t đều có ý nói là khí lực tinh thần của con người. Tôi cho chữ này chỉ có nghĩa đen thông thường, nghĩa là nói về tinh khí thật. Nhưng, để bớt thô, tôi đã đổi tinh khí ra tinh chất. Còn muốn hiểu chữ tinh khí với nghĩa rộng thì như Pđ 349d dẫn kinh Ðại tập 52 nói, tinh khí có 3, là của đất, của chúng sanh và của pháp ; 3 thứ này được tăng trưởng bởi sự dưỡng dục Phật pháp, xí nhiên Tam bảo chủng cho tồn tại lâu dài ở thế gian.

    D2. Phật chỉ cách thức và nói ích lợi

    Phật dạy, Mạn thù, đúng như vậy, đúng như ông nói. Mạn thù, nếu có thiện nam thiện nữ đức tin thuần tịnh, muốn cúng dường đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, thì trước hết, hãy tạo lập hình tượng của ngài, trần thiết tòa thanh tịnh mà đặt để. Rãi các thứ hoa, đốt các thứ hương, đem các thứ tràng phan mà trang hoàng chỗ ấy. Bảy ngày đêm thọ Bát quan trai giới, ăn đồ ăn thanh tịnh. Tắm gội cho sạch và thơm, mặc y phục sạch sẽ. Nên phát sanh tâm không dơ bẩn, tâm không giận dữ tác hại. Nghĩa là đối với hết thảy chúng sanh khởi lên cái tâm lợi ích an lạc, từ bi hỷ xả và bình đẳng. Rồi tấu nhạc và ca tụng, nhiễu quanh tượng phật Dược sư lưu ly quang như lai theo chiều hướng bên phải. Lại nên tưởng niệm bản nguyện và công đức của đức Như lai ấy, đọc tụng kinh này, tư duy nghĩa ý và diễn giảng khai thị. Như vậy thì mọi sở cầu đều toại ý : cầu sống lâu được sống lâu, cầu giàu có được giàu có, cầu quan chức được quan chức, cầu con trai được con trai, cầu con gái được con gái.

    Cách thức phụng thờ tượng và thọ trì kinh của đức Dược sư mà đoạn này chỉ, ngoài hình thức cần có, còn có sự thọ trì Bát quan trai giới, và khởi tâm từ bi lợi ích đối với toàn thể. Như vậy có nghĩa mọi việc phải xuất từ tâm lý vị tha. Còn lợi ích thực hiện được thì có 2 phần : phần được phước (đoạn này nói) và phần khỏi nạn (đoạn sau nói). Phần được phước thì phúc lộc thọ đủ cả. Lại rất nên thêm sự cầu nguyện làm thành việc đáng làm, “cầu làm thành việc gì thì làm thành việc ấy”.

    D3. Phật nói ích lợi trong sự khỏi nạn

    Nếu ai bỗng nhiên bị ác mộng, thấy đủ cảnh tượng khủng khiếp, hoặc bị những giống chim quái dị đến tập hợp lại, hoặc chỗ ở có cả trăm sự quái dị xuất hiện, kẻ ấy nếu đem những đồ tuyệt diệu cung kính cúng dường đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, thì những ác mộng và những cảnh tượng khủng khiếp, những sự không cát tường, ẩn mất tất cả, không thể tác hại. Nếu ai bị những sự hãi sợ như thủy tai, hỏa hoạn, khí giới, độc chất, chơi vơi giữa chừng, sa xuống chỗ hiểm, voi dữ, sư tử, cọp, sói, gấu, bi, rắn độc, bò cạp, rít, sâu, muỗi, nhặng, mà chí tâm tưởng niệm được đức phật Dược sư lưu ly quang như lai, cung kính cúng dường, thì mọi sự hãi sợ đều thoát được cả. Nếu ai bị nước khác xâm lăng, quấy nhiễu, nội bộ trộm cướp phản loạn, tưởng niệm cung kính đức Như lai ấy, cũng thoát hết thảy.

    Ðoạn này khỏi 3 tai nạn : mọi sự quái dị, mọi sự hãi sợ và quốc gia bất an. Sau đây có vài chỗ cần âm thích. Ðộc chất (độc) cũng bao gồm độc khí. Sâu (do diên) – Thereuonema tuberculata. Nước khác xâm lăng quấy nhiễu, không những đối với lãnh thổ mà còn đối với chính trị, văn hóa và kinh tế (TH 28/2372).

    Mạn thù, nếu có thiện nam thiện nữ đức tin thuần tịnh, cho đến hết đời, không thờ vị trời nào khác, chỉ nhất tâm qui y Phật Pháp Tăng, thọ trì giới pháp, như năm giới, mười giới, bốn trăm giới của bồ tát, hai trăm năm mươi giới của tỷ kheo, năm trăm giới của tỷ kheo ni. Nhưng đối với giới pháp của họ thọ trì, hoặc có kẻ phá phạm nên sợ đọa lạc ác đạo. Nếu biết chuyên tâm trì niệm danh hiệu đức phật Dược sư lưu ly quang như lai, cung kính cúng dường, thì quyết chắc không phải lãnh chịu đời sống trong ba ác đạo.

    Ðây là khỏi tai nạn đọa lạc ác đạo nếu phạm giới. Nhưng phạm giới mà biết sợ đọa lạc ác đạo nên trì niệm danh hiệu đức Dược sư, mới khỏi tai nạn ấy. Còn không biết sợ hay vẫn tái phạm mãi thì lại khác.

    Nếu có nữ nhân nào, lúc gần sinh sản, chịu đựng đau dớn cùng cực, mà biết chí tâm trì niệm danh hiệu, lễ bái, ca tụng, cung kính, cúng dường đức Như lai ấy, thì mọi nỗi đau đớn tan biến tất cả. Ðứa con sinh ra, mọi bộ phận của thân hình đều hoàn bị, sắc tướng của thân hình ấy đẹp và nghiêm, ai thấy cũng hoan hỷ, giác quan tinh nhuệ, trí tuệ thông minh, yên ổn, ít bịnh, không có một kẻ không phải người đoạt mất tinh chất của đứa con ấy.

    Ðây là khỏi sản nạn. Mẹ đã khỏi nạn mà con sinh ra cũng hoàn hảo. Kẻ không phải người (phi nhân) là những loài không phải loài người.

    C5. nói là chỗ hiểu biết sâu xa của Phật

    Lúc ấy đức Thế tôn bảo tôn giả A nan, công đức mà đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai có, mà Như lai đã ca tụng, là chỗ hiểu biết cực kỳ sâu xa của chư Phật, khó mà lý giải, ông tin được không? Tôn giả A nan bạch Phật, bạch đức Thế tôn uy đức cao cả, đối với khế kinh Ngài dạy, con không sinh tâm nghi ngờ. Tại sao, vì thân thể, lời nói và ý nghĩ của các đức Như lai, không động tác nào mà không thanh tịnh. Bạch đức Thế tôn, vầng nhật nguyệt kia có thể làm cho rơi rụng, và Tu di, hòn núi chúa tể trong các hòn núi, cũng có thể làm cho nghiêng đổ, nhưng lời nói của chư Phật thì không thể làm cho khác đi được. Tuy nhiên, bạch đức Thế tôn, có những kẻ đức tin không đủ, nghe nói chỗ hiểu biết cực kỳ sâu xa của chư Phật thì nghĩ, tại sao chỉ trì niệm một danh hiệu Phật của đức Dược sư lưu ly quang như lai mà thu hoạch bao nhiêu công đức và ích lợi vượt bậc như vậy. Vì sự không tin này mà quay lại phỉ báng. Những kẻ ấy suốt đêm trường mất lợi lạc lớn, đọa lạc ác đạo, trôi lăn không cùng. Phật dạy tôn giả A nan, những kẻ ấy nếu nghe dược danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, chí tâm thọ trì, không sinh nghi hoặc, mà vẫn đọa lạc ác đạo là điều không có. A nan, đó là chỗ hiểu biết cực kỳ sâu xa của chư Phật, khó thể tin và hiểu. Nay ông tiếp nhận được, phải biết toàn là do uy lực Như lai. A nan, hết thảy Thanh văn, Ðộc giác, và các vị Bồ tát chưa bước lên thập địa, đều không thể tin và hiểu một cách đúng như sự thực, chỉ trừ các vị Bồ tát còn hệ thuộc một đời mà thôi. A nan, thân thể loài người khó mà có được, sự tin tưởng tôn kính Tam bảo càng khó mà có dược, nhưng nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai lại khó được hơn những sự khó được ấy. A nan, vô lượng bồ tát hạnh, vô lượng thiện phương tiện, và vô lượng quảng đại nguyện, của đức Dược sư lưu ly quang như lai, trong một đại kiếp hay hơn một đại kiếp, Như lai nói một cách đầy đủ, thì đại kiếp ấy có thể kết thúc mau chóng, còn hạnh nguyện và phương tiện của đức Phật này vẫn không cùng tận.

    Kết thúc kinh Di đà, đức Phật nói như sau, “Xá lợi phất, như ta bây giờ xưng tụng công đức bất khả tư nghị của chư Phật, thì chư Phật ấy cũng xưng tụng công đức bất khả tư nghị của ta, bằng cách nói rằng, đức phật Thích ca mâu ni làm được cái việc rất khó, hiếm có, là có thể ở trong thời kỳ dữ dội của quốc độ Sa bà, thời kỳ đầy cả 5 thứ vẩn đục là thời kỳ vẩn đục, kiến thức vẩn đục, tâm lý vẩn đục, con người vẩn đục và đời sống vẩn đục, mà thực hiện tuệ giác vô thượng bồ đề, lại còn vì mọi người nói cái pháp mà toàn thể thế gian khó tin này. Xá lợi phất, ông nên biết ta đã ở trong thời kỳ dữ dội đầy cả 5 thứ vẩn đục mà làm việc khó làm, ấy là thực hiện tuệ giác vô thượng, lại vì toàn thể thế gian nói cái pháp khó tin này, thì đó là việc rất khó”. Hãy đối chiếu đoạn văn này với đoạn văn trên, cũng thấy phần nào tình ý của Phật.

    Chỗ hiểu biết cực kỳ sâu xa của chư Phật (chư Phật thậm thâm hành xứ), bản dịch 3 (Chính 14/403g) và bản dịch 5 (Chính 14/415g) đều dịch “thậm thâm cảnh giới”. Vậy hành xứ = cảnh giới. Ngài Thái hư nói, hành xứ có 2 nghĩa : một, hành xứ là chỗ biết của phật ; hai, hành xứ là chỗ làm của Phật (TH 28/2376). Ở đây, công đức của đức Dược sư, trong đó có ích lợi mà danh hiệu của ngài đem lại cho chúng sanh, là chỗ chỉ Phật làm và Phật biết, nên gọi là “thậm thâm hành xứ”. Hành xứ tuy có đủ 2 nghĩa như vậy, nhưng nghĩa sau dễ hiểu nên tôi đã dịch “chỗ hiểu biết”.

    Ðêm trường (trường dạ) : thì gian dài. Ở đây chỉ cho cảnh giới sanh tử : vừa dài dặc vừa tối tăm (vì vô minh mà thiếu cả chánh tín). Bồ tát còn hệ thuộc một đời mà thôi (nhất sanh sở hệ bồ tát) coi âm thích “thứ lớp kế vị thành Phật”, trang 102. Nhưng 1 đời có 2 : (a) các vị đẳng giác bồ tát chỉ còn 1 đời ứng thân nữa là thành Phật, mới thật là 1 đời ; (b) các vị thập địa bồ tát tuệ mạng báo thân liên tục, không còn phân đoạn sanh tử, nên cũng có thể gọi là 1 đời. Thiện phương tiện = thiện xảo phương tiện.

    C6. nói cách tiêu tai diên thọ, có 5 D
    D1. chỉ cách tiêu tai diên thọ

    Lúc ấy trong chúng hội có một vị đại sĩ danh hiệu Cứu thoát, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trần vai áo bên phải, gối bên phải quì xuống sát đất, cong mình, chắp tay mà bạch Phật, bạch đức Thế tôn uy đức cao cả, khi thời kỳ Phật pháp tương tự xuất hiện, có những kẻ bị mọi thứ bịnh hoạn làm cho nguy khốn. Bịnh mãi, gầy ốm, ăn uống không được, cổ và môi đều khô nóng. Nhìn mọi phía đều đen tối. Tướng chết xuất hiện. Cha mẹ, anh em, bà con, bạn bè, quen biết, khóc lóc vây quanh. Nhưng bản thân bịnh nhân thì tuy vẫn nằm chỗ của mình, mà lại thấy sứ giả Diêm vương dẫn thần thức của mình đến trước vị vua chấp pháp này. Nguyên mọi ngưòí đều có vị thần cùng sanh, tùy việc họ làm, tội cũng như phước, ghi chép đầy đủ, và bấy giờ trao cả cho Diêm vương. Diêm vương tra hỏi kẻ ấy, tính việc họ làm, tùy tội và phước mà xử phán. Chính trong lúc này, thân thuộc hay quen biết của bịnh nhân, nếu biết vì họ mà qui y đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, cung thỉnh chư Tăng đọc tụng kinh này, đốt cây đèn bảy tầng, treo phan thần “tiếp nối mạng sống” bằng năm màu. Thì hoặc có kẻ nơi đây thần thức về được, và như trong chiêm bao, tự thấy rõ ràng. Hoặc trải qua bảy ngày, hoặc hai mươi mốt ngày, hoặc ba mươi lăm ngày, hoặc bốn mươi chín ngày, khi thần thức về được thì như từ chiêm bao thức dậy, tự nhớ biết tất cả quả báo của thiện nghiệp ác nghiệp. Nhờ tự chứng kiến nghiệp báo, nên đến nỗi gặp phải tai nạn cho sinh mạng, cũng không tạo tác ác nghiệp. Vì vậy, những thiện nam thiện nữ đức tin thuần tịnh, hãy thọ trì danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang như lai, tùy sức có thể mà cung kính cúng dường.

    Thời kỳ Phật pháp tương tự (Tượng pháp) chỉ bản dịch 5 cũng dùng chữ này (Chính 14/415g), còn bản dịch 1 không dùng chữ gì (Chính 21/535g), bản dịch 3 dùng chữ “vị lai thế” (Chính 14/403d). Nhìn mọi phía đều đen tối (kiến chư phương ám) là tả hiện tượng sắp chết, mà là cái chết đọa lạc ác đạo. Diêm vương (Diệm ma pháp vương = Yama-raja) dịch nghĩa là Phược : trói buộc tội nhân, Bình đẳng vương : bình đẳng trị tội. Diêm vương là tổng quản địa ngục. Sứ giả Diêm vương (Diệm ma sứ) là lính quỉ mà Diêm vương sai bắt dẫn những kẻ làm ác. Khác với thiên sứ của Diêm vương, thiên sứ ấy là các sự già bịnh và chết. Vị vua chấp pháp (Diệm ma pháp vương) là Diêm vương : Diêm vương chấp chưởng pháp quyền ở địa ngục, nên gọi như vậy.

    Thần thức : nghiệp thức và trung hữu. Vị thần cùng sanh (câu sanh thần) : thần năm tháng ngày giờ sinh hay bản thức. Bản thức là tổng thể dị thục, lại tiếp nhận huân tập và chấp trì chủng tử của nghiệp, nên gọi là thần câu sanh. Vạn 35/177a nói, do nghiệp lực mà ý thức bịnh nhân hiện 4 tướng : sứ giả Diêm vương, thần thức của mình, Diêm vương và thần cùng sanh. Có kẻ nơi đây (hoặc hữu thị xứ), thị xứ (nơi đây) là ngay nơi cái lúc làm phước đây, do người thân làm cho bịnh nhân sắp chết. Thần thức về được (bỉ thức đắc hoàn) : sinh mạng là bản thức liên tục chấp trì, chết là ý thức hết khởi phân biệt, sống là ý thức lại khởi phân biệt. Về hay không về, chỉ có nghĩa ý thức tái tục phân biệt hay gián đoạn phân biệt. Nhưng bản thức biến nhất thế xứ. Chết chỗ này sanh chỗ kia là “tiền dị thục ký tận, phục sanh dư dị thục”. Không làm gì có sự đi, về, qua, lại (TH 28/2388). Như trong chiêm bao, tự thấy rõ ràng, là tự thấy rõ ràng như thấy trong chiêm bao. Tự thấy rõ ràng là tự thấy rõ những hình phạt mình bị phán chịu ở địa ngục, lại càng tự thấy rõ người thân làm phước cho mình. Sự tự thấy này, cũng như sự tự nhớ của những người mới chết 7 đến 49 ngày, và tự thấy tự nhớ rồi dẫu nguy đến tánh mạng cũng không dám làm ác, toàn là do thần lực của đức Dược sư.

    D2. chỉ thêm cách tiêu tai diên thọ, đặc biệt tiêu bịnh khổ

    Lúc ấy tôn giả A nan hỏi bồ tát Cứu thoát, thiện nam tử, nên bằng cách nào cung kính cúng dường đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai ? Phan và đèn “tiếp nối mạng sống” nên làm cách nào ? Bồ tát Cứu thoát nói, đại đức, nếu bịnh nhân muốn thoát bịnh khổ, nên vì họ mà bảy ngày đêm thọ trì Bát quan trai giới. Nên đem đồ ăn, đồ uống và đồ dùng, tùy sức liệu biện mà cúng dường Tỷ kheo tăng. Ngày đêm sáu buổi lễ bái cúng dường đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai. Ðọc tụng kinh này bốn mươi chín biến. Ðốt bốn mươi chín ngọn đèn. Tạo hình tượng đức Như lai ấy bảy vị. Trước mỗi hình tượng để bảy ngọn đèn, cái lượng mỗi ngọn đèn lớn như bánh xe. Và đến bốn mươi chín ngày đêm, ánh sáng không dứt. Còn làm phan năm màu thì dài bốn mươi chín gang tay. Nên phóng sanh đến bốn mươi chín giống khác nhau. Như vậy thì có thể qua được tai nạn nguy khốn, không bị mọi thứ ngang trái và quỉ dữ tác hại.

    Gom các đoạn trước và đoạn này nữa, cách thức tiêu tai diên thọ có cái mà ngày nay gọi là đàn Dược sư. Ðàn này gồm có 2 phần chính là phan và đèn. Phan bằng vải 5 màu, dài 49 gang. Ðèn có 7 tầng, mỗi tầng thiết 1 hình tượng đức Dược sư và đốt 7 ngọn đèn càng lớn càng tốt(43). Thì gian là 49 ngày đêm, treo phan, đốt đèn, lạy tượng Dược sư mỗi ngày đêm 6 lần cách đều, trì kinh Dược sư 49 ngày đêm mỗi ngày đêm 1 biến. Thân thì tắm rửa sạch sẽ, mặc đồ sạch (và mới càng tốt). Miệng thì súc rửa sạch sẽ, ăn uống đồ thanh tịnh (nhất là nói càng phải thanh tịnh). Ý thì phát khởi từ bi, muốn ích lợi cho tất cả một cách bình đẳng. Trong thì gian 49 ngày làm đàn Dược sư như vậy còn làm 3 việc nữa : thọ trì Bát quan trai giới, tùy sức cúng dường Tỷ kheo tăng, và phóng sanh đến 49 loại (mỗi loại 49 con, hay 49 ngày đêm phóng sanh 1 lần).

    Sau đây là mấy chỗ cần âm thích. Ngày đêm sáu buổi lễ bái cúng dường đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, hãy chú ý chữ lễ bái cúng dường : nhiều lúc nghĩa là lễ bái và cúng dường, nhiều lúc nghĩa là đem sự lễ bái mà cúng dường. Ở đây có cả hai nghĩa. Phóng sanh : phóng thả sinh vật, tiếng tắt của từ ngữ phóng tạp loại chúng sanh (hay phóng chư sinh mạng). Phóng sanh đến 49 loại khác nhau (phóng tạp loại chúng sanh chi tứ thập cửu), sát thì phải dịch : phóng thả sinh vật nhiều loại lẫn lộn đến 49 thứ. Ngang trái (hoạnh) hoạnh là họa hoạnh : tai họa phi lý, bất trắc, dữ dội.

    D3. lại còn tiêu quốc nạn

    Ðại đức A nan, nếu giai cấp Sát đế lợi các vị vua đã làm lễ quán đảnh, khi tai nạn nổi dậy, như dân chúng bịnh dịch, nước khác lấn ép, nước mình phản nghịch, tinh tú quái dị, nhật thực nguyệt thực, gió mưa trái thì, quá thì không mưa, thì giai cấp Sát đế lợi, các vị vua đã làm lễ quán đảnh, lúc ấy, hãy phát khởi tâm từ bi đối với tất cả chúng sanh, ân xá những người bị giam bị nhốt, và theo cách cúng dường tôi  đã nói trên mà cúng dường đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai. Nhờ thiện căn như vậy, và nhờ năng lực bản nguyện của đức Như lai ấy, mà làm cho quốc độ của họ tức khắc yên ổn, gió mưa điều hòa, lúa má thành thục, mọi người vô bịnh, vui vẻ. Trong quốc độ của họ không có những loại thần Dạ xoa bạo ác, tác hại chúng sanh. Mọi hiện tượng dữ ẩn mất tất cả và tức thì. Còn giai cấp Sát đế lợi, và những vị vua đã làm lễ quán đảnh, thì sự sống, tướng tốt, sức mạnh, vô bịnh và tự do, đều dược tăng thêm. Nếu hoàng hậu, hoàng phi, đông cung, vương tử, đại thần, phụ chánh, thể nữ, bách quan và dân chúng, bị bịnh làm khổ, và bị những tai nạn khác, cũng nên làm phan thần năm màu và đốt đèn sáng liên tục, phóng các loại có sinh mạng, rải những bông hoa đủ màu, đốt những hương thơm nổi tiếng, thì bịnh hết, nạn khỏi.

    Sát đế lợi = Kshatriya, là điền chủ, vương chủng ; giai cấp võ sĩ, 1 trong 4 giai cấp của xã hội Ấn thời cổ, làm vua và đại thần. Vua đã làm lễ quán đảnh, quán đảnh, nghĩa đen là rưới nước lên đỉnh đầu. Nước này lấy ở sông biển 4 hướng, ý chúc thống trị 4 phương thiên hạ. Làm lễ quán đảnh là như ngày nay làm lễ da miện. Giai cấp Sát đế lợi, các vị vua đã làm lễ quán đảnh (Sát đế lợi quán đảnh vương đẳng), rất nên hiệu và dịch là vị vua đã làm lễ quán đảnh thuộc giai cấp Sát đế lợi. Cách cúng dường đã nói trên là cách vừa nói ở đoạn trên đoạn này. Nhờ thiện căn như vậy và nhờ năng lực bản nguyện của đức Như lai ấy, câu này đáng lý đoạn nào cũng phải có. Mọi sự tiêu tai diên thọ và mọi sở cầu sở nguyện mà được thực hiện, là nhờ tự lực được tha lực gia hộ (như câu này nói).

    Phụ chánh (phụ tướng) theo TH 28/2394 thì là tả phụ hữu bật, đứng đầu quần thần. Tài liệu 9 (Anh văn, trang 18, dòng 24) dịch là tham nghị viên hay cố vấn của triều đình. Thể nữ (trung cung thể nữ), trung cung là hoàng hậu, trung cung thể nữ là thể nữ của hoàng hậu. Tài liệu 9 (Anh văn, trang 18 dòng 26) dịch là các vị phu nhân thân cận hoàng hậu. Bách quan, quan chức tỉnh vùng. Phóng các loại có sinh mạng (phóng chư sinh mạng) là phóng sanh. Các loại có sinh mạng là chúng sanh (ở đây là các loại sinh vật).

    D4. tiêu bất định nghiệp

    Lúc ấy tôn giả A nan lại hỏi bồ tát Cứu thoát, thiện nam tử, tại sao mạng sống đã hết mà có thể làm cho tăng thêm ? Bồ tát Cứu thoát nói, đại đức, ngài không nghe đức Thế tôn nói có chín sự chết ngang trái hay sao? Vì chín  sự chết này mà tôi khuyên làm phan và đèn ” tiếp nối mạng sống”, tu các phước đức. Nhờ tu các phước đức mà trọn đời không trải qua một cơn đau đớn hoạn nạn nào cả. Tôn giả A nan hỏi, chín sự chết ngang trái là gì? Bồ tát Cứu thoát nói, có kẻ bị bịnh tuy nhẹ, nhưng không thầy, không thuốc, không ai coi sóc. Gặp thầy thì lại bị cho thuốc không đúng, nên thật không đáng chết mà chết một cách ngang trái. Lại tin thầy bà yêu nghiệt của tà ma ngoại đạo thuộc phạm vi  thế gian nói vớ vẩn về họa phước, nên đâm ra sợ hãi dao động. Tâm thì không tự chánh nó lại, lại đi bói hỏi để tìm lấy tai họa. Giết hại sinh vật mà giải tấu thần minh, vái yêu quái để xin làm phước giúp đỡ, mong muốn thêm tuổi nhưng chung cục không thể  đạt dược. Ngu si mê lầm, tin theo cái thấy cong và ngược, nên làm chết mình một cách ngang trái, nhập vào ñịa ngục, không có kỳ hạn thoát ra. Ðó là sự chết ngang trái thứ nhất. Thứ hai, một cách ngang trái bị phép vua giết. Thứ ba, săn bắn, chơi bời, đam mê tửu sắc, phóng túng vô độ, một cách ngang trái bị những kẻ không phải người đoạt mất tinh chất. Thứ tư, một cách ngang trái bị lửa đốt. Thứ năm, một cách ngang trái bị nước chìm. Thứ sáu, một cách ngang trái bị các giống thú dữ ăn. Thứ bảy, một cách ngang trái rơi xuống sườn núi. Thứ tám, một cách ngang trái trúng chết bởi thuốc độc, ếm vái, chú thư, quỉ khởi thi. Thứ chín, chết một cách ngang trái vì đói khát nguy khốn, không được đồ ăn thức uống. Ðó là sự chết ngang trái mà đức Thế tôn nói vắn tắt có chín thứ như vậy. Ngoài ra còn có vô số những sự ngang trái khác, khó nói cho đủ.

    Tu các phước đức là thọ trì Bát quan trai giới, tùy sức cúng dường Tỷ kheo tăng, và phóng sanh đến 49 loại. Tâm thì không tự chánh nó lại, lại đi bói hỏi để tìm lấy tai họa (tâm bất tự chánh, bốc vấn mích họa), bản dịch 1 (Chính 21/535d) dịch “tâm bất tự chánh, bất năng tự định, bốc vấn mích họa” (tâm không tự chánh, không thể tự định, đi bói hỏi mà tìm lấy tai họa). Giải tấu : giải bày, tâu thưa. Cái thấy cong và ngược (tà đảo kiến) là tà kiến.

    D5. tiêu cả định nghiệp

    Ðại đức A nan, Diêm vương lãnh xét sự ghi chép về sách tịch của thế gian. Ai bất hiếu cha mẹ, làm năm tội nghịch, hủy nhục Tam bảo, phá phép vua tôi, làm hỏng tánh giới, thì Diêm vương theo tội nặng nhẹ xét mà phạt. Vì lý do ấy, nay tôi khuyến cáo mọi người đốt đèn, treo phan, phóng sanh, tu phước, làm cho họ qua khỏi khốn khổ, không gặp mọi sự hoạn nạn.

    Ghi chép về sách tịch thế gian là ghi tội phước như trước đã nói. Tánh giới: giới năng. Nhưng tất cả bản chính đều chép “tín giới”, nghĩa là chánh tín và tịnh giới. Làm hỏng tín giới là tà kiến và phạm giới, là phá kiến và phá giới. Treo phan (tạo phan), tạo là chế tạo, bày ra, dựng lên. Ở đây nên hiểu là treo, dựng. Tu phước : như đã nói (trang 118) có 3, nay phóng sanh kể rồi thì còn 2, là cúng dường Tỷ kheo tăng và thọ trì Bát quan trai giới.

    C7. nói sự hộ vệ của Dạ xoa.

    Lúc ấy trong chúng hội có mười hai  vị đại tướng Dạ xoa, cùng có mặt ở  đó, là đại tướng Cung tỳ la, đại tướng Phạt chiết la, đại tướng Mê xí la, đại tướng An để la, đại tướng Ngạnh nễ la, đại tướng San để la, đại tướng Nhân đạt la, đại tướng Ba di la, đại tướng Ma hổ la, đại tướng Chân đạt la, đại tướng Chiêu đỗ la, đại tướng Tỳ yết la. Mười hai vị đại tướng Dạ xoa này, mỗi vị có bảy ngàn Dạ xoa làm tùy thuộc, cùng lúc cất tiếng bạch Phật, bạch đức Thế tôn, chúng con bây giờ nhờ uy lực của Ngài mà nghe được danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, không còn nỗi sợ hãi về ác đạo nữa. Chúng con đốc suất nhau, cùng nhau nhất tâm, suốt đời qui y Phật Pháp Tăng, thệ nguyện gánh vác hết thảy chúng sanh, tạo cho họ cái lợi chân thật, cái vui lợi ích. Tùy thôn làng, thị thành, thủ đô, và trong rừng thanh vắng, của bất cứ xứ nào, mà hoặc có kinh này lưu hành, hoặc có kẻ trì niệm danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang như lai, cung kính cúng dường Ngài, thì chúng con, và tùy thuộc của chúng con, hộ vệ người ấy, làm cho họ thoát mọi khổ nạn, mọi ước nguyện đều thỏa mãn. Hoặc ai bị bịnh khổ mà cầu thoát qua, thì cũng nên đọc tụng kinh này, dùng tơ sợi năm màu mà kết tên chúng con. Ðược toại nguyện rồi mới tháo kết ấy.

    Lúc ấy đức Thế tôn tán dương các đại tướng Dạ xoa, rằng lành thay các tướng Ðại dạ xoa, lành thay, các người nghĩ báo ân đức cửa đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, thì thường nên như vậy mà lợi ích an lạc hết thảy chúng sanh.

    Danh sách 12 đại tướng Dạ xoa, kể theo Phạn tự thì như sau.

    1. Kumbhira,
    2. Vajra,
    3. Mihira,
    4. Andira,
    5. Majira,
    6. Shandira,
    7. Indra,
    8. Pajra,
    9. Makura,
    10. Sindura,
    11. Catura,
    12. Vikarala.

    Ðó  là trích tài liệu 9 (Anh văn, trang 20, dòng 23). Nhưng dịch nghĩa thì tìm không ra. Chỉ tìm thấy 2 danh sách sau đây.

    (a) 1. Cực úy dược xoa đại tướng,

    1. Kim cang dược xoa đại tướng,
    2. Chấp nghiêm dược xoa đại tướng,
    3. Chấp tinh dược xoa đại tướng,
    4. Chấp phong dược xoa đại tướng,
    5. Cư xứ dược xoa đại tướng,
    6. Chấp lực dược xoa đại tướng,
    7. Chấp ẩm dược xoa đại tướng,
    8. Chấp ngôn dược xoa đại tướng,
    9. Chấp tường dược xoa đại tướng,
    10. Chấp động dược xoa đại tướng,
    11. Viên tác dược xoa đại tướng.

    (b) 1. Khả úy đại tướng,

    1. Kim cang đại tướng,
    2. Hộ pháp đại tướng,
    3. Hộ tỷ đại tướng,
    4. Chánh pháp đại tướng,
    5. La sát đại tướng,
    6. Ðế sử đại tướng,
    7. Lang long đại tướng,
    8. Canh phương đại tướng,
    9. Chiết thuỳ đại tướng,
    10. Hộ thế đại tướng,
    11. Cần nộ đại tướng,

    Danh sách (a) trích Chính 19/51g và 60t ; danh sách (b) trích Chính 19/67t.

    Lợi chân thật (nghĩa lợi) cái lợi chân chính, chắc thật, hợp chân lý. Thủ đô (quốc ấp).

    Ðoạn này cho thấy Dạ xoa mà thệ nguyện gánh vác chúng sanh, hộ vệ mọi người, là do uy lực của đức Dược sư, là công đức của ngài. Trong đoạn này, cuối cùng, còn đưa ra một cách trừ bịnh nữa. Tra đọc các tài liệu sẽ thấy cách ấy cũng rất quan trọng.

    A3 kết thúc

    B1. nói tên kinh

    Bấy giờ tôn giả A nan bạch Phật, bạch đức Thế tôn, nên mệnh danh như thế nào về pháp môn này, và chúng con nên phụng trì kinh này như thế nào ? Phật dạy tôn giả A nan, pháp môn này nên mệnh danh Nói về bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như lai, cũng nên mệnh danh Nói về sự kết nguyện thần chú để lợi ích chúng sanh của mười hai thần tướng, lại nên mệnh danh Bạt trừù hết thảy nghiệp chướng. Nên phụng trì như vậy.

    Phụng trì như vậy (như thị trì) chỉ có nghĩa đơn giản là nhớ như vậy. Muốn xa hơn chút nữa thì “hãy phụng trì theo ý nghĩa mệnh danh như vậy”.

    B2. chúng hội phụng hành

    Khi đức Thế tôn nói lời này rồi, các vị đại bồ tát cùng các vị đại thanh văn, quốc vương, đại thần, đạo sĩ, cư sĩ, thiên chúng, long chúng, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lầu la, khẩn na la, ma hầu la dà, loài người và loài không phải người, toàn thể đại chúng như vậy, nghe những điều Phật dạy, ai cũng cực kỳ hoan hỷ, tín thọ phụng hành.

    Thiên chúng… ma hầu la dà là 8 bộ thiên long. Loài người và loài không phải người (nhân phi nhân), TH 28/2406 nói, thanh văn, quốc vương, vân vân, là loài người ; thiên chúng, long chúng, vân vân, là loài không phải người. Pđ 270t giải thích lại khác : (a) là khẩn na la, vì như người mà không phải người ; (b) chỉ cho tất cả 8 bộ, vì vốn không phải người, nhưng đến Phật thì hiện hình người cả. Theo lối giải thích này, “nhân phi nhân” nên dịch “loài như người mà không phải người”. Nhưng xét văn ý kinh này, qua những chỗ nói “phi nhân”, thì thấy TH 28/2406 nói đúng với kinh này hơn.

    Mục lục
    
    Tiểu dẫn. 5
    Lời đề khóa tụng kinh Dược Sư của Ngọc lâm quốc sư. 8
    Kinh Dược  sư. 11
    Sám  Dược  sư  cuốn trước. 68
    Sám  Dược  sư  cuốn  giữa. 94
    Sám  Dược  sư  cuốn  sau. 128
    Lược giải kinh dược sư (có mục lục riêng) 153
    Ghi chú. 222 

    Ghi chú

    (1) A Xà thế Vương = Ajatasatru. Con vua Tần bà ta la (Binsbisara) xứ Ma kiệt đà (Magadha). Bạn với Ðề bà đạt đa (Devadatta). Cầm tù cha mẹ, lên ngôi thôn tính các tiểu quốc, dựng nền móng thống nhất ấn độ. Vì tội hại cha mà cả mình nổi mụt (thứ mụt chữ Tàu dịch là sang, có nghĩa là một loại ung thư). Nhưng đến Phật sám hối thì lành, nên qui y Ngài. Ông là hộ pháp cho cuộc kiết tập pháp tạng lần thứ nhất.

    Ương quật ma la = Angulimalaya. Theo tà thuyết giết người được niết bàn. Giết được 999, cắt mỗi người 1 ngón tay, kết vòng đội trên đầu. Thiếu 1 người mới đủ số phải có là 1000, nên đuổi giết mẹ. Phật thương mà cứu và thuyết pháp cho. Ương quật sám hối, xuất gia, đắc quả La hán liền. Chuyện vị này nhiễm đầy tính chất và phong thái Thiền tông và đốn ngộ.

    (2) Câu trên của kinh Di đà, câu dưới của kinh Dược sư.

    (3) Từ đây trích Chính 14/414g.

    (4) Trích Chính 14/414g đến đây.

    (5) Tiêu tai diên thọ : tiêu tan tai họa, kéo dài sự sống.

    (6) Nguyên văn đoạn này không chỉnh. Nếu sát thì phải dịch “Lúc ấy đức Dược sư lưu ly quang như lai từ bi cứu vớt, nói kinh Bản nguyện công đức này”.

    (7) Nguyên văn “sát lợi” = sát đế lợi, giai cấp làm vua và đại thần.

    (8) Các sự tiêu tai tăng thọ, cũng như sự cúnghương (Nam mô hương cúng dường bồ tát) đều có năng lực như bồ tát, nên gọi như vậy.

    (9) = tà kiến : lý thuyết các học phái ngoại đạo.

    (10) Thân với mạng là 2 thứ. Thân lấy tứ đại làm thể, mạng lấy thọ, noãn và thức làm thể.

    (11) Qui mạng đảnh lễ đức Dược sư lưu ly quang như lai… thế tôn, ở thế giới hệ Tịnh lưu ly thuộc phía đông.

    (12) Cha mẹ, chúng sanh, quốc chúa và Tam bảo gồm sư trưởng) (cho tại gia) ; hay cha mẹ, sư trưởng, quốc chúa và thí chủ (gồm chúng sanh ) (cho xuất gia).

    (13) Dục giới, sắc giới, không giới (vô sắc giới).

    (14) Phiền não, vọng nghiệp, khổ báo (hoặc, nghiệp, khổ).

    (15) Ái : lầm sự, như tham lam, sân hận…  Kiến : lầm lý, như ngã kiến, tà kiến…

    (16) Phân đoạn và biến dịch.

    (17) Pháp thân, bát nhã và giải thoát.

    (18) Giết cha, giết mẹ, giết La hán, làm thân 292 Phật đổ máu, phá Tăng hòa hợp. Hoặc phá hủy vật của Tam bảo, phỉ báng và trở ngại Phật pháp, ngược đãi người xuất gia, phạm 1 trong 5 thứ trên, phủ nhận nghiệp báo mà làm ác mãi.

    (19) = Sila : giới (thanh lương, tánh thiện).

    (20) = Tà kiến

    (21) Thật tướng của nhất thừa = tướng thực của giáo lý duy nhất. Tướng thực ở đây (có khi chỉ dùng chữ tướng mà thôi) phải hiểu theo từ ngữ và tư tưởng của ngài La thập : tướng thực thì không còn thực đối với giả, không còn tướng đối với tánh…

    (22) = Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt.

    (23) = kinh Dược sư (cũng có thể gồm kinh khác tương tự).

    (24) Cùng cực tinh tiến (kiều cần), kiều là cất cao, tốt nhiều, khởi phát, nên dịch như vậy. Cũng có thể dịch phát khởi tinh tiến.

    (25) Tạo phan (tạo phan), tạo là chế tạo, là bày ra, dựng lên. Ở đây nên hiểu theo 2 nghĩa sau.

    (26) ôn và dịch đều là bịnh thời khí và truyền nhiễm. Bịnh ấy, mùa đông gọi là ôn, mùa hạ gọi là dịch.

    (27) Ý nói sự hay đọa ác đạo (chứ không dễ sanh loài người, chư thiên) cũng là quả báo sót lại (di báo = dư báo) của chúng sanh.

    (28) Quỉ khởi thi (phi thi tà quỉ) Phi thi tà quỉ có thể dịch thây chết phi chạy, ma quỉ lếu láo, nhưng rất nên chỉ dịch là quỉ khởi thi, vì đó là chữ và việc của kinh Dược sư. Quỉ khởi thi : coi trang 105

    (29) = đạo bồ đề.

    (30) Ðoạn này tóm lược 12 đại nguyện.

    (31) 8 chướng nạn (bát nạn) : 8 nơi và sự trở ngại sự thấy Phật nghe Pháp, là địa ngục, ngạ quỉ súc sanh, câu lô châu, trường thọ thiên, đui điếc câm ngọng (giác quan không đủ), thế trí biện thông, trước hay sau Phật. 3 tai họa (tam tai) là tiểu tam tai : chiến tranh, nhiễm độc và nhân mãn (của “kiếp giảm”, không phải bình thường). Nhưng bát nạn tam tai ở đây chỉ một ít và bình thường thôi.

    (32) Không giữ kiết sử (bất trú sử hải) sát thì phải dịch, không ở trong biển kiết sử.

    (33) = ngôn ngữ đạo đoạn. Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt, là điển ngữ của ngài Long thọ (Trung luận). Nghĩa đen : con đường ngôn ngữ đã tuyệt, cái chỗ tâm hành đã mất. Ý : bất khả tư nghị, siêu việt tư duy và mô tả.

    (34) Chỗ của tỷ kheo ở mà vô tội, gọi là tịnh địa.

    (35) Lưu chú : sự sinh diệt liên tục trong từng sát na (đơn vị thì gian, chỉ bằng hay mau hơn sự thoạt hiện hoặc sự thoạt biến của một ý nghĩ).

    (36) Chỉ dưới Phật một bậc.

    (37) = đức Dược sư.

    (38) Ðiển ngữ là “thường tịch thường chiếu’, tả bản thể luôn luôn vắng lặng tức luôn luôn chiếu soi. Cũng gọi là “thường tịch quang” : ánh sáng của bản thể luôn luôn vắng lặng. Trong 9 lạy về tứ thánh Cực lạc có chữ “thường tịch quang độ”, nghĩa : quốc độ ánh sáng của bản thể luôn luôn vắng lặng, ý nói chính bản thể ấy là quốc độ của pháp thân. Nguyên văn ở đây viết thường quang là viết tắt (đáng lý phải viết thường tịch quang).

    (39) Không phải chỉ là đồ trang sức mà thôi. Mà là đồ trang sức toàn thể đời sống và cuộc đời.

    (40) Thiên hà (lớn hơn ngân hà mà trong đó có thái dương hệ) ?

    (41) TH 28/232719 nói, Ðại phạn thiên (chúa trời), kẻ thành trước tiên trong “thành kiếp” và hoại sau hết trong “hoại kiếp”, làm chủ tiểu thế giới. Và như vậy, Ðại phạn thiên sống 60 lần tăng và giảm (60 tiểu kiếp, theo Trí độ luận).

    (42) Rất nên thêm “chỗ làm và biết sâu xa”…

    (43) Bản dịch 1 (Chính 21/535g) nói cây đèn 7 tầng, mỗi tầng 7 ngọn đèn (thất tằng chi đăng, nhất tằng thất đăng). 

    [hết]
  • KINH KIM CƯƠNG – Thượng nhân Thích Trí Quang dịch giải

    KINH KIM CƯƠNG – Thượng nhân Thích Trí Quang dịch giải

    | 1. Chánh Văn | 2. Dẫn Nhập | 3. Lược Giải |

    phần tụng niệm

    Kinh
    Kim cương bát nhã ba la mật

    Dịch giải: Tỷ kheo Trí Quang
    2531 – 1987

    Duyệt xong,
    Mười bảy tháng năm, 2537 – 1993
    Trí quang


    Nghĩa lý kinh Kim cương
    là ngoài tầm nghĩ bàn,
    phước đức kinh Kim cương
    cũng siêu việt như vậy.
    Nay con được tụng niệm
    cầu nguyện cùng chúng sinh
    ở trong cảnh giới này
    mà thấy phi cảnh giới,
    và chính nơi thân này
    mà thấy là Phật thân.

    23.10.2531
    Trí quang


    Kính lạy đức Thích ca mâu ni thế tôn, cùng hết thảy Phật bảo.

    Kính lạy kinh Kim cương bát nhã ba la mật, cùng hết thảy Pháp bảo.

    Kính lạy tôn giả Thiện hiện, cùng hết thảy Tăng bảo.

    Kinh Kim cương bát nhã ba la mật

    (1)
    (1-8) Tôi nghe như vầy :
    Một thời Thế tôn
    ở nước Xá vệ,
    trong khu lâm viên
    Chiến thắng Thiện thí,
    cùng với một ngàn
    hai trăm năm chục
    vị đại tỷ kheo.

    (2)
    (9-22) Vào lúc bấy giờ
    gần đến giờ ăn,
    nên đức Thế tôn
    sửa y, cầm bát,
    đi vào khất thực
    trong thành Xá vệ.
    Tuần tự khất thực
    trong thành này rồi,
    Ngài về chỗ ở
    ăn uống xong xuôi,
    thu dọn y bát,
    rửa sạch hai chân
    và trải đồ lót
    lót chỗ mà ngồi.

    (3)
    (23-48) Lúc ấy Thiện hiện,
    một vị trưởng lão,
    cũng có ở trong
    các đại tỷ kheo.
    Từ chỗ mình ngồi,
    trưởng lão đứng dậy,
    vắt một vạt y,
    để trần vai phải,
    đầu gối bên phải
    quì xuống chấm đất,
    hai tay chắp lại
    cung kính mà thưa :
    kính bạch Thế tôn,
    Ngài thật hiếm có ;
    Ngài khéo nâng đỡ
    cho các Bồ tát,
    lại khéo giao phó
    cho các Bồ tát.
    Kính bạch Thế tôn,
    thiện nam thiện nữ
    đã phát tâm nguyện
    vô thượng bồ đề,
    thì phải làm sao
    để ở tâm ấy ?
    Và phải làm sao
    để sửa tâm mình ?

    (4)
    (49-70) Ðức Thế tôn dạy :
    tốt lắm Thiện hiện ;
    thật đúng như lời
    trưởng lão đã nói,
    Như lai rất khéo
    nâng đỡ Bồ tát,
    Như lai rất khéo
    giao phó Bồ tát.
    Do vậy, trưởng lão,
    hãy nghe cho kỹ,
    Như lai sẽ nói
    cho các vị biết
    thiện nam thiện nữ
    phát tâm bồ đề
    thì bằng cách nào
    trú ở tâm ấy,
    và bằng cách nào
    sửa chữa tâm mình.
    Trưởng lão thưa rằng,
    dạ, bạch Thế tôn,
    chúng con ước muốn
    được nghe Ngài dạy.

    (5)
    (71-102) Trưởng lão Thiện hiện
    Bồ tát thì phải
    sửa chữa tâm mình
    bằng tuệ giác này :
    Bao nhiêu chúng sinh
    hoặc sinh bằng trứng,
    hoặc sinh bằng thai,
    sinh bằng ẩm thấp,
    sinh bằng biến hóa,
    hoặc có hình sắc
    hoặc không hình sắc,
    hoặc có tư tưởng,
    hoặc không tư tưởng,
    có không tư tưởng,
    ta làm hết thảy
    đều được nhập vào
    niết bàn hoàn toàn
    mà giải thoát cả.
    Làm cho vô lượng
    vô số chúng sinh
    niết bàn như vậy,
    mà thật không thấy
    có chúng sinh nào
    được niết bàn cả.
    Tại sao như vậy ?
    trưởng lão Thiện hiện,
    vì nếu Bồ tát
    mà vẫn còn có
    ý tưởng ngã, nhân,
    chúng sinh, thọ giả
    thì Bồ tát ấy
    không phải Bồ tát.

    (6)
    (103-144) Trưởng lão Thiện hiện
    đối với các pháp,
    Bồ tát không nên
    trú ở đâu cả
    mà làm bố thí :
    không ở nơi sắc
    mà làm bố thí,
    không ở nơi thanh
    hương, vị, xúc, pháp,
    mà làm bố thí.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    Bồ tát hãy nên
    bố thí như thế :
    không ở đâu cả.
    Tại sao như vậy,
    vì nếu Bồ tát
    không ở đâu cả
    mà làm bố thí
    thì được phước đức
    không thể lường được.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    không gian hướng đông
    có lường được không ?
    Không, bạch Thế tôn.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    không gian hướng nam,
    hướng tây hướng bắc,
    và cả bốn góc,
    cả trên cả dưới,
    có lường được không ?
    Càng không, bạch Ngài.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    Bồ tát bố thí
    mà không ở đâu
    thì được phước đức
    cũng y như thế
    không thể lường được.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    Bồ tát chỉ nên
    trú ở theo lời
    Như lai dạy đây.

    (7)
    (145-164) Trưởng lão Thiện hiện
    ông nghĩ thế nào,
    đối với Như lai,
    có thể hay không
    thấy bằng đặc tướng ?
    Không, bạch Thế tôn,
    không thể thấy Ngài
    bằng các đặc tướng ;
    tại sao như vậy,
    vì theo Ngài dạy
    thì các đặc tướng
    là phi đặc tướng.
    Ðức Thế tôn bảo
    trưởng lão Thiện hiện,
    hễ có đặc tướng
    thì đặc tướng ấy
    toàn là giả dối,
    nếu thấy đặc tướng
    là phi đặc tướng
    thì thấy Như lai.

    (8)
    (165-234) Trưởng lão Thiện hiện ;
    bạch đức Thế tôn,
    có thể có ai
    nghe pháp thoại này
    mà sinh đức tin
    đúng chân lý không ?
    Ðức Thế tôn dạy,
    đừng hỏi như vậy,
    trưởng lão Thiện hiện ;
    sau khi Như lai
    nhập niết bàn rồi,
    năm trăm năm sau,
    có ai giữ giới,
    làm phước, tu tuệ,
    thì với pháp thoại
    như thế này đây,
    có thể tin tưởng
    đúng với chân lý.
    Trưởng lão phải biết
    những người như vậy
    không chỉ gieo trồng
    gốc rễ điều lành
    nơi một đức Phật,
    nơi hai đức Phật,
    nơi ba bốn năm
    đức Phật mà thôi,
    mà đã gieo trồng
    gốc rễ điều lành
    ở nơi vô số
    ngàn vạn đức Phật.
    Những người như vậy
    mà được nghe đến
    pháp thoại thế này
    thì dầu đến nỗi
    chỉ một ý niệm
    tin tưởng trong sáng,
    Như lai cũng vẫn
    biết và thấy rõ
    họ thực hiện được
    vô lượng phước đức.
    Tại sao như vậy,
    vì những người này
    không còn có nữa
    ý tưởng ngã nhân
    chúng sinh thọ giả,
    không còn có nữa
    ý tưởng về pháp
    và về phi pháp.
    Nếu những người này
    còn có ý tưởng
    là còn ngã nhân
    chúng sinh thọ giả,
    còn ý tưởng pháp
    là còn ngã nhân,
    chúng sinh thọ giả,
    còn tưởng phi pháp
    là còn ngã nhân
    chúng sinh thọ giả.
    Vì lý do ấy,
    đừng nắm lấy pháp,
    lại càng đừng nên
    nắm lấy phi pháp.
    Do ý nghĩa này
    Như lai thường nói,
    các vị Tỷ kheo
    hãy nhận thức rằng
    pháp Như lai nói
    tựa như chiếc bè :
    pháp còn phải bỏ,
    huống chi phi pháp ?

    (9)
    (235-262) Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    phải chăng Như lai
    được vô thượng giác ?
    phải chăng Như lai
    có sự thuyết pháp ?
    Trưởng lão thưa rằng
    kính bạch Thế tôn,
    theo con hiểu biết
    ý của Ngài nói,
    thì không thể có
    một pháp khẳng định
    để được mệnh danh
    là vô thượng giác,
    cũng không thể có
    một pháp khẳng định
    để được gọi là
    Thế tôn thuyết pháp.
    Tại sao như vậy,
    vì Pháp Ngài nói
    không thể nắm lấy
    không thể diễn tả,
    không phải là pháp
    không phải phi pháp
    lý do là vì
    hết thảy hiền thánh
    toàn do Vô vi
    biểu hiện khác biệt.

    (10)
    (263-300) Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    có ai đem cho
    đủ hết bảy loại
    vàng ngọc chất đầy
    đại thiên thế giới,
    thì người cho ấy
    được phước nhiều không ?
    rất nhiều, bạch Ngài ;
    vì phước đức ấy
    Ngài đã nói là
    tính phi phước đức,
    thế nên Ngài nói
    phước đức rất nhiều.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    nhưng nếu có ai
    từ pháp thoại này
    tiếp nhận ghi nhớ
    dầu là chỉ được
    chỉnh cú bốn câu,
    và biết đem nói
    cho bao người khác,
    thì phước người ấy
    vẫn hơn người trước.
    Tại sao như vậy,
    vì lẽ, trưởng lão,
    hết thảy Phật đà
    cùng với Phật pháp
    – Pháp vô thượng giác
    của các Phật đà –
    toàn là xuất ra
    từ pháp thoại này.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    gọi là Phật pháp
    thì Như lai nói
    là phi Phật pháp,
    thế nên Như lai
    nói là Phật pháp.

    (11)
    (301-392) Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    vị Tu đà hoàn
    có ý nghĩ rằng
    ta được đạo quả
    Tu đà hoàn chăng ?
    Trưởng lão thưa Ngài
    không, bạch Thế tôn ;
    tại sao như vậy,
    vì Tu đà hoàn
    là Vào dòng nước,
    thế nhưng thật ra
    không có cái gì
    nhập vào đâu cả :
    không nhập sắc thanh,
    hương, vị, xúc, pháp,
    nên được mệnh danh
    là Tu đà hoàn.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    vị Tư đà hàm
    có ý nghĩ rằng
    ta được đạo quả
    Tư đà hàm chăng ?
    Trưởng lão thưa Ngài
    không, bạch Thế tôn ;
    tại sao như vậy,
    vì Tư đà hàm
    là Một trở lại,
    thế nhưng thật ra
    không có cái gì
    một lần trở lại,
    nên được mệnh danh
    là Tư đà hàm.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    vị A na hàm
    có ý nghĩ rằng
    ta được đạo quả
    A na hàm chăng ?
    Trưởng lão thưa Ngài,
    không, bạch Thế tôn ;
    tại sao như vậy,
    vì A na hàm
    là Không trở lại,
    thế nhưng thật ra
    không có cái gì
    không còn trở lại,
    nên được mệnh danh
    là A na hàm.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    vị A la hán
    có ý nghĩ rằng
    ta được đạo quả
    A la hán chăng ?
    Trưởng lão thưa Ngài,
    không, bạch Thế tôn ;
    tại sao như vậy,
    vì lẽ thật ra
    không có cái gì
    là A la hán,
    nên được mệnh danh
    là A la hán.
    Kính bạch Thế tôn,
    nếu vị La hán
    nghĩ rằng mình được
    đạo quả La hán,
    thì như thế là
    chấp trước ngã nhân,
    chấp trước chúng sinh,
    chấp trước thọ giả.
    Bạch Ngài, Ngài nói
    trong số những người
    được định Không cãi,
    con là hơn hết,
    con là La hán
    ly dục bậc nhất ;
    nhưng con không có
    ý nghĩ mình là
    một vị La hán
    ly dục bậc nhất.
    Nếu con còn nghĩ
    mình là La hán,
    thì Ngài không nói
    Thiện hiện là người
    thích thú làm theo
    chánh định Không cãi ;
    vì con không còn
    làm theo gì cả,
    nên Ngài nói con
    theo định Không cãi.

    (12)
    (393-402) Ðức Thế tôn bảo
    trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    Như lai xưa kia
    nơi đức Nhiên đăng,
    được pháp gì chăng ?
    Không, bạch Thế tôn ;
    nơi đức Nhiên đăng,
    thực sự Thế tôn
    không được pháp gì.

    (13)
    (403-426) Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    phải chăng Bồ tát
    trang hoàng cõi Phật ?
    Không, bạch Thế tôn ;
    lý do là vì
    trang hoàng cõi Phật,
    sự trang hoàng ấy
    Thế tôn đã nói
    là phi trang hoàng,
    thế nên Ngài nói
    đó là trang hoàng.
    Do vậy, trưởng lão,
    Bồ tát đại sĩ
    hãy sinh cái tâm
    trong sạch như vầy :
    không ở nơi sắc
    mà sinh tâm ra,
    không ở nơi thanh,
    hương, vị, xúc, pháp,
    mà sinh tâm ra ;
    hãy đừng ở vào
    bất cứ chỗ nào
    mà sinh tâm ra.

    (14)
    (427-438) Trưởng lão Thiện hiện,
    ví dụ có người
    thân thể cao lớn
    như núi Tu di,
    ông nghĩ thế nào,
    thân ấy lớn không ?
    rất lớn, bạch Ngài ;
    tại sao, bởi vì
    Ngài nói thân lớn
    là phi thân lớn,
    thế nên Ngài nói
    đó là thân lớn.

    (15)
    (439-506) Trưởng lão Thiện hiện,
    giả thiết sông Hằng
    có bao nhiêu cát,
    thì mỗi hạt cát,
    là một sông Hằng,
    ông nghĩ thế nào,
    số cát tất cả
    sông Hằng như vậy
    nhiều hay không nhiều ?
    rất nhiều, bạch Ngài ;
    số lượng sông Hằng
    đã là vô số,
    huống chi số cát
    những sông Hằng ấy.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    với lời nói thật,
    Như lai hôm nay
    nói với trưởng lão :
    giả sử thiện nam
    hay thiện nữ nào
    đem hết bảy loại
    vàng ngọc chất đầy
    thế giới đại thiên
    nhiều như số cát
    những sông Hằng ấy
    mà làm bố thí,
    thì phước họ được
    là nhiều hay ít ?
    Trưởng lão kính thưa,
    rất nhiều, bạch Ngài.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    nếu có thiện nam
    hay thiện nữ khác
    với pháp thoại này,
    tiếp nhận ghi nhớ
    dầu chỉ bốn câu,
    và biết đem nói
    cho bao người khác,
    thì phước người này
    hơn phước người trước.
    Thêm nữa, trưởng lão,
    chỗ nào giảng dạy
    pháp thoại như vầy,
    dầu chỉ bốn câu,
    trưởng lão cũng phải
    nhận thức chỗ ấy,
    tất cả thế giới
    chư thiên nhân loại
    và a tu la
    đều nên hiến cúng
    chùa tháp Như lai.
    Huống chi có người
    tiếp nhận ghi nhớ,
    đọc xét văn nghĩa,
    tụng được thuộc lòng,
    giảng nói cho người
    trọn pháp thoại này ;
    trưởng lão phải biết
    người ấy đạt được
    cái pháp tối thượng
    hiếm có bậc nhất,
    và những địa điểm
    người ấy giảng dạy
    pháp thoại như vầy
    là có Như lai
    hay có các vị
    đệ tử cao trọng.

    (16)
    (507-532) Vào lúc bấy giờ
    trưởng lão Thiện hiện
    bạch đức Thế tôn,
    pháp thoại như vầy
    nên gọi tên gì ?
    chúng con cần phải
    ghi nhớ thế nào ?
    Ðức Thế tôn dạy,
    trưởng lão Thiện hiện,
    pháp thoại như vầy
    nên gọi tên là
    Kim cương bát nhã
    ba la mật đa,
    trưởng lão hãy nhớ
    pháp thoại như vầy
    qua danh hiệu ấy.
    Tại sao như vậy,
    trưởng lão Thiện hiện,
    bởi vì bát nhã
    ba la mật đa
    thì Như lai nói
    là phi bát nhã
    ba la mật đa,
    thế nên Như lai
    nói là bát nhã
    ba la mật đa.

    (17)
    (533-540) Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    Như lai có sự
    thuyết pháp hay không ?
    Trưởng lão thưa Ngài,
    không, bạch Thế tôn,
    Thế tôn không có
    thuyết pháp gì cả.

    (18)
    (541-558) Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    thế giới đại thiên
    có bao vi trần,
    số lượng nhiều không ?
    rất nhiều, bạch Ngài.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    những vi trần ấy,
    Như lai nói chúng
    là phi vi trần,
    thế nên Như lai
    nói là vi trần.
    Và bao thế giới,
    Như lai cũng nói
    những thế giới ấy
    là phi thế giới,
    thế nên Như lai
    nói là thế giới.

    (19)
    (559-572) Trưởng lão Thiện hiện
    trong ý của ông
    ông nghĩ thế nào,
    có thể hay không
    nhìn thấy Như lai
    bằng ba mươi hai
    đặc tướng siêu nhân ?
    Không, bạch Thế tôn ;
    tại sao như vậy,
    vì các đặc tướng
    thì Thế tôn nói
    là phi đặc tướng,
    thế nên Thế tôn
    nói là đặc tướng.

    (20)
    (573-586) Trưởng lão Thiện hiện,
    nếu có thiện nam
    hay thiện nữ nào
    đem thân mạng mình
    bằng cát sông Hằng
    mà bố thí cả,
    và có người khác
    với pháp thoại này
    tiếp nhận ghi nhớ
    dầu chỉ bốn câu,
    và đem giảng nói
    cho bao người khác,
    thì phước người này
    quá nhiều hơn nữa.

    (21)
    (587-662) Vào lúc bấy giờ
    trưởng lão Thiện hiện,
    nghe pháp thoại này
    lĩnh hội sâu xa,
    lòng đầy xúc cảm,
    rơi lụy mà khóc.
    Trưởng lão thưa rằng,
    thật quá hiếm có,
    kính bạch Thế tôn ;
    Ngài đã tuyên thuyết
    pháp thoại cực sâu.
    Từ khi có được
    con mắt tuệ giác
    cho đến ngày nay,
    con chưa nghe được
    pháp thoại như vầy.
    Bạch Ngài, có ai
    nghe pháp thoại này
    tin tưởng trong sáng
    và phát sinh được
    cái tuệ giác thật,
    thì biết người ấy
    đạt được công đức
    hiếm có bậc nhất.
    Kính bạch Thế tôn,
    tuệ giác thật ấy
    thì Ngài nói là
    phi tuệ giác thật,
    thế nên Ngài nói
    là tuệ giác thật.
    Kính bạch Thế tôn,
    hôm nay con được
    nghe pháp thoại này,
    tin tưởng lĩnh hội,
    tiếp nhận ghi nhớ,
    thì không khó mấy.
    Nhưng nếu tương lai,
    năm trăm năm sau
    người nào nghe được
    pháp thoại như vầy,
    tin tưởng, lĩnh hội,
    tiếp nhận, ghi nhớ,
    mới hiếm có nhất.
    Tại sao như vậy,
    bởi vì người ấy
    thì không còn có
    ý tưởng ngã nhân
    chúng sinh thọ giả –
    Ý tưởng ngã nhân
    chúng sinh thọ giả
    là phi ý tưởng :
    phi mọi ý tưởng
    thì thế gọi là
    chư Phật như lai.
    Ðức Thế tôn dạy
    trưởng lão Thiện hiện,
    thật đúng như vậy :
    nếu có người này
    được nghe pháp thoại
    Bát nhã như vầy
    mà không kinh ngạc,
    cũng không sợ hãi,
    thì biết người ấy
    cực kỳ hiếm có.
    Tại sao, trưởng lão,
    bởi vì Bát nhã
    chính là tối thượng
    ba la mật đa,
    và Như lai nói
    cái pháp tối thượng
    ba la mật đa
    là phi tối thượng
    ba la mật đa,
    thế nên Như lai
    nói là tối thượng
    ba la mật đa.

    (22)
    (663-696) Trưởng lão Thiện hiện,
    cái pháp nhẫn nhục
    ba la mật đa,
    Như lai cũng nói
    là phi nhẫn nhục
    ba la mật đa,
    thế nên Như lai
    nói là nhẫn nhục
    ba la mật đa.
    Tại sao trưởng lão,
    vì như xưa kia,
    trong khi Như lai
    bị Ca lị vương
    cắt thịt khắp nơi
    tay chân Như lai,
    Như lai không có
    ý tưởng ngã nhân
    chúng sinh thọ giả.
    Nếu lúc bấy giờ
    Như lai còn có
    ý tưởng ngã nhân
    chúng sinh thọ giả
    thì phải sinh ra
    giận dữ oán hận.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    Như lai lại nhớ
    trong thì quá khứ,
    có năm trăm đời
    Như lai đã làm
    tiên nhân Nhẫn nhục.
    Vào lúc bấy giờ,
    Như lai cũng không
    ý tưởng ngã nhân
    chúng sinh thọ giả.

    (23)
    (697-758) Vì lý do ấy,
    trưởng lão Thiện hiện,
    Bồ tát thì phải
    rời mọi ý tưởng
    mà phát huy tâm
    vô thượng bồ đề ;
    đừng ở nơi sắc
    mà sinh tâm ra,
    đừng ở nơi thanh,
    hương, vị, xúc, pháp,
    mà sinh tâm ra.
    Hãy sinh cái tâm
    không ở đâu cả.
    Nếu tâm ở đâu
    thì chính như thế
    là phi trú ở.
    Vì lý do này,
    Như lai nói rằng
    Bồ tát thì phải
    không ở sắc, thanh,
    hương, vị, xúc, pháp,
    mà làm bố thí.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    Bồ tát thì vì
    ích lợi chúng sinh
    một cách khắp cả
    mà hãy bố thí
    theo cách như vậy.
    Vì Như lai nói
    ý tưởng chúng sinh
    là phi ý tưởng,
    Như lai cũng nói
    hết thảy chúng sinh
    là phi chúng sinh.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    Như lai là người
    nói phải, nói chắc,
    nói như sự thật,
    nói không lừa đảo,
    nói không mâu thuẫn.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    Pháp mà Như lai
    đã chứng ngộ được,
    cái Pháp như vậy
    không phải chắc chắn,
    không phải trống rỗng.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    Bồ tát nếu tâm
    ở nơi mọi thứ
    mà làm bố thí,
    thì như một người
    vào trong bóng tối,
    không còn thấy được
    một thứ gì hết ;
    Bồ tát nếu tâm
    không ở mọi thứ
    mà làm bố thí,
    thì như một người
    đã có mắt sáng,
    lại có ánh sáng
    mặt trời soi rõ,
    nên thấy đủ cả.

    (24)
    (759-776) Trưởng lão Thiện hiện,
    trong thì vị lai,
    nếu có thiện nam
    hay thiện nữ nào,
    đối với pháp thoại
    Bát nhã như vầy,
    tiếp nhận ghi nhớ,
    đọc xét văn nghĩa,
    tụng được thuộc lòng,
    nói cho người khác,
    thì thế là được
    Như lai sử dụng
    tuệ giác Như lai
    mà biết rất rõ,
    và thấy rất rõ,
    rằng người như vậy
    ai cũng đạt được
    vô lượng công đức.

    (25)
    (777-848) Trưởng lão Thiện hiện,
    nếu có thiện nam
    hay thiện nữ nào
    buổi sáng đã đem
    hằng sa thân mạng
    mà bố thí cả,
    buổi trưa cũng đem
    hằng sa nhân mạng
    mà bố thí nữa,
    buổi chiều lại đem
    hằng sa nhân mạng
    mà bố thí luôn,
    và sự bố thí
    thân mạng như vậy
    làm đến trăm ngàn
    vạn ức thời kỳ ;
    và có người khác
    nghe pháp thoại này,
    trong lòng tin tưởng
    chứ không đối kháng,
    thì phước người này
    hơn phước người trước,
    huống chi có người
    sao chép ấn hành
    tiếp nhận ghi nhớ,
    đọc xét văn nghĩa,
    tụng được thuộc lòng,
    nói cho người khác.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    chính yếu mà nói
    thì bài pháp thoại
    Bát nhã như vầy
    có những công đức
    ngoài tầm nghĩ bàn,
    ước lượng, đối chiếu,
    siêu việt giới hạn ;
    Như lai nói cho
    những người đi theo
    giáo pháp đại thừa,
    nói cho những người
    đi theo giáo pháp
    đại thừa tối thượng.
    Ai có năng lực
    tiếp nhận ghi nhớ,
    đọc xét văn nghĩa,
    tụng được thuộc lòng,
    trình bày phong phú
    cho bao người khác,
    thì chính Như lai
    biết rõ người ấy,
    thấy rõ người ấy,
    đạt được công đức
    không thể ước lượng,
    không thể đối chiếu,
    không có giới hạn,
    ngoài tầm nghĩ bàn.
    Những người như vậy
    có thể gánh vác
    tuệ giác vô thượng
    của ta, Như lai.
    Tại sao như thế,
    trưởng lão Thiện hiện,
    bởi vì những ai
    ưa pháp tiểu thừa,
    vẫn còn ngã nhân,
    chúng sinh thọ giả,
    thì với pháp này
    không thể lắng nghe,
    tiếp nhận ghi nhớ,
    đọc xét văn nghĩa,
    tụng được thuộc lòng,
    nói cho người khác.

    (26)
    (848-862) Trưởng lão Thiện hiện,
    bất cứ chỗ nào,
    hễ có bản kinh
    Kim cương bát nhã,
    thì cả thế giới
    chư thiên, nhân loại
    và a tu la,
    đều nên hiến cúng.
    Nên biết chỗ ấy
    chính là chùa tháp
    tôn thờ Như lai ;
    hãy lạy, đi nhiễu,
    tung rãi các loại
    bông hoa, hương liệu.

    (27)
    (863-878) Thêm nữa, trưởng lão,
    bất cứ thiện nam
    hay thiện nữ nào
    học hỏi ghi nhớ,
    nghiên cứu, tụng thuộc
    kinh Kim cương này
    mà bị khinh dễ,
    thì biết người ấy
    tội ác đời trước
    đáng sa chỗ dữ,
    nhưng vì đời này
    bị người khinh dễ
    thì tội ác đó
    tiêu tan hết cả,
    người ấy sẽ được
    tuệ giác vô thượng.

    (28)
    (879-934) Trưởng lão Thiện hiện,
    Như lai nhớ lại
    quá khứ vô số
    55
    thời kỳ vô số,
    trước khi Như lai
    gặp đức Nhiên đăng,
    thì đã gặp được
    tám trăm bốn ngàn
    vạn ức trăm triệu
    chư Phật như lai,
    đối với Ngài nào
    Như lai cũng đồng
    thừa sự hiến cúng
    chứ không bỏ qua.
    Nhưng nếu có ai
    ở trong thời kỳ
    cuối cùng sau này,
    mà có năng lực
    học hỏi, ghi nhớ,
    nghiên cứu tụng thuộc
    bản kinh Kim cương
    bát nhã này đây,
    thì bao công đức
    người ấy đạt được,
    công đức Như lai
    phụng sự chư Phật
    không bằng phần trăm,
    phần ngàn vạn ức,
    đến nỗi toán pháp
    và ví dụ nữa,
    cũng không bằng được
    một phần nào cả.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    nếu có thiện nam
    hay thiện nữ nào
    ở trong thời kỳ
    cuối cùng sau này,
    mà có khả năng
    tiếp nhận, ghi nhớ,
    nghiên cứu, tụng thuộc
    bản kinh Kim cương
    bát nhã như vầy,
    bao nhiêu công đức
    mà họ đạt được,
    nếu Như lai nói
    một cách đầy đủ,
    thì tất có kẻ
    nghe mà nổi khùng,
    bối rối, hoài nghi,
    không thể tin được.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    phải nhận thức rằng
    ý nghĩa Kim cương
    không thể nghĩ bàn,
    hiệu quả cũng vậy
    không thể nghĩ bàn.

    (29)
    (935-970) Vào lúc bấy giờ
    trưởng lão Thiện hiện
    kính bạch Thế tôn,
    thiện nam thiện nữ
    đã phát tâm nguyện
    vô thượng bồ đề,
    thì phải làm sao
    để ở tâm ấy ?
    và phải làm sao
    để sửa tâm mình ?
    Ðức Thế tôn dạy,
    trưởng lão Thiện hiện,
    thiện nam thiện nữ
    phát tâm bồ đề,
    thì sửa tâm mình
    bằng tuệ giác này :
    ta phải làm cho
    hết thảy chúng sinh
    được niết bàn rồi
    mà thật không thấy
    một chúng sinh nào
    được niết bàn cả.
    Lý do là vì
    Bồ tát mà có
    ý tưởng ngã nhân
    chúng sinh thọ giả,
    thì như thế là
    không phải Bồ tát.
    Tại sao như vậy,
    trưởng lão Thiện hiện,
    bởi vì thật ra
    không có pháp gì
    là người phát tâm
    vô thượng bồ đề.

    (30)
    (971-1042) Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    nơi đức Nhiên đăng,
    phải chăng Như lai
    có một pháp gì
    gọi là đạt được
    vô thượng bồ đề ?
    Không, bạch Thế tôn ;
    theo chỗ con hiểu
    ý nghĩa đã được
    Thế tôn dạy cho
    thì khi Ngài ở
    nơi đức Nhiên đăng,
    không có pháp gì
    gọi là đạt được
    vô thượng bồ đề.
    Ðức Thế tôn dạy,
    đúng vậy, Thiện hiện,
    đúng là không có
    pháp gì gọi là
    Như lai đạt được
    vô thượng bồ đề.
    Nếu có pháp gì
    gọi là Như lai
    đạt được tuệ giác
    vô thượng bồ đề,
    thì đức Nhiên đăng
    đã không ghi nhận,
    rằng trong tương lai
    ông thành Phật đà,
    danh hiệu gọi là
    Thích ca mâu ni ;
    vì thật không có
    pháp gì gọi là
    Như lai đạt được
    vô thượng bồ đề,
    nên đức Nhiên đăng
    mới ghi nhận cho,
    bằng cách nói rằng
    ông thành Phật đà
    danh hiệu gọi là
    Thích ca mâu ni
    tại sao như vậy ?
    vì chữ Như lai
    chính là nghĩa Như
    của tất cả pháp.
    Nếu có ai nói
    Như lai đạt được
    vô thượng bồ đề,
    thì nói như vậy
    là không chính xác,
    bởi vì, trưởng lão,
    thật ra không có
    pháp gì gọi là
    Như lai đạt được
    vô thượng bồ đề,
    sự đạt được ấy
    không phải chắc chắn,
    không phải trống rỗng.
    Vì lý do này,
    Như lai tuyên ngôn
    rằng tất cả pháp
    toàn là Phật pháp.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    tất cả pháp ấy
    Như lai đã nói
    phi tất cả pháp,
    nên Như lai nói
    là tất cả pháp.

    (31)
    (1043-1068) Trưởng lão Thiện hiện,
    ví như có người
    thân thể cao lớn…
    Trưởng lão Thiện hiện
    liền bạch Thế tôn,
    thân cao lớn ấy
    thì Ngài đã nói
    phi thân cao lớn,
    thế nên Ngài nói
    là thân cao lớn.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    Bồ tát cũng vậy :
    Bồ tát mà nói
    ta phải làm cho
    vô số chúng sinh
    dều được niết bàn,
    thì không được gọi
    là vị Bồ tát ;
    trưởng lão Thiện hiện,
    bởi vì thật ra
    không có pháp gì
    gọi là Bồ tát.
    Vì thế Như lai
    nói tất cả pháp
    không phải ngã nhân
    chúng sinh thọ giả.

    (32)
    (1069-1086) Trưởng lão Thiện hiện,
    nếu Bồ tát nói
    ta phải trang hoàng
    cõi Phật của ta,
    thì không được gọi
    là vị Bồ tát.
    Tại sao, trưởng lão,
    trang hoàng cõi Phật
    thì Như lai nói
    là phi trang hoàng,
    thế nên Như lai
    nói là trang hoàng.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    Bồ tát thấu triệt
    về sự vô ngã,
    Như lai mới nói
    vị ấy đích thực
    là vị Bồ tát.

    (33)
    (1087-1138) Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    có đúng Như lai
    hiện có mắt thịt,
    mắt trời phải không ?
    Phải, bạch Thế tôn,
    Ngài có mắt thịt
    và có mắt trời.
    Có đúng Như lai
    hiện có mắt tuệ,
    mắt pháp phải không ?
    Phải, bạch Thế tôn,
    Ngài có mắt tuệ
    và có mắt pháp.
    Như lai hiện có
    mắt Phật phải không ?
    Phải, bạch Thế tôn,
    Ngài có mắt Phật.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    cát trong sông Hằng
    Như lai cũng nói
    là cát phải không ?
    Phải, Ngài nói cát.
    Ông nghĩ thế nào,
    có bao nhiêu cát
    trong một sông Hằng
    thì có sông Hằng
    bằng số cát ấy,
    và những cõi Phật
    bằng với số cát
    những sông Hằng này
    thì nhiều hay không ?
    Rất nhiều, bạch Ngài.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    bao nhiêu tâm tưởng
    tất cả chúng sinh
    trong những cõi Phật
    được nói như vậy,
    Như lai biết hết.
    Tại sao, trưởng lão,
    Như lai nói rằng
    bao tâm tưởng ấy
    là phi tâm tưởng,
    thế nên Như lai
    nói là tâm tưởng :
    Tâm tưởng quá khứ
    không thể nhận được,
    tâm tưởng hiện tại
    không thể nhận được,
    tâm tưởng vị lai
    không thể nhận được.

    (34)
    (1139-1156) Trưởng lão Thiện hiện,
    giả sử có ai
    đem hết vàng ngọc
    đầy cõi đại thiên
    mà bố thí cả,
    người này vì thế
    được phước nhiều không ?
    Rất nhiều, bạch Ngài,
    người này vì thế
    được phước rất nhiều.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    nếu phước có thật
    thì Như lai đã
    không nói phước nhiều,
    nhưng vì phước ấy
    thật là phi phước,
    thế nên Như lai
    nói là phước nhiều.

    (35)
    (1157-1196) Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    có thể hay không
    nhìn thấy Như lai
    bằng cái sắc thân
    toàn hảo đặc tướng ?
    Không, bạch Thế tôn,
    không nên nhìn Ngài
    bằng cái sắc thân
    toàn hảo đặc tướng.
    Tại sao như vậy,
    vì cái sắc thân
    toàn hảo đặc tướng
    thì Thế tôn nói
    là phi sắc thân
    toàn hảo đặc tướng,
    đó là lý do
    tại sao Thế tôn
    nói là sắc thân
    toàn hảo đặc tướng.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    có thể hay không
    nhìn thấy Như lai
    bằng các đặc tướng
    toàn hảo tất cả ?
    Không, bạch Thế tôn,
    không nên nhìn Ngài
    bằng các đặc tướng
    toàn hảo tất cả.
    Tại sao như vậy,
    vì các đặc tướng
    toàn hảo tất cả
    thì Thế tôn nói
    là phi đặc tướng
    toàn hảo tất cả,
    đó là lý do
    tại sao Thế tôn,
    nói là đặc tướng
    toàn hảo tất cả.

    (36)
    (1197-1216) Trưởng lão Thiện hiện,
    đừng nói Như lai
    có cái ý nghĩ
    Như lai thuyết pháp.
    Ðừng nói như vậy.
    Lý do tại sao,
    vì nói Như lai
    có sự thuyết pháp
    thì thế chính là
    phỉ báng Như lai.
    Nói thế tức là
    không khéo lĩnh hội
    ý nghĩa đã được
    Như lai tuyên thuyết.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    gọi là thuyết pháp
    là thật không có
    pháp gì để thuyết,
    như thế mới được
    gọi là thuyết pháp.

    (37)
    (1217-1234) Lúc ấy Thiện hiện,
    người lấy tuệ giác
    mà làm tính mạng,
    kính bạch Thế tôn,
    có thể có ai
    trong thì vị lai
    nghe Pháp như vầy
    mà tin tưởng không ?
    Ðức Thế tôn dạy,
    những người như vậy
    không phải chúng sinh
    hay không chúng sinh ;
    tại sao, trưởng lão,
    gọi là chúng sinh
    thì Như lai nói
    là phi chúng sinh,
    vì thế Như lai
    gọi là chúng sinh.

    (38)
    (1235-1264) Trưởng lão Thiện hiện,
    kính bạch Thế tôn,
    Thế tôn đạt được
    vô thượng bồ đề,
    thật ra là sự
    phi đạt được chăng ?
    Ðúng, đúng như vậy,
    trưởng lão Thiện hiện ;
    Như lai đối với
    vô thượng bồ đề
    không có chút gì
    gọi là đạt được
    nên được gọi là
    vô thượng bồ đề.
    Thêm nữa, trưởng lão,
    Pháp thì đồng đẳng,
    không bất đồng đẳng,
    thế nên gọi là
    vô thượng bồ đề :
    không có ngã nhân
    chúng sinh thọ giả
    mà làm pháp lành,
    thế thì đạt được
    vô thượng bồ đề.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    gọi là pháp lành
    thì Như lai nói
    là phi pháp lành,
    thế nên Như lai
    gọi là pháp lành.

    (39)
    (1265-1282) Trưởng lão Thiện hiện,
    có người đem cho
    bảy loại vàng ngọc
    chất đống bằng với
    những núi Tu di
    trong cõi đại thiên,
    và có người khác
    tiếp nhận ghi nhớ
    dầu chỉ bốn câu
    bản kinh Bát nhã
    ba la mật này,
    và nói cho người,
    thì phước người trước
    không bằng phần trăm,
    phần ngàn vạn ức,
    toán pháp, ví dụ,
    cũng không bằng được
    một phần nào cả.

    (40)
    (1283-1308) Trưởng lão Thiện hiện,
    các vị đừng nói
    Như lai nghĩ rằng
    Như lai giải thoát
    các loại chúng sinh ;
    trưởng lão Thiện hiện,
    đừng nghĩ như vậy,
    vì thật không có
    một chúng sinh nào
    Như lai giải thoát.
    Nếu có chúng sinh
    Như lai giải thoát,
    thì thế chính là
    Như lai đã có
    ý tưởng ngã nhân
    chúng sinh thọ giả.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    ý tưởng về ngã
    thì Như lai nói
    phi ý tưởng ngã,
    nhưng người tầm thường
    thì bảo là ngã.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    người tầm thường ấy
    Như lai nói là
    người phi tầm thường.

    (41)
    (1309-1348) Trưởng lão Thiện hiện,
    ông nghĩ thế nào,
    phải chăng có thể
    nhìn thấy Như lai
    bằng ba mươi hai
    đặc tướng siêu nhân ?
    Kính bạch Thế tôn,
    theo chỗ con hiểu
    nghĩa của Ngài dạy,
    không thể nhìn Ngài
    bằng ba mươi hai
    đặc tướng siêu nhân.
    Ðức Thế tôn dạy,
    trưởng lão Thiện hiện,
    thật đúng như vậy,
    bởi vì nếu nhìn
    ba mươi hai nét
    đặc tướng siêu nhân
    mà cho có thể
    nhìn thấy Như lai
    thì Chuyển luân vương
    cũng là Như lai.
    Thế nên không thể
    nhìn thấy Như lai
    bằng ba mươi hai
    đặc tướng siêu nhân ;
    hãy nhìn Như lai
    bằng cách nhìn thấy
    tất cả đặc tướng
    là phi đặc tướng.
    Bãy giờ Thế tôn
    nói chỉnh cú này :
    “Nếu đem sắc tướng
    nhìn thấy Như lai,
    hoặc đem âm thanh
    nhận thức Như lai,
    thì những người ấy
    đã đi lạc đường,
    không còn có thể
    thấy biết Như lai”.

    (42)
    (1349-1360) Trưởng lão Thiện hiện,
    nếu ông nghĩ rằng
    Như lai không do
    đặc tướng toàn hảo
    mà được tuệ giác
    vô thượng bồ đề,
    thì này trưởng lão,
    đừng nghĩ như vậy,
    rằng ta, Như lai,
    không do đặc tướng
    toàn hảo mà được
    vô thượng bồ đề.

    (43)
    (1361-1372) Trưởng lão Thiện hiện,
    nếu ông nghĩ rằng
    những người phát tâm
    vô thượng bồ đề
    nói rằng các pháp
    là tiêu diệt hẳn,
    thì đừng nghĩ thế,
    tại sao, bởi vì
    những người phát tâm
    vô thượng bồ đề
    đối với các pháp
    không nói tiêu diệt.

    (44)
    (1373-1400) Trưởng lão Thiện hiện,
    một vị Bồ tát
    đem cho tất cả
    bảy loại vàng ngọc
    chất đầy thế giới
    như cát sông Hằng ;
    vị Bồ tát khác
    biết tất cả pháp
    toàn là vô ngã,
    thành được sức Nhẫn,
    thì Bồ tát này
    hơn Bồ tát trước.
    Lý do là vì,
    trưởng lão Thiện hiện,
    Bồ tát thì không
    tiếp nhận phước đức.
    Trưởng lão Thiện hiện
    kính bạch Thế tôn,
    tại sao Bồ tát
    không nhận phước đức
    Bởi vì, Thiện hiện,
    Bồ tát làm hết
    mọi sự phước đức,
    thế nhưng không nên
    tham đắm phước đức,
    Như lai do vậy
    nói là không nhận
    mọi sự phước đức.

    (45)
    (1401-1412) Trưởng lão Thiện hiện,
    nếu nói Như lai
    có đến, có đi,
    có ngồi, có nằm,
    thì người nói ấy
    không hiểu ý nghĩa
    Như lai đã nói.
    Tại sao như vậy,
    bởi vì Như lai
    không đến từ đâu,
    không đi về đâu,
    nên gọi Như lai.

    (46)
    (1413-1530) Trưởng lão Thiện hiện,
    có ai nghiền nát
    thế giới đại thiên
    thành ra vi trần,
    thì ông nghĩ sao,
    những vi trần ấy
    là nhiều hay ít ?
    Rất nhiều, bạch Ngài.
    Tại sao, bởi vì
    những vi trần ấy
    nếu là thật có,
    thì Ngài không nói
    là những vi trần –
    Thế nhưng vi trần
    thì Ngài đã nói
    là phi vi trần,
    do đó Ngài nói
    là những vi trần.

    (47)
    (1069-1086) Và bạch Thế tôn,
    cái mà Ngài nói
    thế giới đại thiên
    là phi thế giới,
    vì thế nên được
    gọi là thế giới.
    Tại sao như vậy,
    bởi vì nếu nói
    thế giới thật có,
    thì đó chỉ là
    ý tưởng hợp nhất –
    Ý tưởng hợp nhất
    thì Ngài nói phi
    ý tưởng hợp nhất,
    nên được gọi là
    ý tưởng hợp nhất.
    Ðức Thế tôn dạy,
    trưởng lão Thiện hiện,
    ý tưởng hợp nhất
    thì không là gì
    để mà nói cả,
    nhưng người tầm thường
    đam mê dính mắc
    cái sự như vậy.

    (48)
    (1455-1478) Trưởng lão Thiện hiện,
    nếu có ai nói
    Thế tôn nói về
    ý tưởng ngã nhân
    chúng sinh thọ giả,
    thì này trưởng lão,
    ông nghĩ thế nào,
    người đó có hiểu
    ý nghĩa Như lai
    đã nói hay không ?
    Không, bạch Thế tôn,
    người ấy không hiểu
    ý nghĩa đã được
    Thế tôn nói ra.
    Lý do tại sao,
    vì Thế tôn nói
    ý tưởng ngã nhân
    chúng sinh thọ giả
    thì tức là phi
    ý tưởng ngã nhân
    chúng sinh thọ giả,
    thế nên gọi là
    ý tưởng ngã nhân
    chúng sinh thọ giả.

    (49)
    (1479-1494) Trưởng lão Thiện hiện,
    những người phát tâm
    vô thượng bồ đề,
    thì với các pháp
    hãy biết như vậy,
    hãy thấy như vậy,
    tin tưởng, lĩnh hội
    cũng là như vậy :
    đừng nên trú ở
    nơi ý tưởng pháp.
    Trưởng lão Thiện hiện,
    nói ý tưởng pháp
    thì Như lai nói
    phi ý tưởng pháp,
    vì thế mới gọi
    là ý tưởng pháp.

    (50)
    (1495-1512) Trưởng lão Thiện hiện,
    nếu có người nào
    đem cho tất cả
    bảy loại vàng ngọc
    chất đầy vô lượng
    vô số thế giới,
    và có người khác,
    không kể thiện nam
    hay là thiện nữ,
    đối với pháp thoại
    Bát nhã như vầy,
    tiếp nhận ghi nhớ,
    nghiên cứu tụng thuộc,
    diễn tả cho người,
    thì dầu chỉ được
    chỉnh cú bốn câu,
    phước họ đạt được
    vẫn hơn người trước.

    (51)
    (1513-1528) Diễn tả cho người
    bằng cách thế nào ?
    Bằng cách đừng nắm
    ý tưởng về pháp,
    mà như sự Như
    chứ không dao động.
    Tại sao mà phải
    diễn tả cách ấy ?
    Bởi vì tất cả
    các pháp hữu vi
    toàn là giống như
    chiêm bao, ảo thuật,
    bóng nước, ảnh tượng,
    sương mai, điện chớp ;
    rất cần phải có
    cái nhìn như vậy.

    (52)
    (1529-1344) Khi đức Thế tôn
    tuyên thuyết hoàn tất
    bản kinh Kim cương
    bát nhã này rồi,
    trưởng lão Thiện hiện,
    các vị tỷ kheo
    và tỷ kheo ni,
    những cận sự nam
    và cận sự nữ,
    toàn thể thế giới
    chư thiên, nhân loại,
    và a tu la,
    được nghe những điều
    Thế tôn tuyên thuyết,
    ai cũng hoan hỷ,
    tín thọ, phụng hành.

    hồi hướng

    Nghĩa lý kinh Kim cương
    là ngoài tầm nghĩ bàn,
    phước đức kinh Kim cương
    cũng siêu việt như vậy.
    Nay con được tụng niệm
    cầu nguyện cùng chúng sinh
    ở trong cảnh giới này
    mà thấy phi cảnh giới,
    và chính nơi thân này
    mà thấy là Phật thân.

    Nam mô bổn sư Thích ca mâu ni thế tôn (3 lần)
    Kính lạy đức Thích ca mâu ni thế tôn, cùng hết thảy Phật bảo.
    Kính lạy kinh Kim cương bát nhã ba la mật, cùng hết thảy Pháp bảo.
    Kính lạy tôn giả Thiện hiện, cùng hết thảy Tăng bảo.


    | 1. Chánh Văn | 2. Dẫn Nhập | 3. Lược Giải |

    Pages: 1 2 3

  • Kinh Phật: PHẨM HẠNH NGUYỆN PHỔ HIỀN – Thượng nhân Thích Trí Quang dịch giải

    Phẩm Hạnh Nguyện Phổ Hiền

    Trưởng Lão Thích Trí Quang dịch

    GHI CHÚ:
    Bản Phổ Hiền Hạnh Nguyện Vương Tạng ngữ là ứng với phần kệ của phẩm này. Nội dung không nhiều sai biệt, chỉ khác vài nơi ở cách phân câu và thứ tự.  Quí vị có thể hạ tải bản đối chiếu theo Tạng ngữ ở đây: [PDF - Phổ Hiền Hạnh Nguyện Vương - tạng-anh-pháp-viet]. Bảy hạnh Phổ Hiền thường nhắc trong Phật giáo Tây Tạng ứng với 12 câu kệ đầu, là phần sơ khởi của pháp tu Phổ Hiền. Đó là mượn phần sơ khởi của pháp tu Phổ Hiền làm pháp sơ khởi cho mọi công phu khác. Thiển ý, Hồng Như 

    LỜI NÓI ĐẦU

    Phẩm Hạnh nguyện Phổ Hiền nằm trong Đại tạng kinh bản Đại chính tân tu, cuốn 10, các trang 844 – 848. Đó là chính văn mà tôi căn cứ để dịch. Và dịch thì căn cứ ý kiến của đại sư Thái Hư, qua bản giảng lục của ngài, nằm trong Thái Hư toàn thư tập 23, các trang 1027 – 1096. Có một chi tiết nhỏ xin ghi ở đây, là kinh sách tôi dịch có mấy chỗ liên hệ đến phẩm này, nhất là Hồng danh; nhưng tùy chỗ nên ý dịch không khác mà lời dịch phải khác chút ít.

    Dịch phẩm này tôi không làm mục lục mà kể như đã có. Vì phần trường hàng thì dễ thấy, còn phần chỉnh cú thì coi các ghi chú 15, 16, 17, 18, 21, 24, sẽ thấy phân khoa rõ ràng.

    Sánh với 4 hoằng thệ của đức Thích Tôn tuy vắn tắt bậc nhất mà đầy đủ bậc nhất, thì 10 hạnh nguyện của đức Phổ Hiền thật không bằng. Nhưng 10 hạnh nguyện ấy cũng thật đặc biệt. Tựu trung có người cho “tùy hỷ công đức” có gì khó khăn và quan trọng đâu; nhưng nếu biết con người có thể chết cho người mà khó thể khen người một câu, thì đủ biết hạnh nguyện ấy quan trọng biết bao cho tâm lý người tu.

    Phẩm này có sự đặc biệt bậc nhất là hồi hướng Cực lạc. Tôi dịch là vì sự đặc biệt ấy.

    *

    Phẩm này, nay sao lục vào sau Pháp Hoa để trì tụng, là vì phẩm 28 cuối kinh ấy nói tu học Pháp Hoa là do thần lực Phổ Hiền, là đi theo đường đi Phổ Hiền (tức 10 đại nguyện vương), là được Phật đưa tay xoa đầu.

    Trí Quang

    Nhất tâm đảnh lễ Nam mô Hoa Nghiêm giáo chủ Tỳ Lô Giá Na Như Lai;
    Nhất tâm đảnh lễ Nam mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh;
    Nhất tâm đảnh lễ Như Lai trưởng tử Phổ Hiền bồ tát ma ha tát. 

     Kinh Hoa Nghiêm
    PHẨM HẠNH NGUYỆN PHỔ HIỀN[1]

    Vào lúc bấy giờ, Phổ Hiền đại sĩ tán dương công đức siêu việt của đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai rồi, bảo chư vị bồ tát qua Thiện Tài đồng tử, rằng Thiện nam tử, công đức của đức Như Lai, giả sử chính tất cả chư vị Như Lai trong mười phương, trải qua những thời kỳ[2] nhiều bằng số lượng cực vi[3] của những thế giới đến số lượng hai lần không thể nói[4], diễn nói liên tục, cũng không thể cùng tận. Nếu muốn thành tựu công đức ấy thì phải tu tập mười hạnh nguyện rộng lớn. Mười hạnh nguyện ấy là những gì? Một là lễ kính Phật đà, hai là tán dương Như Lai, ba là hiến cúng rộng lớn, bốn là sám hối nghiệp chướng, năm là tùy hỷ công đức, sáu là xin chuyển pháp luân, bảy là xin Phật ở đời, tám là thường học theo Phật, chín là hằng thuận chúng sinh, mười là hồi hướng khắp cả.

    Thiện Tài đồng tử thưa, kính bạch Đại sĩ, thế nào là lễ kính Phật đà? Cho đến thế nào là hồi hướng khắp cả?

    Phổ Hiền đại sĩ bảo Thiện Tài đồng tử, Thiện nam tử, [thứ nhất] lễ kính Phật đà là đối với chư vị Thế Tôn nhiều bằng số lượng cực vi của tất cả thế giới khắp mười phương, suốt ba đời, cùng tận pháp giới và hư không giới, tôi nhờ sức mạnh hạnh nguyện Phổ Hiền mà tin hiểu sâu xa như đối diện trước mắt, và toàn đem ba nghiệp thân miệng ý trong sạch mà thường xuyên lễ kính. Nơi mỗi đức Thế Tôn, tôi biến thể thân hình nhiều bằng số lượng cực vi của những thế giới đến hai lần không thể nói, mỗi thân hình lạy khắp chư vị Thế Tôn nhiều bằng số lượng cực vi của những thế giới đến hai lần không thể nói. Hư không cùng tận, sự lễ kính của tôi mới cùng tận, nhưng hư không không thể cùng tận, nên sự lễ kính của tôi không có cùng tận; như vậy, chúng sinh cùng tận, nghiệp của chúng sinh cùng tận, phiền não của chúng sinh cùng tận, sự lễ kính của tôi mới cùng tận, nhưng chúng sinh, nghiệp của chúng sinh, phiền não của chúng sinh, không có cùng tận, nên sự lễ kính của tôi cũng không cùng tận, liên tục trong từng sát na[5], không có gián đoạn, cả thân miệng ý không hề chán mệt.

    Thiện nam tử, [ thứ hai ] tán dương Như Lai là bao nhiêu cực vi của những thế giới khắp mười phương, suốt ba đời, cùng tận pháp giới và hư không giới, mỗi cực vi ấy có chư vị Thế Tôn nhiều bằng số lượng cực vi của tất cả thế giới, mỗi đức Thế Tôn đều có hải hội[6] Bồ tát vây quanh. Tôi đem sự tin hiểu siêu việt, sâu xa, biết và thấy các Ngài như đối diện trước mắt. Tôi dùng những cái lưỡi nhiệm mầu hơn cả Đại biện tài thiên nữ, mỗi cái lưỡi xuất ra biển cả âm thanh vô tận, mỗi âm thanh xuất ra biển cả từ ngữ phong phú, ca tụng tán dương biển cả công đức của tất cả chư vị Như Lai, cùng tận thì gian không có gián đoạn, cùng tận pháp giới không có thiếu sót. Như vậy, hư không cùng tận, chúng sinh cùng tận, nghiệp của chúng sinh cùng tận, phiền não của chúng sinh cùng tận, sự tán dương của tôi mới cùng tận; nhưng hư không cho đến phiền não không có cùng tận, nên sự tán dương của tôi cũng không cùng tận, liên tục trong từng sát na, không có gián đoạn, cả thân miệng ý không hề chán mệt.

    Thiện nam tử, [ thứ ba ] hiến cúng rộng lớn là bao nhiêu cực vi của tất cả thế giới khắp mười phương, suốt ba đời, cùng tận pháp giới và hư không giới, mỗi cực vi có chư vị Thế Tôn nhiều bằng số lượng cực vi của tất cả thế giới, mỗi đức Thế Tôn có hải hội Bồ tát vây quanh, tôi nhờ sức mạnh hạnh nguyện Phổ Hiền mà tin hiểu sâu xa, biết và thấy các ngài như đối diện trước mắt. Tôi đem cúng phẩm thượng hạng và tinh tế mà hiến cúng. Mây hoa, mây vòng hoa, mây âm nhạc chư thiên, mây tàn lọng chư thiên, mây phục sức chư thiên, các loại hương liệu chư thiên, hương xoa, hương đốt, hương bột, những mây cúng phẩm như vậy hình lượng mỗi thứ bằng núi chúa Tu Di. Tôi lại đốt các loại đèn, đèn bơ, đèn dầu, các loại đèn dầu thơm, tim của mỗi thứ đèn lớn như núi Tu Di, dầu của mỗi thứ đèn nhiều như nước biển cả. Tôi đem những cúng phẩm như vậy mà hiến cúng thường xuyên. Thế nhưng, thiện nam tử, trong mọi sự hiến cúng, hiến cúng chánh pháp là hơn hết: hiến cúng bằng cách làm đúng lời Phật, hiến cúng bằng cách lợi ích chúng sinh, hiến cúng bằng cách giáo hóa chúng sinh, hiến cúng bằng cách chịu khổ thay cho chúng sinh, hiến cúng bằng cách siêng tu thiện căn, hiến cúng bằng cách không bỏ Bồ tát hạnh, hiến cúng bằng cách không rời Bồ đề tâm. Thiện nam tử, công đức vô lượng của sự hiến cúng trước, đối chiếu với một thoáng công đức của sự hiến cúng chánh pháp, thì không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, một phần ức, một phần triệu, một phần trăm của một cái lông, một phần của sự tính toán được, một phần của sự tính kể được, một phần của sự ví dụ được, một phần của cực vi, tất cả đều không bằng[7]. Tại sao? Vì chư vị Như Lai tôn trọng chánh pháp, vì làm đúng lời Phật thì xuất sinh chư Phật. Nếu các vị Bồ tát làm theo sự hiến cúng chánh pháp thì thế là thành tựu sự hiến cúng Như Lai, vì làm theo như vậy là hiến cúng chân thật. Như vậy, hư không cùng tận, chúng sinh cùng tận, nghiệp của chúng sinh cùng tận, phiền não của chúng sinh cùng tận, sự hiến cúng rộng lớn và hơn hết của tôi mới cùng tận, nhưng hư không cho đến phiền não không thể cùng tận, nên sự hiến cúng của tôi cũng không cùng tận, liên tục trong từng sát na, không có gián đoạn, cả thân miệng ý không hề chán mệt.

    Thiện nam tử, [thứ tư] sám hối[8] nghiệp chướng là Bồ tát tự nghĩ, trong bao thời kỳ quá khứ vô thỉ, tôi do tham sân si mà phát động thân miệng ý, làm những nghiệp dữ vô lượng vô biên. Nếu nghiệp dữ ấy có hình tướng thì cùng tận không gian cũng không thể dung chứa. Nay tôi đem cả ba nghiệp thân miệng ý trong sạch, đối trước chư vị Phật đà và chư vị Bồ tát trong những thế giới nhiều như cực vi và khắp cả pháp giới, thành tâm sám hối, sau không làm nữa, thường sống trong tịnh giới và các công đức. Như vậy, hư không cùng tận, chúng sinh cùng tận, nghiệp của chúng sinh cùng tận, phiền não của chúng sinh cùng tận, sự sám hối của tôi mới cùng tận, nhưng hư không cho đến phiền não không thể cùng tận, nên sự sám hối của tôi cũng không cùng tận, liên tục trong từng sát na, không có gián đoạn, cả thân miệng ý không hề chán mệt.

    Thiện nam tử, [thứ năm] tùy hỷ công đức là chư vị Như Lai nhiều bằng số lượng cực vi của tất cả thế giới khắp mười phương, suốt ba đời, cùng tận pháp giới và hư không giới, từ lúc mới phát tâm, vì Nhất thiết trí mà siêng tu cái khối phước đức, không tiếc tính mạng; trải qua thời kỳ nhiều bằng số lượng cực vi của những thế giới đến hai lần không thể nói, trong mỗi thời kỳ, bỏ đầu mắt tay chân nhiều bằng số lượng cực vi của những thế giới đến hai lần không thể nói; tất cả khổ hạnh khó làm như vậy viên mãn các Ba la mật, chứng nhập các Bồ tát trí, thành tựu Vô thượng Bồ đề, nhập vào Niết bàn, phân bủa xá lợi, bao nhiêu thiện căn ấy tôi tùy hỷ tất cả. Tất cả sáu đường và bốn loài chúng sinh trong hết thảy thế giới khắp cả mười phương, có bao nhiêu công đức, dầu chỉ bằng một cực vi, tôi cũng tùy hỷ tất cả. Khắp mười phương, suốt ba đời, tất cả các vị Thanh văn, Duyên giác, còn tu học, hết tu học, có bao nhiêu công đức, tôi cũng tùy hỷ tất cả. Vô lượng khổ hạnh khó làm, chí cầu Vô thượng Bồ đề, và công đức rộng lớn, của hết thảy Bồ tát tu hành, tôi cũng tùy hỷ tất cả. Như vậy, dầu hư không cùng tận, chúng sinh cùng tận, nghiệp của chúng sinh cùng tận, phiền não của chúng sinh cùng tận, sự tùy hỷ của tôi cũng không cùng tận, liên tục trong từng sát na, không có gián đoạn, cả thân miệng ý không hề chán mệt.

    Thiện nam tử, [thứ sáu] xin chuyển pháp luân là bao nhiêu cực vi của những thế giới khắp mười phương, suốt ba đời, cùng pháp giới và hư không giới, mỗi cực vi là một thế giới rộng lớn, nhiều bằng số lượng cực vi của những thế giới đến hai lần không thể nói. Trong mỗi thế giới ấy, mỗi sát na có chư vị Phật đà nhiều bằng số lượng cực vi của những thế giới đến hai lần không thể nói, đều thành bậc Đẳng chánh giác, với hải hội Bồ tát vây quanh; nhưng tôi toàn đem ba nghiệp thân miệng ý, dùng mọi phương cách, mà thiết tha khuyên mời các ngài chuyển đẩy diệu pháp luân. Như vậy, dẫu hư không cùng tận, chúng sinh cùng tận, nghiệp của chúng sinh cùng tận, phiền não của chúng sinh cùng tận, sự thường xuyên khuyên mời chư Phật chuyển đẩy chánh pháp luân của tôi cũng không cùng tận, liên tục trong từng sát na, không có gián đoạn, cả thân miệng ý không hề chán mệt.

    Thiện nam tử, [thứ bảy] xin Phật ở đời là đối với bao nhiêu chư vị Như Lai nhiều bằng số lượng cực vi của những thế giới khắp mười phương, suốt ba đời, cùng tận pháp giới và hư không giới, ý muốn thị hiện nhập vào Niết bàn, đối với chư vị Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác, còn tu học, hết tu học, cho đến hết thảy các bậc thiện tri thức, tôi đều khuyên mời đừng nhập Niết bàn, hãy sống với những thời kỳ nhiều bằng số lượng cực vi của tất cả thế giới, để lợi ích yên vui cho tất cả chúng sinh. Như vậy, dẫu hư không cùng tận, chúng sinh cùng tận, nghiệp của chúng sinh cùng tận, phiền não của chúng sinh cùng tận, sự khuyên mời này của tôi cũng không cùng tận, liên tục trong từng sát na, không có gián đoạn, cả thân miệng ý không hề chán mệt.

    Thiện nam tử, [thứ tám] thường học theo Phật là như đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai của thế giới Sa bà này, ngay khi mới phát tâm, đã tinh tiến không thoái chuyển, đem thân mạng nhiều đến hai lần không thể nói mà bố thí; lột da làm giấy, chẻ xương làm bút, chích huyết làm mực, sao chép kinh điển chất bằng Tu di, vì tôn trọng chánh pháp mà thân mạng còn không tiếc, huống chi ngôi vua, hoàng thành, đô thị, thôn xóm, cung điện, hoa viên, lâm viên, và tất cả những vật sở hữu. Cọng với bao khổ hạnh khó làm khác, cho đến ngồi dưới Bồ đề thọ, thành tựu đại Bồ đề, thị hiện các thứ thần thông, phát khởi những sự biến hóa, biến thể các loại Phật thân, ở giữa các loại đại hội: hoặc ở giữa đạo tràng đại hội của chư vị đại Bồ tát, hoặc ở giữa đạo tràng đại hội của chư vị Thanh văn, Duyên giác, hoặc ở giữa đạo tràng đại hội của chư vị luân vương, quốc vương và hoàng gia của họ, hoặc ở giữa đạo tràng đại hội của sát đế lợi, bà la môn, trưởng giả, cư sĩ, cho đến hoặc ở giữa đạo tràng đại hội của tám bộ thiên long, nhân loại và loài khác, ở giữa những đại hội như vậy mà đem tiếng nói viên mãn vang lên như sấm lớn, tùy ý thích của chúng sinh mà thành thục cho họ; cho đến thị hiện nhập vào Niết bàn, tất cả [những việc Phật làm] như vậy tôi đều theo mà học tập. Y như đối với đức Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na hiện nay, thì cũng như vậy mà đối với hết thảy chư vị Như Lai nhiều bằng số lượng cực vi của tất cả thế giới khắp mười phương, suốt ba đời, cùng tận pháp giới và hư không giới, trong từng sát na, tôi toàn theo mà học tập. Như vậy, dầu hư không cùng tận, chúng sinh cùng tận, nghiệp của chúng sinh cùng tận, phiền não của chúng sinh cùng tận, sự thường học theo Phật của tôi cũng không cùng tận, liên tục trong từng sát na, không có gián đoạn, cả thân miệng ý không hề chán mệt.

    Thiện nam tử, [thứ chín] hằng thuận chúng sinh là bao nhiêu chúng sinh trong biển cả thế giới khắp mười phương, cùng tận pháp giới và hư không giới, có những chủng loại khác nhau: có những loại sinh bằng trứng, bằng thai, bằng thấp khí, bằng biến thể, có những loại dựa vào đất nước lửa gió mà sinh sống, có những loại dựa vào hư không hay các loại cỏ cây mà sinh sống; đủ loại cách sinh, đủ loại màu sắc, đủ loại hình dáng, đủ loại tướng mạo, đủ loại tuổi thọ, đủ loại chủng tộc, đủ loại tên gọi, đủ loại tâm tính, đủ loại thấy biết, đủ loại ưa thích, đủ loại ý thức, đủ loại cử động, đủ loại phục sức, đủ loại ẩm thực; ở nơi đủ loại làng xóm, đô thị, kinh thành, cung điện; cho đến tất cả tám bộ thiên long, nhân loại và loài khác, không chân, hai chân, bốn chân, nhiều chân, có hình sắc, không hình sắc, có tư tưởng, không tư tưởng, không phải có tư tưởng, không phải không có tư tưởng; tất cả chủng loại như vậy, đối với họ tôi đều tùy thuận cả: tôi phụng sự đủ cách, cung dưỡng đủ cách, kính như kính cha mẹ, thờ như thờ sư trưởng, thờ La hán, cho đến như thờ Như Lai, đồng đẳng không có gì khác cả. Bằng cách ai bịnh khổ thì tôi làm thầy thuốc giỏi, ai lạc đường thì tôi chỉ cho đường chính, trong đêm tối thì tôi làm ánh sáng, nghèo khốn thì tôi làm cho được kho tàng giấu trong lòng đất. Bồ tát hãy bình đẳng lợi ích chúng sinh như vậy, tại sao, vì Bồ tát có thể tùy thuận chúng sinh thì thế là tùy thuận hiến cúng Phật đà, tôn trọng phụng sự chúng sinh thì thế là tôn trọng phụng sự Như Lai, làm cho chúng sinh vui vẻ thì thế là làm cho Như Lai vui vẻ. Tại sao? Vì chư vị Như Lai thì lấy tâm đại bi làm bản thể, mà do chúng sinh mới có tâm đại bi, do tâm đại bi mới có tâm bồ đề, do tâm bồ đề mới thành Chánh giác. Tựa như đại thụ ở trong đồng nội hay sa mạc mênh mông, đại thụ ấy nếu rễ được nước thì nhánh lá hoa quả đều sum sê tươi tốt. Bồ đề đại thụ ở trong đồng nội sinh tử mênh mông cũng là như vậy, lấy chúng sinh làm rễ, lấy chư Phật chư Bồ tát làm hoa làm trái, đem nước đại bi lợi ích chúng sinh thì sinh ra hoa trái tuệ giác là chư Phật Bồ tát, tại sao, vì nếu Bồ tát đem nước đại bi lợi ích chúng sinh thì thế là thành tựu vô thượng bồ đề. Do vậy, bồ đề là thuộc về chúng sinh, không chúng sinh thì các vị Bồ tát không bao giờ có thể thành tựu vô thượng bồ đề. Thiện nam tử, đối với ý nghĩa ấy ông hãy lý giải như vầy: đối với chúng sinh mà tâm lý bình đẳng thì có thể thành tựu lòng đại bi viên mãn, đem lòng đại bi tùy thuận chúng sinh thì thế là thành tựu sự hiến cúng chư vị Như Lai. Bồ tát tùy thuận chúng sinh như vậy, dẫu hư không cùng tận, chúng sinh cùng tận, nghiệp của chúng sinh cùng tận, phiền não của chúng sinh cùng tận, sự tùy thuận ấy cũng không cùng tận, liên tục trong từng sát na, không có gián đoạn, cả thân miệng ý không hề chán mệt.

    Thiện nam tử, [thứ mười] hồi hướng khắp cả là từ sự lễ kính cho đến sự hồi hướng có bao công đức, tôi đều hồi hướng cho hết thảy chúng sinh cùng tận pháp giới và hư không giới, nguyện nhờ công đức ấy mà làm cho chúng sinh thường được yên vui, không mọi bịnh khổ, muốn làm việc ác thì bất thành tất cả, muốn tu điều thiện thì mau thành hết thảy, đóng chặt cửa ngõ của các nẻo ác, mở bày đường chính của nhân loại chư thiên và niết bàn. Nếu chúng sinh vì làm bao nghiệp dữ mà bị những quả khổ nặng nề thì tôi chịu thay hết cho họ, làm cho họ được giải thoát, cứu cánh thành đạt vô thượng bồ đề. Bồ tát tu tập sự hồi hướng như vậy, dầu hư không cùng tận, chúng sinh cùng tận, nghiệp của chúng sinh cùng tận, phiền não của chúng sinh cùng tận, sự hồi hướng ấy cũng không cùng tận, liên tục trong từng sát na, không có gián đoạn, cả thân miệng ý không hề chán mệt.

    Thiện nam tử, như vậy gọi là mười đại nguyện của Bồ tát đại sĩ viên mãn đầy đủ. Nếu các vị Bồ tát tùy thuận mà đi mau vào mười đại nguyện ấy thì có thể thành thục tất cả chúng sinh, thì có thể tùy thuận vô thượng bồ đề, thì có thể thành tựu đầy đủ biển cả hạnh nguyện của Phổ Hiền đại sĩ. Do vậy, Thiện nam tử, đối với ý nghĩa ấy ông hãy nhận thức như vầy: Nếu có thiện nam hay thiện nữ nào đem bảy thứ quí báu loại thượng hạng và tinh tế, cùng với đồ dùng đem lại hạnh phúc hơn hết cho nhân loại và chư thiên, đầy những thế giới nhiều bằng số lượng cực vi của những thế giới khắp cả mười phương, vô lượng vô biên, hai lần không thể nói, bố thí cho chúng sinh trong những thế giới cũng nhiều như trên, hiến cúng chư vị Phật đà và chư vị Bồ tát trong những thế giới cũng nhiều như trên, và trải qua những thời kỳ nhiều bằng số lượng cực vi của những thế giới cũng nhiều như trên, liên tục không ngừng; nhưng công đức người ấy đạt được, đem đối chiếu với công đức đạt được của người nghe mười nguyện vương này một lần lướt qua thính giác, thì công đức người trước không bằng một phần trăm, không bằng một phần ngàn, cho đến một phần cực vi cũng không bằng. Đối với mười đại nguyện này, có ai đem lòng tin sâu xa mà tiếp nhận, ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, cho đến chỉ sao chép được một bài chỉnh cú bốn câu[9], cũng mau chóng diệt được năm tội vô gián, bao nhiêu khổ não trong đời như thân bịnh tâm bịnh vân vân, cho đến tất cả nghiệp dữ nhiều bằng số lượng cực vi của thế giới cũng được tiêu diệt cả; tất cả quân đội của ma vương, quỷ ăn thịt người, quỷ bạo ác, quỷ ăn tinh khí, quỷ điên cuồng, quỷ ăn thịt người loại tự hóa sinh[10], những quỷ ác thần ác uống huyết ăn thịt như vậy đều tránh xa người ấy, hoặc có khi phát tâm thân gần hộ vệ. Thế nên người nào tụng được thuộc lòng mười nguyện vương thì đi trong đời này không có gì trở ngại. Người ấy như vầng trăng đã ra khỏi mây mù che khuất. Người ấy được chư vị Phật đà và chư vị Bồ tát tán dương ca tụng. Người ấy, tất cả nhân loại và chư thiên nên lạy và tôn kính. Người ấy, tất cả chúng sinh cùng nên hiến cúng. Người ấy khéo làm thân người, đầy đủ công đức của Phổ Hiền đại sĩ, không bao lâu sẽ như Phổ Hiền đại sĩ, mau chóng được cái sắc thân nhiệm mầu, đủ cả ba mươi hai tướng của bậc đại trượng phu. Người ấy nếu sinh trong nhân loại hay chư thiên thì ở đâu cũng thuộc dòng họ hơn hết, phá hoại được tất cả đường ác, tránh xa được tất cả bạn dữ, chế ngự được tất cả ngoại đạo, giải thoát được tất cả phiền não. Người ấy như sư tử chúa làm cho các loài thú vật phải khuất phục. Người ấy kham nhận sự hiến cúng của tất cả chúng sinh.

    Lại nữa, người ấy khi sắp chết, sát na sau cùng thì tất cả giác quan đều hư hỏng, tất cả thân nhân đều rời bỏ, tất cả uy thế đều tan mất, [và dầu là vua đi nữa, lúc ấy] tể tướng, đại thần, nội cung, ngoại thành, voi ngựa, xe cộ, vàng ngọc, kho tàng trong lòng đất, tất cả không ai và không gì đi theo. Chỉ có mười nguyện vương này không hề rời bỏ người ấy, lúc nào cũng hướng dẫn trước mắt. Và trong một sát na, người ấy tức khắc được sinh thế giới Cực lạc. Sinh rồi tức khắc được thấy đức A Di Đà Phật, với các vị Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát, Quan Tự Tại Bồ tát, Di Lạc Bồ tát, và các vị Bồ tát đồng đẳng, sắc tướng trang nghiêm, công đức toàn hảo, cùng nhau vây quanh Ngài. Người ấy lại tự thấy bản thân sinh trong hoa sen và được đức A Di Đà Phật thọ ký cho. Được thọ ký rồi, trải qua vô số trăm ngàn vạn ức triệu thời kỳ, khắp trong thế giới nhiều đến hai lần không thể nói, đem sức mạnh trí tuệ, tùy tâm ý chúng sinh mà ích lợi cho họ, và không bao lâu sẽ ngồi nơi Bồ đề tràng, chiến thắng quân đội của ma vương, thành bậc Đẳng Chánh Giác, chuyển đẩy diệu pháp luân, làm cho chúng sinh trong những thế giới nhiều bằng số lượng cực vi thế giới phát Bồ đề tâm, tùy trình độ của chúng sinh mà giáo hóa cho họ thành thục, cho đến cùng tận biển cả thời kỳ vị lai, lợi ích toàn diện cho tất cả chúng sinh. Thiện nam tử, những ai nghe và tin mười đại nguyện vương[11] này, tiếp nhận, ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, giảng nói cho người, thì công đức người ấy có được, ngoại trừ chư vị Thế Tôn không ai biết hết. Thế nên các người nghe mười đại nguyện vương này đừng có hoài nghi, mà nên tiếp nhận cho chắc chắn, tiếp nhận rồi có thể đọc xét văn nghĩa, đọc xét văn nghĩa rồi có thể tụng được thuộc lòng, tụng được thuộc lòng rồi có thể ghi nhớ, cho đến sao chép, giảng nói cho người. Những người như vậy, ngay trong một sát na mà mọi hạnh nguyện đều viên thành, cái khối phước đức mà họ thu hoạch thì vô lượng vô biên. Trong biển khổ phiền não to lớn, họ cứu vớt cho chúng sinh thoát khỏi và cùng được vãng sanh thế giới Cực lạc của đức A Di Đà Phật.

    Lúc bấy giờ Phổ Hiền đại sĩ muốn lập lại ý nghĩa đã nói, nên nhìn khắp tất cả khu vức mà nói những lời chỉnh cú sau đây:

    (1)      Hết thảy chư Phật
    trong ba thì gian
    tại các thế giới
    khắp cả mười phương,
    tôi vận dụng cả
    ba nghiệp trong sạch
    kính lạy khắp cả
    không có thiếu sót.

    (2)      Năng lực uy thần
    của hạnh Phổ Hiền
    làm tôi hiện khắp
    trước chư Như Lai,
    một thân lại hiện
    thân như cực vị,
    lạy khắp chư Phật
    cũng như cực vi.

    (3)      Trong một cực vi
    có chư Phật đà
    nhiều bằng cực vị,
    và đều ở trong
    chúng hội Bồ tát;
    cực vi tất cả
    pháp giới vô tận
    cũng là như vậy,
    tâm tôi tin Phật
    thật sâu và đầy.

    (4)      Nên biển âm thanh
    tôi vận dụng cả,
    xuất ra vô tận
    lời chữ nghiệm mầu,
    cùng tận thời kỳ
    của thì vị lai
    tán dương biển cả
    công đức của Phật.

    (5)      Tôi đem vòng hoa
    tốt đẹp hơn hết,
    âm nhạc, hương hoa,
    tàn lọng, bảo cái,
    những đồ trang hoàng
    hơn hết như vậy,
    tôi đem hiến cúng
    chư vị Như Lai.

    (6)      Y phục hơn hết,
    hương liệu hơn hết,
    hương bột, hương đốt,
    cùng với đèn đuốc,
    tất cả đều như
    Diệu cao núi lớn,
    tôi đem hiến cúng
    chư vị Như Lai.

    (7)      Tôi đem cái biết
    cao rộng hơn hết
    tin tưởng sâu xa
    tam thế chư Phật,
    vận dụng sức mạnh
    hạnh nguyện Phổ Hiền
    mà khắp hiến cúng
    chư vị Như Lai.

    (8)      Bao nhiêu nghiệp dữ
    xưa kia tôi làm,
    đều bởi vô thỉ
    những tham sân si,
    động thân miệng ý
    mà phát sinh ra,
    ngày nay tôi nguyện
    sám hối tất cả.

    (9)      Mười phương hết thảy
    các loại chúng sinh,
    cùng với các vị
    Thanh văn, Duyên giác,
    Tu học tiếp tục,
    Tu học hoàn tất,
    tất cả Như Lai,
    cùng với Bồ tát,
    công đức có gì
    tôi tùy hỷ cả.

    (10)    Mười phương đâu có
    Ngọn đèn thế giới
    khi mới thành tựu
    tuệ giác vô thượng,
    tôi xin thỉnh cầu
    tất cả các Ngài
    chuyển đẩy bánh xe
    diệu pháp tối thượng.

    (11)    Chư vị Như Lai
    muốn hiện niết bàn,
    thì tôi chí thành
    thỉnh cầu các Ngài
    sống với đời kiếp
    nhiều như cực vi,
    để làm lợi lạc
    hết thảy chúng sinh.

    (12)    Lạy Phật, khen Phật
    và hiến cúng Phật[i],
    xin Phật ở đời
    và chuyển pháp luân,
    tùy hỷ, sám hối,
    bao thiện căn ấy,
    tôi đem hồi hướng
    lợi ích chúng sinh
    có nghĩa hồi hướng
    nguyện thành trí Phật[ii].

    (13)    Tôi theo mà học
    chư vị Như Lai,
    tu tập tất cả
    hạnh nguyện Phổ Hiền,
    phụng sự quá khứ
    chư vị Như Lai,
    cùng với hiện tại
    chư vị Phật đà,

    (14)    vị lai các bậc
    Thầy của trời người,
    bao nhiêu ý nguyện
    đều viên mãn cả,
    tôi nguyện học tập
    tam thế chư Phật,
    để mau hoàn thành
    tuệ giác vô thượng.[iii]

    (15)    Tất cả thế giới
    khắp cả mười phương
    rộng lớn trong sạch
    nhiệm mầu trang nghiêm,
    ở đâu cũng có
    đại hội Bồ tát
    bao quanh chư Phật,
    trong khi chư Phật
    cùng ngồi dưới cây
    bồ đề đại thọ.

    (16)    Cầu nguyện chúng sinh
    khắp cả mười phương
    thoát hết lo sợ
    thường hưởng yên vui,
    thu hoạch lợi ích
    của Pháp sâu xa,
    diệt trừ phiền não
    không còn thừa sót[iv].

    (17)    Khi tôi tu tập[v]
    vì đại bồ đề
    thì ở loài nào
    cũng biết đời trước,
    thường được xuất gia
    nghiêm giữ tịnh giới,
    không để giới thể
    bị dơ bị vỡ
    hay bị xuyên thủng
    hoặc bị sơ suất[vi].

    (18)    Tất cả chư thiên
    cùng với quỷ thần,
    hết thảy nhân loại
    và bao loài khác,
    bao nhiêu chúng sinh
    bao nhiêu tiếng nói,
    tôi dùng tiếng ấy
    mà thuyết pháp cho.

    (19)    Siêng tu các pháp
    ba la mật đa
    cực kỳ trong sáng,
    thường xuyên chuyên chú
    không để quên mất
    tâm đại bồ đề,
    diệt trừ dơ bẩn
    không cho sót lại,
    viên thành tất cả
    hạnh nguyện nhiệm mầu.

    (20)    Đối với mê lầm
    cùng với nghiệp dữ,
    đối với cảnh ngộ
    hiện thân ma vương,
    trong cõi đời này
    mà được siêu thoát,
    tựa như hoa sen
    không hề dính nước,
    cũng như nhật nguyệt
    không vướng không gian.

    (21)    Tận trừ toàn bộ
    nỗi khổ đường dữ,
    bình đẳng cho vui
    bao loại sinh linh,
    trải qua thời kỳ
    nhiều như cực vi,
    lợi ích mười phương
    không có cùng tận.

    (22)    Tôi hằng tùy thuận
    các loại chúng sinh,
    cùng tận thời kỳ
    của thì vị lai,
    thường xuyên tu tập
    hạnh nguyện Phổ Hiền
    cực kỳ rộng lớn,
    viên mãn thành tựu
    tuệ giác bồ đề
    cực kỳ tối thượng.

    (23)    Bao nhiêu những người
    đồng hành với tôi,
    nguyện ở chỗ nào
    cũng thường gặp nhau,
    thân miệng và ý
    đều như nhau cả,
    cùng nhau tu học
    hết thảy hạnh nguyện.

    (24)    Những thiện tri thức
    lợi ích cho tôi,
    chỉ dẫn cho tôi
    hạnh nguyện Phổ Hiền,
    cũng nguyện thường xuyên
    được gặp gỡ nhau,
    lại nguyện thường xuyên
    hoan hỷ cho tôi.

    (25)    Nguyện thường nhìn thấy
    chư vị Như Lai,
    cùng chư Bồ tát
    vây quanh các Ngài,
    đối với các Ngài
    nguyện hiến cúng lớn,
    cùng tận vị lai
    không biết chán mệt.

    (26)    Nguyện được duy trì
    pháp mầu của Phật,
    làm cho rực rỡ
    hạnh nguyện bồ đề,
    trong sạch rốt ráo
    đường đi Phổ Hiền,
    cùng tận vị lai
    thường xuyên tu tập.

    (27)    Ở trong tất cả
    thế giới ba cõi,
    tôi tu phước trí
    thường xuyên vô tận,
    định tuệ phương tiện
    cùng với giải thoát,
    được kho công đức
    vô tận như vậy.

    (28)    Mỗi một cực vi
    có số thế giới
    nhiều bằng cực vi,
    mỗi một thế giới
    có các đức Phật
    khó thể nghĩ thấu,
    mỗi một đức Phật
    đều ở chính giữa
    đại hội Bồ tát,
    và tôi nhìn thấy
    các Ngài thường nói
    hạnh nguyện bồ đề.

    (29)    Biển cả thế giới
    khắp mười phương hướng,
    biển cả thì gian
    nhiều bằng đầu lông[vii],
    biển cả Phật đà,
    biển cả quốc độ,
    biển cả thời kỳ
    mà tôi tu hành.

    (30)    Chư vị Như Lai
    lời tiếng trong sáng,
    mỗi tiếng đủ hết
    biển cả âm thanh,
    những lời tiếng ấy
    tùy ý chúng sinh,
    mỗi tiếng xuất ra
    biển cả hùng biện.

    (31)    Chư vị Như Lai
    trong ba thì gian,
    vận dụng vô tận
    biển cả lời tiếng,
    thường chuyển pháp luân
    lý thú nhiệm mầu,
    nhưng trí tuệ lực
    sâu xa của tôi
    có thể hội nhập
    một cách toàn diện.

    (32)    Tôi thấu hiểu được
    toàn thể thời kỳ
    của thì vị lai
    là một sát na,
    tôi cũng thấu hiểu
    toàn thể thời kỳ
    cả ba thì gian
    là một sát na.

    (33)    Trong một sát na
    mà tôi thấy hết
    tất cả chư Phật
    trong ba thì gian,
    tôi thường thấu hiểu
    lĩnh vực của Phật
    thể chứng các pháp
    toàn như ảo thuật,
    giải thoát cao sâu,
    uy lực hùng mãnh.

    (34)    Nơi mỗi cực vi
    trên đầu sợi lông,
    xuất hiện thế giới
    quá khứ hiện tại
    cùng với vị lai
    cực kỳ trang nghiêm.
    Thế giới mười phương
    nhiều như cực vi
    trên đầu sợi lông,
    tôi thâm nhập cả
    mà làm toàn thể
    trang nghiêm trong sạch.

    (35)    Cùng tận vị lai
    có bao Phật đà
    thành vô thượng giác
    chuyển chánh pháp luân
    mở mắt quần sinh
    ở trong ba cõi,
    việc Phật hoàn tất
    thị hiện niết bàn,
    tôi đều đi đến
    thân gần phụng sự.

    (36)    Năng lực thần thông
    đến mau khắp cả,
    năng lực đại thừa
    biến thể toàn diện,
    năng lực công đức
    tu hết trí hạnh,
    năng lực đại từ
    che hết chúng sinh,

    (37)    năng lực thắng phước
    trang hoàng khắp nơi,
    năng lực thắng trí
    không hề vướng mắc,
    năng lực uy thần
    đủ mọi phương tiện[viii],
    năng lực bồ đề
    qui tụ hết thảy,

    (38)    năng lực thiện nghiệp
    làm sạch tất cả,
    năng lực diệt trừ
    tất cả phiền não,
    năng lực chiến thắng
    tất cả ma quân,
    năng lực viên mãn
    hạnh nguyện Phổ Hiền[ix];

    (39)    trang hoàng sạch sẽ
    biển cả thế giới,
    giải thoát hết thảy
    biển cả chúng sinh,
    khéo léo phân biệt
    biển cả các pháp,
    nhập vào sâu xa
    biển cả trí tuệ,

    (40)    làm trong sáng hết
    biển cả đại hạnh,
    làm đầy đủ cả
    biển cả đại nguyện,
    thân gần hiến cúng
    biển cả Phật đà,
    tu không mệt mỏi
    biển cả thời kỳ.

    (41)    Bao nhiêu hạnh nguyện
    tuệ giác tối thượng
    của chư Như Lai
    trong ba thì gian,
    tôi tôn thờ cả
    và tu đầy đủ:
    vận dụng tất cả
    hạnh nguyện Phổ Hiền
    tôi giác ngộ được
    vô thượng bồ đề.

    (42)    Tất cả Như Lai
    đều có trưởng tử,
    cùng một danh hiệu
    danh hiệu Phổ Hiền[x];
    nay tôi hồi hướng
    bao nhiêu thiện căn[xi],
    nguyện bao trí tuệ
    đồng đẳng các vị.

    (43)    Cả thân miệng ý
    thường xuyên trong sáng,
    hạnh nguyện, quốc độ,
    cũng đều như vậy:
    trí tuệ đến thế
    nên tên Phổ Hiền,
    nguyện tôi đồng đẳng
    với các vị ấy.

    (44)    Tôi vì trong sáng
    hạnh nguyện Phổ Hiền,
    nên bao hạnh nguyện
    của ngài Văn Thù,
    tôi tu đủ cả
    không có thiếu sót,
    cùng tận vị lai
    không hề mỏi mệt.

    (45)    Sự tu của tôi
    không có hạn lượng,
    công đức đạt được
    cũng không số lượng;
    đứng vững ở trong
    vô lượng hạnh nguyện,
    tôi thấu triệt hết
    bao thần thông lực.

    (46)    Trí hạnh Văn Thù
    cực kỳ dũng mãnh,
    tuệ hạnh Phổ Hiền
    cũng là như vậy;
    nay tôi hồi hướng
    bao nhiêu thiện căn,
    để theo các ngài
    thường xuyên tu học.

    (47)    Các đại nguyện vương
    tối thắng như vầy
    được sự ca tụng
    của chư Như Lai,
    nay tôi hồi hướng
    bao nhiêu thiện căn
    để được hạnh nguyện
    Phổ Hiền tối thượng[xii].

    (48)    Nguyện tôi trong lúc
    sinh mệnh sắp chết,
    thì loại được cả
    mọi sự trở ngại,
    trực tiếp nhìn thấy
    đức A Di Đà,
    tức khắc được sinh
    thế giới Cực lạc.

    (49)    Tôi đã sinh ra
    thế giới ấy rồi,
    trước mắt thành tựu
    đại nguyện vương này,
    thành tựu đầy đủ
    không có thiếu sót,
    lợi lạc tất cả
    thế giới chúng sinh.

    (50)    Bồ tát hải hội
    của đức Di Đà
    ai cũng trong sạch,
    còn tôi lúc ấy
    hóa sinh ở trong
    hoa sen tối thắng,
    đích thân nhìn thấy
    đức A Di Đà,
    và ngài đối diện
    thọ ký cho tôi
    thành tựu tuệ giác
    vô thượng bồ đề.

    (51)    Nhờ ơn của ngài
    thọ ký cho rồi,
    tôi liền biến thể
    vô số thân hình,
    với trí tuệ lực
    cực kỳ rộng lớn,
    tôi làm lợi lạc
    tất cả chúng sinh.

    (52)    Hư không cho đến
    phiền não cùng tận,
    đại nguyện của tôi
    mới có cùng tận,
    nhưng bốn thứ ấy
    không có cùng tận,
    đại nguyện của tôi,
    cũng không cùng tận.

    (53)    Ai đem bảo vật
    đầy cả thế giới
    khắp mười phương hướng
    mà hiến cúng Phật,
    lại cho trời người
    hạnh phúc tuyệt vời,
    và làm như vậy
    trải qua thời kỳ
    bằng số cực vi
    của mọi thế giới;

    (54)    và ai đối với
    đại nguyện vương này
    một lần nghe đến
    mà sinh tin tưởng,
    với sự khao khát
    Vô thượng Bồ đề,
    thì được công đức
    quá hơn người trước.

    (55)    Và rồi xa rời
    bạn bè xấu ác,
    với lại xa hẳn
    các nẻo đường dữ,
    mau chóng nhìn thấy
    đức A Di Đà,
    và đủ hạnh nguyện
    Phổ Hiền tối thượng.

    (56)    Người ấy khéo được
    đời sống đặc thù,
    người ấy khéo sinh
    ở trong loài người,
    người ấy không lâu
    sẽ được hoàn thành
    hạnh nguyện y như
    Phổ Hiền đại sĩ.

    (57)    Nếu mà xưa kia
    không có trí tuệ
    nên tạo năm tội
    địa ngục Vô gián,
    nhưng nếu ngày nay
    tụng đại nguyện vương
    của đức Phổ Hiền,
    thì một sát na
    tiêu diệt tức thì
    năm tội như vậy.

    (58)    Lại còn toàn hảo
    dòng họ, thành phần,
    sắc tướng, trí tuệ,
    quân đội ma vương[xiii]
    và những ngoại đạo
    không thể đánh đổ,
    kham được ba cõi
    cùng nhau hiến cúng.

    (59)    Và mau đến ngồi
    dưới Bồ đề thọ,
    chiến thắng các đạo
    quân đội ma vương,
    thành Đẳng chánh giác
    chuyển diệu pháp luân,
    lợi lạc hết thảy
    các loại chúng sinh.

    (60)    Thế nên những ai
    đối với hạnh nguyện
    của đức Phổ Hiền
    mà biết tiếp nhận,
    ghi nhớ, đọc tụng,
    và nói cho người,
    thì được kết quả
    chỉ Phật mới biết,
    quyết định thực hiện
    Vô thượng Bồ đề.

    (61)    Người nào trì tụng
    hạnh nguyện Phổ Hiền,
    mà tôi nói về
    chút ít thiện căn,
    là một sát na
    họ đủ tất cả
    đại thanh tịnh nguyện
    tác thành chúng sinh.

    (62)       Hạnh nguyện Phổ Hiền
    tối thượng của tôi,
    vô biên thắng phước
    tôi hồi hướng cả,
    nguyện bao chúng sinh
    đang còn chìm đắm,
    mau chóng được sinh
    thế giới Cực lạc
    của đức Thế Tôn
    A Di Đà Phật.

    [i] Chính văn là “sở hữu lễ tán cúng dường Phật”. Câu này nếu nói rõ là sở hữu lễ Phật, tán Phật, cúng dường Phật. Vậy chữ Phật chữa thành chữ Phước là rất sai.

    [ii] Mười hai bài chỉnh cú này nói về 8 đại nguyện: 1-2 là lễ kính Phật đà; 3-4 là 2 tán dương Như Lai; 5-7 là 3 hiến cúng rộng lớn; 8 là 4 sám hối nghiệp chướng; 9 là 5 tùy hỷ công đức; 10 là 6 xin chuyển pháp luân; 11 là 7 xin Phật ở đời; 12 là, theo ý đại sư Thái Hư, nói trước một cách tổng quát về đại nguyện 10 hồi hướng khắp cả.

    [iii] Theo ý đại sư Thái Hư, các chỉnh cú 13-14 này là đại nguyện 8 thường học theo Phật.

    [iv] ) Theo ý đại sư Thái Hư, các chỉnh cú 15-16 này là đại nguyện 9 hằng thuận chúng sinh

    [v] Theo ý đại sư Thái Hư, các chỉnh cú 17-47 sau đây là đại nguyện 10 hồi hướng khắp cả, nói đầy đủ hơn. Tựu trung chia ra hai đoạn lớn: đoạn một, các chỉnh cú 17-38 là phát thêm 10 nguyện nhỏ, đoạn hai, các chỉnh cú 39-47 là tổng kết hồi hướng về 10 đại nguyện.

    [vi] Lậu, dịch đúng là rỉ lọt, mà ở đây là sai sót, sơ hở, sơ suất.

    [vii] Nghĩa là nhiều như cực vi trên đầu sợi lông.

    [viii] Dịch đủ: Thiền định, trí tuệ, phương tiện.

    [ix] Coi lại ghi chú 18. Ở đó đã nói các chỉnh cú 17-38 là phát thêm 10 nguyện nhỏ, đó là:
    1. 17-18 là nguyện hộ vệ chánh pháp,
    2. 19-20 là nguyện tự lợi lợi tha,
    3. 21-22 là nguyện thành thục chúng sinh,
    4. 23-24 là nguyện không rời đồng hành,
    5. 25-26 là nguyện hiến cúng chánh pháp,
    6. 27-28 là nguyện được lợi công đức,
    7. 29-31 là nguyện chuyển đẩy pháp luân,
    8. 32-33 là nguyện nhập cảnh giới Phật,
    9. 34-35 là nguyện phụng sự chư Phật,
    10. 36-38 là nguyện mau thành chánh giác.

    [x] Coi lại ghi chú 3. Tất cả chữ Phổ Hiền, trong trường hàng cũng như chỉnh cú, có 3 nghĩa. Một, có khi chỉ cho đức Phổ Hiền, thì viết hoa. Hai, đa số chỉ cho tính cách phổ hiền, thì viết thường. Ba, có khi chỉ cho các đức Phổ Hiền khác, thì cũng viết hoa.

    [xi] Chữ này, ở đây và ở dưới, là chỉ cho mười hạnh nguyện Phổ Hiền.

    [xii] Coi lại ghi chú 18. Ở đó đã nói, theo ý đại sư Thái Hư, các chỉnh cú 39-47 là tổng kết hồi hướng về 10 đại nguyện. Gồm lại, các chỉnh cú 17-47 là nói về đại nguyện 10 hồi hướng khắp cả.

    [xiii] Có 2 nghĩa, nghĩa chính là quân đội của ma vương thật; nghĩa nữa là dục vọng, cũng gọi là quân đội của ma vương. Chưa kể có nơi từ ngữ này còn nói đến cơ thể (ngũ âm) sự chết và phiền não.

  • Kinh Phật: TÂM KINH PHÁ CHƯỚNG [Heart Sutra to Avert Obstacles]

    Kinh Phật: TÂM KINH PHÁ CHƯỚNG [Heart Sutra to Avert Obstacles]

    Hạ tải văn bản:
    – [PDF – khổ giấy Letter] Tạng văn-Tạng Âm-Việt- Anh-Pháp 
    – [PDF – khổ giấy A4] Tạng văn-Tạng Âm-Việt- Anh

    Lab Kyabgon Rinpoche tụng Tạng ngữ,
    từ đầu đến hết Tâm Kinh (không có phần phá chướng ngại)

    |Tạng Văn – Tạng Âm – Việt – Anh – Pháp| Việt | Tạng Văn

    A. Tán Dương Bát Nhã Ba La Mật Đa
    – In Praise of Prajñāpāramitā
    – Louange à la Mère Prajnaparamita

    སྨྲ་བསམ་བརྗོད་མེད་ཤེས་རབ་ཕ་རོལ་ཕྱིན། །
    ma sam jö mé she-rab pa-rol chin
     
    Bát nhã ba la mật / vượt ngoài tầm nghĩ bàn
       
    Beyond words, beyond thought, beyond description, Prajñāpāramitā
          Prajñāpāramitā, ineffable, inpensable et inexprimable
    མ་སྐྱེས་མི་འགག་ནམ་མཁའི་ངོ་བོ་ཉིད། །
    ma-kyé min-gak nam-khé ngo-wo nyi
     
    không sinh, cũng không diệt / tự tánh của hư không
       
    Unborn, unceasing, the very essence of space
          sans naissance, ni cessation, l’essence même de l’espace
    སོ་སོ་རང་རིག་ཡེ་ཤེས་སྤྱོད་ཡུལ་བ། །
    so-so rang-rig ye-she chö-yul-wa
     
    và cũng là hành xứ / của trí giác bản nhiên
       
    Yet it can be experienced as the wisdom of our own rigpa:
          Elle est pourtant le domaine d’activité de la sagesse intrinsèque
    དུས་གསུམ་རྒྱལ་བའི་ཡུམ་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ། །
    dü sum gyal-wé yum la chak-tsal lo
     
    Mẹ của Phật ba thời / đệ tử xin kính lễ
       
    Homage to the mother of the buddhas of past, present and future!
          Hommage à la mère des Bouddhas des trois temps


    B. Chánh Văn Bát Nhã Tâm Kinh
    – The Sūtra of the Heart of Transcendent Wisdom
    – Le Soutra du Coeur de la Perfection de la Sagesse

    ༈ རྒྱ་གར་སྐད་དུ། བྷ་ག་བ་ཏི་པྲཛྙཱ་པཱ་ར་མི་ཏཱ་ཧྲི་ད་ཡ།
    gya-gar ké du Bhagavatī prajñāpāramitā hṛdaya
     
    Tựa đề tiếng Phạn: Bhagavatī prajñāpāramitā hṛdaya
       
    In the language of India: Bhagavatī prajñāpāramitā hṛdaya
          En Sanskrit: Bhagavatī prajñāpāramitā hṛdaya
    བོད་སྐད་དུ། བཅོམ་ལྡན་འདས་མ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པའི་སྙིང་པོ། །
    bö-ké du chom den de ma she-rab kyi pa-rol tu chin-pé nying po
     
    Tựa đề tiếng Tạng: chom den de ma she-rab kyi pa-rol tu chin-pé nying po
       
    In the language of Tibet: chom den de ma she-rab kyi pa-rol tu chin-pé nying po
          En Tibetain: chom den de ma she-rab kyi pa-rol tu chin-pé nying po
    བམ་པོ་གཅིག་གོ
    bam-po chik go
     
    Dài một phẩm.
       
    In a single segment.
          En un seul segment

    ༈ འདི་སྐད་བདག་གིས་ཐོས་པའི་དུས་གཅིག་ན་
    di kä dag gi thö päi dü chig na
     
    Tôi nghe như vầy: Một thời
       
    Thus did I hear at one time.
          Voici ce qu’une fois j’ai entendu.
    བཅོམ་ལྡན་འདས་རྒྱལ་པོའི་ཁབ་བྱ་རྒོད་ཕུང་པོའི་རི་ལ། དགེ་སློང་གི་
    chom dän dä gyäl pöi khab ja gö phung pöi ri la ge long gi
     
    đức Thế tôn ở thành Vương xá, đỉnh Linh thứu,
       
    The Bhagavan was dwelling on Mass of Vultures Mountain in Rajagriha
          Le Bhagavan se trouvait à Rajagriha, sur le Pic des Vautours, entouré d’une
    དགེ་འདུན་ཆེན་པོ་དང༌བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའི་དགེ་འདུན་ཆེན་པོ་དང་
    ge dün chhen po dang jang chhub sem päi ge dün chhen po dang
     
    cùng với đại tăng đoàn đại tỷ kheo và đại tăng đoàn đại Bồ tát.
       
    together with a great community of monks and a great community of bodhisattvas.
          grande congrégation de moines et d’une grande assemblée de bodhisattvas.
    ཐབས་ཅིག་ཏུ་བཞུགས་ཏེ། དེའི་ཚེ་བཅོམ་ལྡན་འདས་ཟབ་མོ་སྣང་བ་ཞེས་བྱ་བའི་
    thab chig tu zhug te dei tshe chom dän dä zab mo nang wa zhe ja wäi
     
    Lúc bấy giờ đức Thế tôn
       
    At that time, the Bhagavan was absorbed in the concentration
          A ce moment-là, le Bhagavan était absorbé en la concentration
    ཆོས་ཀྱི་རྣམ་གྲངས་ཀྱི་ཏིང་ངེ་འཛིན་ལ་སྙོམས་པར་ཞུགས་སོ།
    chhö kyi nam drang kyi ting nge dzin la nyom par zhug so
     
    nhập chánh định Minh Hiện Thậm Thâm.
       
    on the categories of phenomena called “Profound Perception.”
          sur les catégories de phénomènes, appelée « Perception Profonde ».
    ཡང་དེའི་ཚེ་བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའ་སེམས་དཔའ་ཆེན་པོ་འཕགས་པ་སྤྱན་རས་གཟིགས་
    Yang dei tshe jang chhub sem pa sem pa chhen po phag pa chän rä zig
     
    Cũng vào lúc bấy giờ, Đại bồ tát Ma ha tát Quan Tự Tại
       
    Also, at that time, the bodhisattva Mahasattva Arya Avalokiteshvara
          Au même moment, le bodhisattva mahasattva arya Avalokiteshvara
    དབང་ཕྱུག་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་ཟབ་མོའི་སྤྱོད་པ་ཉིད་ལ་རྣམ་པར་
    wang chhug she rab kyi pha röl tu chhin pa zab möi chö pa nyi la nam par
     
    quán chiếu hạnh Bát nhã ba la mật đa sâu xa,
       
    looked upon the very practice of the profound perfection of wisdom and
          contempla la pratique même de la profonde perfection de la sagesse
    བལྟ་ཞིང་ཕུང་པོ་ལྔ་པོ་དེ་དག་ལ་ཡང་རང་བཞིན་གྱིས་སྟོང་པར་རྣམ་པར་བལྟའོ།
    ta zhing phung po nga po de dag la yang rang zhin gyi tong par nam par ta o
     
    soi thấy cả năm uẩn cũng đều không tự tánh.
       
    beheld those five aggregates also as empty of inherent nature.
          et il vit que les cinq agrégats également étaient vides de nature propre.
    དེ་ནས་སངས་རྒྱས་ཀྱི་མཐུས་ཚེ་དང་ལྡན་པ་ཤཱ་རིའི་བུས་བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའ་
    de nä sang gyä kyi thü tshe dang dän pa sha ri bü, jang chhub sem pa
     
    Lúc ấy, nương vào Phật lực, tôn giả Xá Lợi Tử thưa rằng,
       
    Then, through the power of Buddha, the venerable Shariputra
          Puis, par le pouvoir du Bouddha, le vénérable Sharipoutra
    སེམས་དཔའ་ཆེན་པོ་འཕགས་པ་སྤྱན་རས་གཟིགས་དབང་ཕྱུག་ལ་འདི་སྐད་ཅེས་སྨྲས་སོ།
    sem pa chhen po phag pa chän rä zig wang chhug la di kä che mä so,
     
    Kính thưa Đại bồ tát Ma ha tát Quan Tự Tại,
       
    said this to the bodhisattva Mahasattva Arya Avalokiteshvara:
          s’adressa en ces termes au bodhisattva mahasattva arya Avalokiteshvara :
    རིགས་ཀྱི་བུ་གང་ལ་ལ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་ཟབ་མོའི་
    rig kyi bu, gang la la, she rab kyi pha rol tu chhin pa zab möi
     
    thiện nam nào muốn thực hành hạnh Bát nhã ba la mật sâu xa,
       
    “How should any son of the lineage train who wishes to
          « Les fils de la lignée désireux de pratiquer la profonde perfection de la sagesse,
    སྤྱད་པ་སྤྱོད་པར་འདོད་པ་དེས་ཇི་ལྟར་བསླབ་པར་བྱ། དེ་སྐད་ཅེས་སྨྲས་པ་དང༌།
    chä pa chö par dö pa de ji tar lab par ja, de kä che mä pa dang,
     
    phải nên tu như thế nào?
       
    practice the activity of the profound perfection of wisdom?”
          comment doivent-ils s’y prendre ? »
    བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའ་སེམས་དཔའ་ཆེན་པོ་འཕགས་པ་སྤྱན་རས་གཟིགས་
    jang chhub sem pa sem pa chhen po phag pa chän rä zig
     
    Nghe hỏi như vậy, Đại bồ tát Ma ha tát Quan Tự Tại
       
    He said that, and the bodhisattva Mahasattva Arya Avalokiteshvara
          Le bodhisattva mahasattva arya Avalokiteshvara
    དབང་ཕྱུག་གིས་ཚེ་དང་ལྡན་པ་ཤཱ་ར་དྭ་ཏིའི་བུ་ལ་འདི་སྐད་ཅེས་སྨྲས་སོ། །
    wang chhug gi tshe dang dän pa sha ra dva ti bu la di kä che mä so
     
    đáp lời tôn giả Xá lợi Tử như sau:
       
    said this to the venerable Sharadvatiputra.
          répondit alors au vénérable Sharadvatipoutra :
    ཤཱ་རིའི་བུ། རིགས་ཀྱི་བུ་འམ་རིགས་ཀྱི་བུ་མོ་གང་ལ་ལ་
    sha ri bu rig kyi bu am rig kyi bu mo gang la la
     
    Xá Lợi Tử, thiện nam thiện nữ nào
       
    “Shariputra, any son of the lineage or daughter of the lineage
          « Sharipoutra, les fils ou les filles de la lignée qui désirent pratiquer la profonde
    ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་ཟབ་མོའི་སྤྱད་པ་སྤྱོད་པར་འདོད་པ་དེས་
    she rab kyi pha röl tu chin pa zab möi chä pa chö par dö pa de
     
    muốn thực hành hạnh Bát nhã ba ma mật đa sâu xa,
       
    who wishes to practice the activity of the profound perfection of wisdom
          perfection de la sagesse doivent la considérer de la manière suivante ;
    འདི་ལྟར་རྣམ་པར་བལྟ་བར་བྱ་སྟེ་ཕུང་པོ་ལྔ་པོ་དེ་དག་ཀྱང་
    di tar nam par ta war ja te phung po nga po de dag kyang,
     
    phải thấy như thế này, thật sự thấy rằng đến cả năm uẩn ấy
       
    should look upon it like this, correctly and repeatedly
          ils doivent contempler, correctement et à maintes reprises,
    རང་བཞིན་གྱིས་སྟོང་པར་རྣམ་པར་ཡང་དག་པར་རྗེས་སུ་བལྟའོ །
    rang zhin gyi tong par nam par yang dag par je su ta o
     
    cũng đều không tự tánh.
       
    beholding those five aggregates also as empty of inherent nature.
          le fait que les cinq agrégats, eux aussi,sont vides de nature propre.
    གཟུགས་སྟོང་པའོ། སྟོང་པ་ཉིད་གཟུགས་སོ།
    Zug tong pa o, tong pa nyi zug so,
     
    Sắc tức là không, không tức là sắc;
       
    Form is empty. Emptiness is form.
          La forme est vide. La vacuité est la forme.
    གཟུགས་ལས་སྟོང་པ་ཉིད་གཞན་མ་ཡིན།
    zug lä tong pa nyi zhän ma yin
     
    không chẳng khác sắc,
       
    Emptiness is not other than form;
          La vacuité n’est pas autre que la forme et
    སྟོང་པ་ཉིད་ལས་ཀྱང་གཟུགས་གཞན་མ་ཡིན་ནོ། །
    tong pa nyi lä kyang zug zhän ma yin no
     
    sắc cũng chẳng khác không;
       
    form is also not other than emptiness.
          la forme n’est pas autre que la vacuité.
    དེ་བཞིན་དུ་ཚོར་བ་དང༌། འདུ་ཤེས་དང༌། འདུ་བྱེད་དང༌།
    de zhin du tshor wa dang, du she dang, du je dang
     
    tương tự như vậy, thọ, tưởng, hành,
       
    In the same way, feeling, discrimination, compositional factors,
          De même, la sensation, l’identification, les facteurs composés et
    རྣམ་པར་ཤེས་པ་རྣམས་སྟོང་པའོ། །
    nam par she pa nam tong pa’o
     
    thức [1] hết thảy đều không.
       
    and consciousness are empty.
          la conscience sont-ils vides.
    ཤཱ་རིའི་བུ། དེ་ལྟར་ཆོས་ཐམས་ཅད་སྟོང་པ་ཉིད་དེ། མཚན་ཉིད་མེད་པ།
    Sha ri bu, de tar chhö tham chä tong pa nyi de, tshän nyi me pa,
     
    Xá Lợi Tử, vậy các pháp đều là không, không có tướng:
       
    “Shariputra, likewise, all phenomena are emptiness; without characteristic;
          Sharipoutra, ainsi tous les phénomènes sont-ils vacuité ; ils sont sans
    མ་སྐྱེས་པ། མ་འགག་པ། དྲི་མ་མེད་པ། དྲི་མ་དང་བྲལ་བ།
    ma kye pa, ma gag pa, dri ma me pa, dri ma dang dräl wa,
     
    không sanh, không diệt; không dơ, không sạch;
       
    unproduced, unceased; stainless, not without stain;
          caractéristique ; ils ne naissent ni ne cessent ; ne sont ni souillés ni non souillés ;
    བྲི་བ་མེད་པ། གང་བ་མེད་པའོ། །
    dri wa me pa, gang wa me pa’o
     
    không giảm, không tăng.
       
    not deficient, not fulfilled.
          ni déficients, ni parfaits.
    ཤཱ་རིའི་བུ། དེ་ལྟ་བས་ན་སྟོང་པ་ཉིད་ལ་
    Sha ri bu, de ta wä na, tong pa nyi la
     
    Xá Lợi Tử, thế nên trong không,
       
    “Shariputra, therefore, in emptiness there is
          En conséquence, Sharipoutra, dans la vacuité il n’y a
    གཟུགས་མེད། ཚོར་བ་མེད། འདུ་ཤེས་མེད། འདུ་བྱེད་རྣམས་མེད། རྣམ་པར་ཤེས་པ་མེད།
    zug me, tshor wa me, du she me, du je nam me, nam par she pa me,
     
    không sắc, thọ, tưởng, hành, thức;
       
    no form, no feeling, no discrimination, no compositional factors, no consciousness;
          ni forme, ni sensation, ni identification, ni facteurs composés, ni conscience ;
    མིག་མེད། རྣ་བ་མེད། སྣ་མེད། ལྕེ་མེད། ལུས་མེད། ཡིད་མེད།
    mig me, na wa me, na me, che me, lü me, yi me,
     
    không nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý [2];
       
    no eye, no ear, no nose, no tongue, no body, no mind;
          ni œil, ni oreille, ni nez, ni langue, ni corps, ni mental ;
    གཟུགས་མེད། སྒྲ་མེད། དྲི་མེད། རོ་མེད། རེག་བྱ་མེད། ཆོས་མེད་དོ། །
    zug me, dra me, dri me, ro me, reg ja me, chhö me do,
     
    không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp [3];
       
    no visual form, no sound, no odor, no taste, no object of touch, and no phenomenon.
          ni forme, ni son, ni odeur, ni saveur, ni objet du toucher, ni phénomène mental.
    མིག་གི་ཁམས་མེད་པ་ནས་ཡིད་ཀྱི་ཁམས་མེད།
    mig gi kham me pa nä yi kyi kham me,
     
    không nhãn giới, đến không ý giới,
       
    There is no eye element and so on up to and including no mind element and
          De l’élément de l’œil et ainsi de suite, jusqu’à l’élément du mental et
    ཡིད་ཀྱི་རྣམ་པར་ཤེས་པའི་ཁམས་ཀྱི་བར་དུ་ཡང་མེད་དོ།།
    yi kyi nam par she päi kham kyi bar du yang me do,
     
    đến tận ý thức giới [4] cũng đều không.
       
    no mental consciousness element.
          l’élément de la conscience du mental, il n’y a pas d’élément.
    མ་རིག་པ་མེད། མ་རིག་པ་ཟད་པ་མེད་པ་ནས།
    ma rig pa me, ma rig pa zä pa me pa nä,
     
    Không vô minh và sự diệt tận của vô minh,
       
    There is no ignorance, no extinction of ignorance, and so on, up to and including
          Il n’y a ni ignorance ni élimination de l’ignorance et ainsi de suite, jusqu’à :
    རྒ་ཤི་མེད། རྒ་ཤི་ཟད་པའི་བར་དུ་ཡང་མེད་དོ། །
    ga shi me, ga shi zä päi bar du yang me do,
     
    cho đến không lão tử, không cả sự diệt tận của lão tử.[5]
       
    no aging and death and no extinction of aging and death.
          il n’y a ni vieillissement et mort, ni élimination du vieillissement et de la mort.
    དེ་བཞིན་དུ་སྡུག་བསྔལ་བ་དང༌། ཀུན་འབྱུང་བ་དང༌། འགོག་པ་དང༌། ལམ་མེད།
    de zhin du dug ngäl wa dang, kün jung wa dang, gog pa dang, lam me,
     
    Tương tự như vậy, không khổ, tập, diệt, đạo [6];
       
    Similarly, there is no suffering, origination, cessation, and path;
          Et à l’avenant, il n’y a ni souffrance, ni origine de la souffrance, ni cessation, ni voie ;
    ཡེ་ཤེས་མེད། ཐོབ་པ་མེད། མ་ཐོབ་པ་ཡང་མེད་དོ། །
    ye she me, thob pa me, ma thob pa yang me do
     
    không trí giác, không thủ đắc, không cả sự không thủ đắc.
       
    there is no exalted wisdom, no attainment, and also no nonattainment.
          il n’y a ni sagesse transcendante, ni obtention, ni non-obtention.
    ཤཱ་རིའི་བུ། དེ་ལྟ་བས་ན་བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའ་རྣམས་ཐོབ་པ་མེད་པའི་ཕྱིར་
    Sha ri bu, de ta wä na, jang chhub sem pa nam thob pa me päi chhir,
     
    Xá Lợi Tử, bồ tát vì không thủ đắc
       
    “Shariputra, therefore, because there is no attainment,
          Sharipoutra, ainsi, puisqu’il n’y a pas d’obtention, les bodhisattvas
    ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་ལ་བརྟེན་ཅིང་གནས་ཏེ།
    she rab kyi pha röl tu chhin pa la ten ching nä te,
     
    nên nương trụ Bát nhã ba la mật đa,
       
    bodhisattvas rely on and dwell in the perfection of wisdom,
          se fondent-ils sur la perfection de la sagesse et ils demeurent en elle,
    སེམས་ལ་སྒྲིབ་པ་མེད་པས་སྐྲག་པ་མེད་དེ།
    sem la drib pa me pä trag pa me de,
     
    tâm không chướng ngại nên không khiếp sợ,
       
    the mind without obscuration and without fear.
          l’esprit sans voile et sans peur. Et comme ils sont passés bien au-delà de toute
    ཕྱིན་ཅི་ལོག་ལས་ཤིན་ཏུ་འདས་ནས་མྱ་ངན་ལས་འདས་པའི་མཐར་ཕྱིན་ཏོ། །
    chhin chi log lä shin tu dä nä, nya ngän lä dä päi thar chhin to,
     
    vượt mọi thát loạn, cứu cánh niết bàn.
       
    Having completely passed beyond error, they reach the endpoint of nirvana.
          erreur, ils parviennent au stade final du nirvana.
    དུས་གསུམ་དུ་རྣམ་པར་བཞུགས་པའི་སངས་རྒྱས་ཐམས་ཅད་ཀྱང་
    dü sum du nam par zhug päi sang gyä tham chä kyang
     
    Hết thảy Phật đà trú ở ba thời
       
    All the Buddhas who dwell in the three times also
          C’est en s’appuyant sur la perfection de la sagesse
    ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་ལ་བརྟེན་ནས་བླ་ན་མེད་པ་
    she rab kyi pha röl tu chhin pa la ten nä, la na me pa
     
    nhờ y theo Bát nhã ba la mật đa sâu xa
       
    manifestly, completely unsurpassable, perfect,
          que tous les bouddhas des trois temps eux aussi font naître pleinement
    ཡང་དག་པར་རྫོགས་པའི་བྱང་ཆུབ་ཏུ་མངོན་པར་རྫོགས་པར་སངས་རྒྱས་སོ། །
    yang dag par dzog päi jang chhub tu ngön par dzög par sang gyä so
     
    mà thành tựu chánh giác vô thượng tam miệu tam bồ đề.
       
    complete enlightenment in reliance on the perfection of wisdom.
          l’insurpassable éveil parfaitement accompli. Aussi,
    དེ་ལྟ་བས་ན་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕིན་པའི་སྔགས། རིག་པ་ཆེན་པོའི་སྔགས།
    De ta wä na, she rab kyi pha röl tu chhin päi ngag, rig pa chhen pöi ngag,
     
    Do đó mà nói Bát nhã ba la mật đa là bài chú đại trí tuệ;
       
    Therefore, the mantra of the perfection of wisdom, the mantra of great knowledge,
          le mantra de la perfection de la sagesse, le mantra de la grande connaissance,
    བླ་ན་མེད་པའི་སྔགས། མི་མཉམ་པ་དང་མཉམ་པའི་སྔགས།
    la na me päi ngag, mi nyam pa dang nyam päi ngag,
     
    bài chú tối thượng; bài chú tuyệt bậc và đồng bậc;
       
    the unsurpassed mantra, the mantra equal to the unequaled,
          le mantra auquel rien n’est supérieur, le mantra égal à l’inégalable,
    སྡུག་བསྔལ་ཐམས་ཅད་རབ་ཏུ་ཞི་བར་བྱེད་པའི་སྔགས།
    dug ngäl tham chä rab tu zhi war je päi ngag,
     
    bài chú diệt trừ mọi khổ não;
       
    the mantra that thoroughly pacifies all suffering,
          le mantra qui apaise à jamais toute souffrance,
    མི་རྫུན་པས་ན་བདེན་པར་ཤེས་པར་བྱ་སྟེ།
    mi dzün pä na, den par she par ja te,
     
    phải biết chú này là chắc thật vì không hư ngụy.
       
    should be known as truth since it is not false.
          doit être reconnu comme véridique car il ne trompe pas.
    ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པའི་སྔགས་སྨྲས་པ།
    she rab kyi pha röl tu chhin päi ngag mä pa
     
    Thế nên tuyên thuyết chú Bát nhã ba la mật đa:
       
    The mantra of the perfection of wisdom is declared:
          Et voici le mantra de la perfection de la sagesse :
         
    ཏདྱཐཱ། ག་ཏེ་ག་ཏེ། པཱ་ར་ག་ཏེ། པཱ་ར་སཾ་ག་ཏེ། བོ་དྷི་སྭཱ་ཧཱ།
    TADYATHA GATE GATE PARAGATE PARASAMGATE BODHI SVAHA
    Tê-ya-tha ga-tê, ga-tê, pa-ra-ga-tê, pa-ra-xăm-ga-tê, bô-đi, sô ha
    [Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha]
         

    ཤཱ་རིའི་བུ། བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའ་སེམས་དཔའ་ཆེན་པོས་
    Sha ri bu, jang chhub sem pa sem pa chhen pö,
     
    Xá Lợi Tử, các đại Bồ tát phải nên hành trì
       
    “Shariputra, the bodhisattva Mahasattva should train in
          Sharipoutra, c’est ainsi qu’un bodhisattva mahasattva doit s’exercer
    དེ་ལྟར་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་ཟབ་མོ་ལ་བསླབ་པར་བྱའོ། །
    de tar she rab kyi pha röl tu chhin pa zab mo la lab par ja o
     
    Bát nhã ba la mật đa sâu xa theo đúng như vậy.
       
    the profound perfection of wisdom like that.”
          à la profonde perfection de la sagesse. »
    དེ་ནས་བཅོམ་ལྡན་འདས་ཏིང་ངེ་འཛིན་དེ་ལས་བཞེངས་ཏེ་
    de nä chom dän dä ting nge dzin de lä zheng te,
     
    Bấy giờ, đức Thế tôn từ chánh định trở ra,
       
    Then the Bhagavan arose from that concentration
          Puis le Baghavan sortit de sa concentration
    བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའ་སེམས་དཔའ་ཆེན་པོ་འཕགས་པ་སྤྱན་རས་གཟིགས་དབང་ཕྱུག་ལ་
    jang chhub sem pa sem pa chhen po phag pa chän rä zig wang chhug la
     
    tán dương Đại bồ tát Ma ha tát Quan Tự Tại, nói rằng:
       
    and commended the bodhisattva Mahasattva Arya Avalokiteshvara saying:
          et loua le bodhisattva mahasattva arya Avalokiteshvara en disant :
    ལེགས་སོ་ཞེས་བྱ་བ་བྱིན་ནས། ལེགས་སོ་ལེགས་སོ། ། རིགས་ཀྱི་བུ།
    leg so zhe ja wa jin nä, leg so leg so rig kyi bu
     
    Lành thay, lành thay, thiện nam tử,
       
    “Well said, well said, son of the lineage,
          « Bien ! Bien ! Ô fils de la lignée,
    དེ་དེ་བཞིན་ནོ། ། རིགས་ཀྱི་བུ། དེ་དེ་བཞིན་ཏེ།
    de de zhin no, rig kyi bu, de de zhin te,
     
    đúng là như vậy. Thiện nam tử, đúng là như vậy,
       
    it is like that. It is like that;
          il en est ainsi, il en est bien ainsi.
    ཇི་ལྟར་ཁྱོད་ཀྱིས་བསྟན་པ་དེ་བཞིན་དུ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་ཟབ་མོ་ལ་
    ji tar khyö kyi tän pa de zhin du, sherab kyi pha röl tu chhin pa zab mo la
     
    phải nên hành trì Bát nhã ba la mật đa đúng như ông nói,
       
    one should practice the profound perfection of wisdom just as you have indicated;
          C’est exactement comme tu viens de l’exposer qu’il convient de pratiquer
    སྤྱད་པར་བྱ་སྟེ། དེ་བཞིན་གཤེགས་པ་རྣམས་ཀྱང་རྗེས་སུ་ཡི་རང་ངོ། །
    chä par ja te, de zhin sheg pa nam kyang je su yi rang ngo
     
    làm được như vậy chư Như lai sẽ đều hoan hỷ.
       
    even the Tathagatas rejoice.”
          la profonde perfection de la sagesse et les tathagatas eux-mêmes se réjouissent. »
    བཅོམ་ལྡན་འདས་ཀྱིས་དེ་སྐད་ཅེས་བཀའ་སྩལ་ནས།
    Chom dän dä kyi de kä che ka tsäl nä,
     
    Đức Thế tôn nói lời ấy xong,
       
    The Bhagavan having thus spoken,
          Lorsque le Baghavan eut dit cela,
    ཚེ་དང་ལྡན་པ་ཤཱ་ར་དྭ་ཏིའི་བུ་དང༌།
    tshe dang dän pa sha ra dva ti bu dang,
     
    tôn giả Xá Lợi Phất,
       
    the venerable Sharadvatiputra,
          le vénérable Sharadvatipoutra,
    བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའ་སེམས་དཔའ་ཆེན་པོ་འཕགས་པ་སྤྱན་རས་གཟིགས་དབང་ཕྱུག་དང༌
    jang chhub sem pa sem pa chhen po chän rä zig wang chhug dang
     
    Đại bồ tát Ma ha tát Quan Tự Tại,
       
    the bodhisattva Mahasattva Arya Avalokiteshvara,
          le bodhisattva mahasattva arya Avalokiteshvara,
    ཐམས་ཅད་དང་ལྡན་པའི་འཁོར་དེ་དག་དང༌།
    tham chä dang dän päi khor de dag dang,
     
    cùng hết thảy tùy tùng,
       
    and those surrounding in their entirety
          l’entourage au complet,
    ལྷ་དང༌། མི་དང༌། ལྷ་མ་ཡིན་དང༌། དྲི་ཟར་བཅས་པའི་འཇིག་རྟེན་
    lha dang, mi dang, lha ma yin dang, dri zar chä päi jig ten
     
    và chư thiên, nhân loại, a tu la và càn thát bà,
       
    along with the world of gods, humans, asuras, and gandharvas
          ainsi que le monde des dieux, des hommes, des asouras et des gandharvas,
    ཡི་རངས་སྟེ། བཅོམ་ལྡན་འདས་ཀྱིས་གསུངས་པ་ལ་མངོན་པར་བསྟོད་དོ། །
    yi rang te, chom dän dä kyi sung pa la ngön par tö do
     
    tất cả đều hoan hỷ tán dương pháp Phật vừa thuyết.
       
    were overjoyed and highly praised that spoken by the Bhagavan.
          furent remplis de joie et louèrent les paroles du Baghavan.
    འཕགས་པ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པའི་སྙིང་པོ་རྫོགས་སོ།
      (Đến đây chấm dứt Ärya-bhagavatï-prajñäpäramitä-höidaya-sütra.)
       
    (This completes the Ärya-bhagavatï-prajñäpäramitä-höidaya-sütra.)
          (Ainsi s’achève l’Ärya-bhagavatï-prajñäpäramitä-höidaya-sütra.)

    ཏདྱཐཱ། ག་ཏེ་ག་ཏེ། པཱ་ར་ག་ཏེ། པཱ་ར་སཾ་ག་ཏེ། བོ་དྷི་སྭཱ་ཧཱ། (108x)
    TADYATHA GATE GATE PARAGATE PARASAMGATE BODHI SVAHA (108x)
    Tê-ya-tha ga-tê, ga-tê, pa-ra-ga-tê, pa-ra-xăm-ga-tê, bô-đi, sô ha (108x)
    [Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề, tát bà ha] (108x)


    C. Tâm Kinh Phá Chướng Ngại
    Averting Obstacles
    Dissiper les Obstacles par le Soutra du Coeur

    ༈ ན་མོ་བླ་མ་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ། ། སངས་རྒྱས་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ། །
    na-mo, la-ma la chak-tsal lo, sang-gye la chak-tsal lo
     
    Đệ tử quy y; kính lạy Thượng Sư; kính lạy Phật;
       
    Namo! Homage to the Guru! Homage to the Buddha!
          Namo! Hommage au Lama! Hommage au Bouddha
    ཆོས་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ། ། དགེ་འདུན་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ། །
    chö la chak-tsal lo, gen-dün la chak-tsal lo
     
    kính lạy Pháp; kính lạy Tăng;
       
    Homage to the Dharma! Homage to the Saṅgha!
          Hommage au Dharma, Hommage au Sangha
    ཡུམ་ཆེན་མོ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ། །
    yum chen-mo she-rab kyi pa-rol tu chin-pa la chak-tsal lo
     
    Kính lạy Đại Phật Mẫu Bát Nhã Ba La Mật.
       
    Homage to the Great Mother, Prajñāpāramitā!
          Hommage à la Grande Mère, Prajñāpāramitā
    ཁྱེད་རྣམས་ལ་ཕྱག་འཚལ་བའི་མཐུ་དང་ནུས་པ་ལ་བརྟེན་ནས།
    khyé nam la chak-tsal-wé tu dang nü-pa la ten né
     
    Nguyện nương năng, lực, / lễ lạy chư vị
       
    Through the power and strength of paying homage to you,
          Par le pouvoir et la force de vous rendre hommage
    བདག་ཅག་གི་ཚིག་འདི་འགྲུབ་པར་གྱུར་ཅིག །
    dak-chak gi tsik di drub-par gyur chik
     
    lời nguyện chúng con, / đều thành tựu cả
       
    May these words of ours come true!
          Puissent ces paroles de vérité soient accomplies
    ཇི་ལྟར་སྔོན་ལྷའི་དབང་པོ་བརྒྱ་བྱིན་གྱིས་
    ji-tar ngön lhé wang-po gya-jin gyi
     
    Như trong quá khứ, / thiên vương Đế Thích,
       
    Just as, long ago, the king of the gods Indra,
          De la même manière que le puissant souverain Indra d’antan,
    ཡུམ་ཆེན་མོ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པའི་དོན་ཟབ་མོ་
    yum chen-mo she-rab kyi pa-rol tu chin-pé dön zab mo
      nhờ vào năng, lực, / tư duy tụng niệm,
       
    by the power and strength of contemplating the profound meaning
          par le pouvoir et la force de contempler le sens profond
    ཡིད་ལ་བསམ་ཞིང་ཚིག་ཁ་ཏོན་དུ་བྱས་པའི་མཐུ་དང་ནུས་པ་ལ་བརྟེན་ནས། །
    yi la sam shying tsik kha-tön du je-pé tu dang nü-pa la ten né
     
    ý nghĩa thâm sâu, / Đại Mẫu Bát Nhã, / Ba La Mật Đa
       
    of the perfection of wisdom, the Great Mother, and reciting its words,
          de la Prajñāpāramitā et de réciter ces paroles,
    བདུད་སྡིག་ཅན་ལ་སོགས་པ་ཕྱིར་བཟློག་པ་དེ་བཞིན་དུ་
    dü dik-chen la-sok-pa chir dok-pa de-shyin-du
     
    mà đuổi được hết, / ma vương ma quân.,
       
    Was able to avert the demonic forces of negativity,so in the very same way,
          put détourner les forces démoniaques,
    བདག་ཅག་གིས་ཀྱང་ཡུམ་ཆེན་མོ་ཤེས་རབ་ཀྱི་ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པའི་
    dak-chak gi kyang yum chen-mo she-rab kyi pa-rol tu chin-pé
     
    chúng con cũng nguyện, / nhờ vào năng, lực,
       
    may we too, through the power and strength of contemplating
          Puissions-nous aussi, par le pouvoir et la force de contempler le sens profond
    དོན་ཟབ་མོ་ཡིད་ལ་བསམ་ཞིང་ཚིག་ཁ་ཏོན་དུ་བྱས་པའི་
    dön zab-mo yi la sam shying tsik kha-tön du je-pé
     
    tư duy tụng niệm, / ý nghĩa thâm sâu,
       
    the profound meaning of the Perfection of Wisdom,
          de la Prajñāpāramitā et the Great Mother, récitant quotidiennement
    མཐུ་དང་ནུས་པ་ལ་བརྟེན་ནས། ། བདག་ཅག་འཁོར་དང་བཅས་པའི་
    tu dang nü-pa la ten né dak-chak khor dang che-pé
     
    Đại Mẫu Bát Nhã, / Ba la mật đa, / làm cho nghịch cảnh,
       
    and reciting its words, avert all the negative influences
          ces paroles, que toutes les circonstances disharmonieuses
    དམ་པ་ཆོས་སྒྲུབ་པའི་སྤང་བྱ་མི་མཐུན་པའི་ཕྱོགས་
    dam-pa chö drub-pé pang-ja mi-tün-pé chok
     
    cản trở chúng con, / thành tựu diệu pháp,
       
    which prevent us and those around us from
          empechant notre accomplissement du Noble Dharma
    ཐམས་ཅད་ཕྱིར་བཟློག་པར་གྱུར་ཅིག །  
    tam-ché chir dok-par gyur chik
     
    quay lui tất cả
       
    accomplishing the Noble Dharma! (clap)
          Soient détournées
    མེད་པར་གྱུར་ཅིག །  
    me par gyur chik
     
    Nguyện cho tan biến
       
    May they be annihilated!  (clap)
          Qu’elles soient devenir inexistantes
    ཞི་བར་གྱུར་ཅིག །  
    shyi-war gyur chik
     
    Nguyện cho tịnh yên
       
    May they be rendered harmless! (clap)
          Qu’elles soient pacifiées
    རབ་ཏུ་ཞི་བར་གྱུར་ཅིག །
    rab-tu shyi-war gyur chik
     
    Tịnh yên triệt để
       
    May they be completely pacified!
          Qu’elles soient totallement pacifiées
    བགེགས་རིགས་སྟོང་ཕྲག་བརྒྱད་ཅུ་ཞི་བ་དང་།།
    Geg-rig tong-thrag-gyä-chu zhi-wa dang
     
    Ma tám vạn loại, / hết thảy tịnh yên,
       
    The 80,000 types of obstructors pacified,
          Que les quatre-vight mille types d’obstacles soient pacifiés
    མི་མཐུན་གནོད་པའི་རྐྱེན་དང་བྲལ་བ་དང་།།
    mi-thün nö-päi kyen dang-dräl-wa dang
     
    Nghịch cảnh ác duyên, / đều lìa xa cả
       
    Freed from adverse, harmful conditions,
          Puissions-nous être séparés de conditions nuisibles et disharmonieuses
    མཐུན་པར་གྲུབ་ཅིང་ཕུན་སུམ་ཚོགས་གྱུར་པའི།།
    thün-par drub ching phün-sum tshog gyur-päi
     
    nguyện cảnh phồn vinh, / đều thuận chánh pháp;
       
    may all enjoyments be in accord with the Dharma;
          Puissions-nous obtenir tout ce qui est conductif, et par le bon augure
    བཀྲ་ཤིས་དེས་ཀྱང་དེང་འདིར་བདེ་ལེགས་ཤོག  །
    Tra-shi de kyang deng dir de-leg shog
     
    Bây giờ, nơi đây, / nguyện cho mọi sự / an lạc cát tường.
       
    And may there be auspiciousness and perfect happiness here right now.
          de tout ce qui est bien, puisse-t-il y avoir un bonheur excellent ici et maintenant


    XUẤT XỨ – Sources – Références -: 
    A. In Praise of Prajñāpāramitā – Louange à la Mère Prajnaparamita – Tán Dương Bát Nhã Ba La Mật Đa: Tibetan, English: https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/heart-sutra-with-extras; Phonetics, French, Vietnamese: Hong Nhu Thupten Munsel (Anh Ho). B. The Heart Sutra – Le Soutras du Coeur – Tâm Kinh: Tibetan, Phonetics, English, French: FPMT Essential Prayer Book Vol.1, 2006; Vietnamese: Hong Nhu Thupten Munsel (Anh Ho). C. Averting Obstacles – Dissiper les Obstacles – Tâm Kinh Phá Chướng Ngại: Tibetan, Phonetics, English, French: references unavailable; Vietnamese: Hong Nhu Thupten Munsel (Anh Ho). D. Mūlamadhyamakakārikā’s extract – extrait de Mūlamadhyamakakārikā –Tán Dương Kệ (Trung Quán Luận):  French: Padmakara Group; Tibetan, English: https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/heart-sutra-with-extras; Vietnamese: Hong Nhu Thupten Munsel (Anh Ho)

    |Tạng Văn – Tạng Âm – Việt – Anh – Pháp| Việt | Tạng Văn |

    Pages: 1 2 3

  • Lama Tsongkhapa: XƯNG TÁN DUYÊN KHỞI

    Lama Tsongkhapa: XƯNG TÁN DUYÊN KHỞI

    Tựa Đề Tạng Ngữ (Tibetan Title): རྟེན་འབྲེལ་བསྟོད་པ་བཞུགས་སོ། ། 
    -Tác giả (author): Lama Tsongkhapa
    -Việt ngữ: Hồng Như, bản thảo 12 tháng 5 năm 2019

    Việt (Vietnamese) | Tạng (Tibetan) | Tạng-Việt-Anh (Tibetan-Vietnamese-English)

    Xưng Tán Duyên Khởi

    Lama Tông Khách Ba

    Nam mô Guru Manjughoshaya (Kính lạy đức Văn Thù Diệu Âm)

    1. Người nào thuyết pháp / từ sự chứng biết,
    trí ấy, giáo ấy / không một ai hơn.
    Con xin kính lễ / đức Phật tối thắng,
    Bậc chứng rồi giảng / giáo pháp duyên sinh.

    2. Cõi thế gian này / có bao suy thoái,
    hết thảy đều từ / gốc rễ vô minh.
    Đức Phật dạy rằng / bất kể là ai,
    chứng được duyên sinh / là dẹp được cả.

    3. Nên người có trí
    đâu thể không hiểu
    rằng pháp duyên sinh
    chính là cốt tủy / giáo pháp Phật dạy.

    4. Vậy xưng tán Phật
    đâu có lối nào
    mầu nhiệm hơn là
    xưng tán bậc thuyết / giáo pháp duyên sinh.

    5. “Việc gì đã tùy / nhân duyên sinh ra
    thì việc ấy vốn / không có tự tánh.”
    Có lời dạy nào / tuyệt diệu hơn là
    lời dạy này đây.

    6. Vì bám vào đó / mà kẻ ấu trĩ
    ràng buộc biên kiến / càng thêm kiên cố;
    cũng chính nơi đó / lại là cửa ngỏ
    cho người có trí / xẻ lưới niệm khởi.

    7. Pháp này nơi khác / chưa từng nghe qua
    nên gọi Phật là / đạo sư duy nhất.
    Nếu gọi ngoại đạo / [là bậc đạo sư] /
    thì khác gì gọi / cáo là sư tử,
    chỉ giống như lời / tâng bốc mà thôi.

    8. Tuyệt thay đạo sư! Tuyệt thay chỗ nương!
    Tuyệt thay luận sư! Tuyệt thay cứu độ!
    Đối trước bậc Thầy / khéo thuyết duyên khởi,
    con xin đảnh lễ.

    9. Để giúp chữa bệnh / nên đấng Lợi Sinh
    dạy cho hữu tình
    lý luận vô song
    xác định tánh không, / trái tim chánh pháp.

    10. Lối duyên khởi này
    nếu thấy mâu thuẫn / không thể xác minh
    thì pháp của Phật
    làm sao có thể / thông đạt cho được?

    11. Với Phật, bao giờ
    chứng được tánh không / qua nghĩa duyên khởi
    sẽ thấy tuy rằng / không có tự tánh
    vẫn tạo tác dụng, / không hề mâu thuẫn.

    12. Phật dạy nếu như / thấy điều ngược lại,
    ở trong tánh không / không có tác dụng
    có tác dụng lại / không có tánh không,
    sẽ phải rơi vào / vực sâu hung hiểm.

    13. Vì lý do này / giáo pháp Phật dạy
    hết mực đề cao / chứng ngộ duyên khởi;
    không phải hoàn toàn / là không hiện hữu,
    mà cũng không phải / là có tự tánh.

    14. Sự tự-có như / hoa đốm giữa trời,
    vì vậy không gì / là không tùy thuộc.
    Nếu sự vật nhờ / chính mình mà có
    thì không thể nào / tùy thuộc nhân duyên.

    15. Nên Phật dạy rằng “vì không có gì
    không từ duyên khởi
    nên trừ phi là / không có tự tánh
    bằng không chẳng có / pháp nào tồn tại.”

    16. Phật dạy: “Tự tánh / không hề biến chuyển,
    nên nếu các pháp / có chút tự tánh
    thì quả niết bàn / không thể nào có,
    niệm khởi cũng không / cách nào tịch diệt.”

    17. Vì vậy nhiều lần / trước hàng trí giả
    đức Phật nói bằng / tiếng sư tử hống,
    rằng “sự vật vốn / tách lìa tự tánh”
    Lời này đố ai / đủ sức phản biện.

    18. Tự tánh mảy may / cũng không hề có,
    mọi sự đều là / “tùy vào cái này
    mà cái kia sinh.” / Có cần phải nói
    rằng hai điều này / không hề mâu thuẫn?

    19. “Vì hiện khởi nên
    không vướng biên kiến.”
    Chính vì đức Phật / khéo thuyết như vậy
    nên gọi Ngài là / luận sư vô song.

    20. “Hết thảy mọi sự / chân tánh vốn không”;
    “từ điều này mà / quả kia sinh ra”:
    hai khẳng định này hỗ trợ lẫn nhau
    không hề mâu thuẫn.

    21. Nhiệm mầu nào hơn?
    kỳ diệu nào hơn?
    Tán dương như vậy / mới là tán dương,
    bằng không chẳng xứng.

    22. Những ai vì bởi / mê muội khống chế
    bất thuận với Phật / thì trước âm thanh
    của không-tự-tánh / chẳng thể nào kham,
    việc này không lạ.

    23. Nhưng nếu tin nhận / kho tàng trân quí
    của lời Phật dạy / về thuyết duyên khởi,
    mà không kham nổi / tiếng gầm tánh không
    mới thật lạ kỳ.

    24. Lý duyên khởi là / cánh cửa vô thượng,
    lối ngỏ dẫn vào / sự không-tự-tánh.
    Nếu kẻ phàm phu / dựa danh duyên khởi
    mà chấp tự tánh / thì phàm phu ấy

    25. lạc mất lối ngỏ
    mà chư thánh giả / đã từng khéo qua.
    Đâu là phương tiện / đưa họ về lại
    với con đường lành / khiến cho Phật vui?

    26. “Tự tánh, không giả, / và không tùy thuộc”
    cùng với “duyên sinh, / tùy thuộc, giả hợp”,
    Làm sao có thể / qui về một chỗ
    mà không mâu thuẫn?

    27. Vì thế điều gì / từ duyên sinh ra,
    mặc dù bản lai / vốn lìa tự tánh,
    nhưng mà tướng hiện / lại giống như có,
    nên Phật nói rằng / mọi sự hư huyễn.

    28. Vì lý do này / nên con hiểu được
    dù ai chống đối / với lời Phật dạy
    vẫn không làm sao / xét đúng luận lý
    mà tìm ra được / chút sơ hở nào.

    29. Tại sao như vậy? / Vì lời giảng này
    khiến cho sự vật—dù là thấy được /
    hay không thể thấy— khả năng khẳng định /
    hay là phủ định đều lìa rất xa.

    30. Chính nhờ con đường / duyên khởi này đây,
    thấy được lời Phật / thật không đâu sánh.
    Vì lẽ này mà / khởi niềm xác quyết
    Pháp nào của Phật / cũng đều đúng cả.

    31. Phật chứng như nghĩa / rồi khéo nói ra,
    những ai dụng công / theo gót chân Ngài,
    bao nhiêu suy thoái / hết thảy đều xa,
    bao gốc lỗi lầm / đều hồi đầu cả.

    32. Còn người quay lưng / với lời Phật dạy
    thì dù lao lực / trong thời gian dài
    lỗi vẫn tăng thêm—như thể gọi mời—
    là vì nương vào / tri kiến chấp ngã.

    33. Tuyệt vời lắm thay! / Khi người có trí
    hiểu sự khác biệt / giữa hai điều này
    khi ấy đáy lòng / không thể nào không
    sâu xa kính Phật.

    34. Hãy khoan nói đến / vô lượng giáo pháp,
    chỉ cần ý nghĩa / một nhánh nhỏ thôi,
    dù chỉ đại khái / có được lòng tin,
    cũng vẫn đạt được / niềm vui thù thắng.

    35. Than ôi! con vì / tâm trí mê muội,
    khối thiện đức ấy / qui y đã lâu,
    thế nhưng cho dù / chỉ một mẩu nhỏ
    cũng chưa hề có.

    36. Tuy vậy, trước khi / sinh mạng một dòng
    chảy cạn hết vào / miệng của Thần chết,
    tín tâm nơi Phật / con được chút ít,
    thiết nghĩ đó cũng / là điều đại hạnh.

    37. Bậc thuyết duyên khởi / trong khắp giảng sư;
    Trí chứng duyên khởi / trong khắp các trí;
    Chỉ có Phật như / đế vương tôn thắng / trong cõi thế gian
    mới khéo biết được, / người khác chẳng thể.

    38. Bất kể là Phật / dạy cho pháp gì,
    đều phát xuất từ / giáo lý duyên sinh
    và đều hướng đến / mục tiêu niết bàn
    Phật không hạnh nào / không khiến tịnh an.

    39. Ôi! Giáo pháp Phật
    rơi vào tai ai
    đều khiến bình an,
    hỏi ai lại chẳng / thiết tha giữ gìn.

    40. Pháp này tận diệt / hết thảy đối địch;
    làm tan biến hết / mâu thuẫn trước sau;
    giúp cho toàn thành / cả hai lợi ích;
    nhờ diệu pháp này / hoan hỉ càng tăng.

    41. Chính vì vậy mà
    Phật vô số kiếp / cho rồi lại cho:
    khi thì cho thân / lúc lại cho mạng,
    cho cả thân nhân, / thọ dụng tài sản.

    42. Thấy được thiện đức / của giáo pháp này,/
    con thật như là / con cá mắc câu,
    từ nơi tim Phật / bị cuốn phăng vào.
    Chẳng thể chính tai / nghe lời Phật dạy / thật là bất hạnh.

    43. Nỗi thương tâm này / ray rức mãnh liệt,
    níu mãi không buông / tâm trí của con.
    Cũng tựa như là / trái tim người mẹ
    giữ mãi không rời / đứa con thân yêu.

    44. Mỗi khi con nhớ / đến lời Phật dạy,
    là ý nghĩ này / lại hiện trong con:
    “Bổn sư đứng giữa / vùng hào quang sáng,
    tướng hảo chánh phụ / rực rỡ rạng ngời,

    45. đã dùng Phạm Âm / mà thuyết như vậy.”
    Ảnh Phật khi ấy / hiện ra trong con,
    xoa dịu trái tim / rát bỏng mòn mỏi,
    như trăng thanh mát / dịu cõi nóng khô.

    46. Đối với giáo pháp / kỳ diệu này đây
    phàm phu kém trí
    thấy rối mịt mờ
    như là cỏ bện.

    47. Nhìn thấy cảnh này / con đã lắm lần
    theo bậc trí giả
    cố gắng nỗ lực
    tìm rồi lại tìm / ý thật của Phật.

    48. Khi ấy con học
    rất nhiều kinh luận / tông môn trong ngoài,
    tâm triền miên khổ
    vì lưới hoài nghi.

    49-51. Cỗ xe vô thượng / mà Phật để lại,
    hai đầu có-không / đều lìa bỏ hết,
    được đức Long-thọ—người Phật thọ ký—
    giảng đúng như thật.
    Vườn hoa kun-da / của luận Long thọ
    ngời ánh nguyệt quang / của luận Nguyệt Xứng
    trắng sáng rạng soi / tỏ tường khắp cả,
    trí tuệ vô cấu / một khối tròn đầy,
    du hành vô ngại / giữa trời giáo thuyết,
    xóa tan tăm tối / trái tim chấp thủ,
    ngàn sao tà thuyết / đều phải lu mờ.
    Nhờ ơn đạo sư / thấy được điều này,
    tâm con khi ấy / mới thật bình yên.

    52. Trong mọi thiện hạnh / mà Phật đã làm, /
    thuyết pháp là nhất. Pháp thuyết cũng vậy, /
    là pháp này đây.  Vì vậy kẻ trí /
    nên từ chỗ này mà nhớ đến Phật.

    53. Theo gót đấng bổn sư / tôi xuất gia thanh tịnh
    tu học lời Phật dạy / không để cho kém cỏi
    Tỷ kheo này cố gắng / tu tập hạnh du già
    để tỏ lòng tôn kính / với bậc Đại Chân Thật.

    54. Gặp được giáo pháp này / của bậc Thầy vô thượng
    hết thảy đều nhờ vào / lòng từ của Ân sư
    Vậy công đức nơi đây / tôi nguyện xin hồi hướng
    cho chúng sinh luôn được / bậc chân sư giữ gìn.

    55. Pháp của đấng Lợi Sinh / nguyện cùng tận sinh tử
    không bao giờ khuynh động / bởi ngọn gió tà niệm;
    nguyện luôn đầy ắp người / chứng cảnh giới lời Phật
    nhờ đó tâm xác quyết / tin tưởng đấng đạo sư.

    56. Nguyện trì pháp Mâu ni,
    sáng soi lý duyên khởi,
    mọi đời kiếp về sau / xả bỏ cả thân mạng
    không bao giờ xao lãng / dù chỉ thoáng chốc thôi.
     
    57. “Bậc dẫn đường tối thượng / bỏ công khó vô lượng
    mới đạt được pháp này
    nay dùng cách nào đây / để hoằng dương chánh pháp?”/)
    nguyện tôi ngày lẫn đêm / luôn quán xét điều này.

    58. Khi nỗ lực như vậy / với đại nguyện trong sáng
    Nguyện Phạm Thiên, Đế Thích, / cùng chư vị hộ thế
    và hộ pháp như là / đức Mahakala
    luôn nâng đỡ cho tôi / không bao giờ lơi nghỉ

    Bài pháp tên “Tinh Túy Trí Khéo Thuyết” này do bậc Tỷ kheo Đa văn Losang Dragpa trước tác.
    Hồng Như Thupten Munsel chuyển Việt ngữ từ Tạng ngữ (Kopan Monastery Prayer Book), tham khảo với các bản dịch Anh ngữ của Thupten Jinpa Kilty Galvin,  12 tháng 5 năm 2019

    Việt (Vietnamese) | Tạng (Tibetan) | Tạng-Việt-Anh (Tibetan-Vietnamese-English

    Pages: 1 2 3

  • Thogme Zangpo: 37 PHÁP HÀNH BỒ TÁT

    Thogme Zangpo: 37 PHÁP HÀNH BỒ TÁT

    -Tựa đề tiếng Tạng (Tibetan Title): ༄༅། །རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་སོ་བདུན་མ་བཞུགས་སོ། །
    -Tác Giả (author): Gyalse Thogme Zangpo
    -Việt dịch (Vietnamese translation): Cư sĩ Hồng Như Thupten Munsel – 02/2019, hiệu đính 08/2019

    1.  CÔNG ĐỨC PHẦN THƯỢNG—KHAI KỆ

    1a. Nói tựa đề

    Dưới đây là Ba Mươi Bảy Pháp Hành Bồ Tát

    1b. Tán Dương

    1b1. Nói ngắn gọn

    Nam mô Đức Quan Tự Tại Lokesvaraye

    1b2. Nói chi tiết

    Dù thấy vạn pháp / không đi không đến,
    Cũng vẫn dốc sức / chỉ vì lợi sinh:
    Thượng sư tôn quí, đức Quan Thế Âm, bậc đại hộ trì,
    Đệ tử hằng mang / ba cửa kính lễ.

    1c. Lý do tác luận

    Chư Chánh Đẳng Giác, / cội nguồn phúc lạc,
    Thành Phật là nhờ / chứng đắc diệu Pháp,
    Chứng đắc là nhờ / biết được pháp hành:
    Vì vậy cho nên / cần phải giảng về / pháp hành bồ tát.

    2. CÔNG ĐỨC PHẦN TRUNG—CHÁNH VĂN

    2a. Pháp tu sơ khởi (kệ 1-7)

    2a1. Thân người ung dung sung mãn khó gặp (kệ 1)

    1. Ung dung, sung mãn, / thuyền lớn khó tìm / nay đã có được.
    Để độ ngã tha / thoát bể sinh tử
    Nên ngày lẫn đêm / đều không xao lãng
    Văn tư và tu — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2a2. Từ bỏ quê cha (kệ 2)

    2. Thân thì luyến chấp / như là nước cuốn;
    Thù thì sân hận / như lửa cháy bừng;
    U mê quên hết / điều cần lấy, bỏ:
    Quê cha đoạn lìa — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2a3. Trú nơi viễn li (kệ 3)

    3. Nhờ lánh chỗ ác / nên phiền não cạn;
    Tâm không tán loạn: / thiện hạnh tự  tăng;
    Trí giữ sáng trong / tự tin nơi pháp:
    Trú nơi viễn li — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2a4. Nhớ vô thường (kệ 4)

    4. Người thân lâu năm, / lần lượt giã biệt;
    Tiền kiếm vất vả, / bỏ lại phía sau;
    Thân là nhà trọ, / tâm thức là khách / sẽ phải rời đi:
    Đời này xả li — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2a5. Rời bạn xấu (kệ 5)

    Có kẻ nếu gần / tam độc sẽ tăng,
    Văn tư và tu / hết thảy đều giảm,
    Tâm từ tâm bi / rồi sẽ mất sạch:
    Rời xa ác hữu — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2a6. Nương thiện tri thức (kệ 6)

    6. Lại có những người / nếu nương dựa vào / lầm lỗi sẽ dứt,
    Thiện đức sẽ tăng / như trăng độ rằm:
    Thiện tri thức ấy / hãy nên trân quí
    Hơn cả thân mình — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2a7. Quy Y  (kệ 7)

    7. Tự mình còn vướng / tù ngục luân hồi,
    Chư thiên thế tục / độ được cho ai?
    Nếu đã qui y, / hãy tìm về nương / chốn không hư ngụy:
    Qui y Tam bảo — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b. Giải thích về đường tu ba loại căn cơ

    2b1. Đường tu sơ căn phải tu như thế nào  (kệ 8)

    8. Phật dạy khổ nạn / ác đạo khó kham
    Đều là quả báo / của nghiệp bất thiện.
    Vì thế cho nên / chẳng thà mất mạng
    Việc ác không làm — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b2. Đường tu trung căn phải tu như thế nào (kệ 9)

    9. Lạc thú ba cõi / như sương đầu cỏ,
    Chỉ phút giây thôi / rồi tan biến hết.
    Quả vị giải thoát / thắng diệu bất biến
    Thường luôn tìm cầu — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b3. Đường tu thượng căn phải tu như thế nào (kệ 10-24)

    2b3a. Phát tâm bồ đề (kệ 10)

    10. Đa sinh hiền mẫu / kể từ vô thủy / luôn rất yêu tôi.
    Mẹ đều khổ cả, / con vui sao đành!
    Vì để phổ độ / chúng sinh vô biên
    Phát tâm bồ đề — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b3b. Huân tập và phát huy tâm bồ đề

    2b3b1. Tâm bồ đề tục nghĩa (kệ 11-21)
    2b3b1a. Nhập định quán hoán chuyển ngã tha (kệ 11)

    11. Chịu khổ là vì / tôi muốn tôi vui;
    Thành Phật là nhờ / tâm muốn lợi người.
    Vậy thì vui tôi / đổi lấy khổ người,
    Trọn vẹn hoán chuyển — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b3b1b. Xuất định quán chuyển nghịch cảnh thành đường tu (kệ 12-22)
    2b3b1b1. Chuyển khổ nạn thành đường tu  (kệ 12-15)
    2b3b1b1a. Tổn thất (kệ 12)

    12. Dù ai vì tham / mà tài sản tôi
    Họ tự tay cướp, / hoặc bảo người cướp,
    Đối với người ấy / vẫn mang thân, của, / công đức ba thời,
    Hồi hướng cho họ — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b3b1b1b. Khổ (kệ 13)

    13. Tôi một chút lỗi / cũng không hề có,
    Nhưng lại có người / chặt mất đầu tôi.
    Ác nghiệp người ấy, / với tâm từ bi
    Tôi sẽ gánh về — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b3b1b1c. Khẩu thiệt (kệ 14)

    14. Dù có bị ai / mắng chửi  đủ điều,
    Bêu rếu cùng khắp / tam thiên thế giới,
    Đối với người ấy / lại càng từ hòa
    Ngợi ca việc thiện — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b3b1b1d. Chỉ trích (kệ 15)

    15. Dù có bị ai / ngay giữa đám đông
    Bươi móc lỗi kín / thóa mạ nặng lời
    Vẫn xem người ấy / là thiện tri thức
    Thành tâm kính lễ — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

    2b3b1b2. Chuyển cảnh khó thành đường tu (kệ 16-17)
    2b3b1b2a. Vô ơn (kệ 16)

    16. Người tôi dưỡng nuôi / thương như con ruột
    Lại đối với tôi / như với kẻ thù.
    Tôi vẫn như mẹ / khi con lâm bệnh
    Lại càng thương yêu — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b3b1b2b. Nhục mạ (kệ 17)

    17. Dù người bằng tôi, / hay thấp hơn tôi,
    Ngã mạn lăng nhục / làm khó đủ điều,
    Vẫn kính người ấy / như kính Tôn sư
    Đội ở trên đầu — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b3b1b3. Chuyển cảnh khốn cùng hay phú quí vào đường tu (kệ 18-19)
    2b3b1b3a. Khốn cùng (kệ 18)

    18. Dù nghèo xơ xác / bị đời khinh miệt,;
    Dù vướng trọng bệnh, / ám chướng, tà ma,
    Ác, khổ chúng sinh / vẫn xin nhận hết
    Không chút nao lòng — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b3b1b3b. Phú quí (kệ 19)

    19. Danh tiếng lừng vang, / đại chúng đê đầu,
    Tài sản sánh tày / Đa Văn Thiên Vương,
    Vẫn thấy sá gì / tiền tài thế lực,
    Lòng không kiêu ngạo — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b3b1b4. Chuyển cảnh khiến sân và tham vào đường tu (kệs 20-21)
    2b3b1b4a. Cảnh khiến nổi sân (kệ 20)

    20. Sân hận của mình, / giặc này không dẹp
    Thì giặc bên ngoài / càng quét càng tăng.
    Vậy lấy từ bi / dùng làm chiến đội
    Tự quét tâm mình — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

    2b3b1b4b. Cảnh khiến nổi tham (kệ 21)

    21. Lạc thú giác quan / tựa như nước muối,
    Càng uống bao nhiêu / càng khát bấy nhiêu.
    Cứ hễ vật gì / khiến nổi tham chấp
    Lập tức buông ra — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b3b2. Tâm Bồ Đề Chân Nghĩa (kệ 22-24)
    2b3b2a. Cách Nhập Định Quán Tánh Không Như Không Gian (kệ 22)

    22. Cảnh hiện hết thảy / đều là tâm ta.
    Tâm này bản lai / siêu việt khái niệm.
    Biết vậy nên khi / tiếp tướng đối đãi
    Vẫn không tác ý — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b3b2b. Khi xuất thiền, làm sao ngừng thấy tham và sân là thật (kệ 23-24)
    2b3b2b1. Ngừng thấy cảnh khiến nổi tham là có thật (kệ 23)

    23. Khi gặp chốn nào / đẹp đẽ đáng yêu,
    Thấy đó chỉ như / cầu vồng mùa hạ,
    Rực rỡ hiện ra / nhưng không thật có:
    Luyến chấp buông bỏ — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    2b3b2b2. Ngừng thấy cảnh khiến nổi sân là có thật (kệ 24)

    24. Hết thảy khổ đau / đều giống trong mơ / thấy con mình chết,
    Lấy vọng làm thật  / nên luôn đuối mệt,
    Vì thế cho nên / khi gặp nghịch cảnh
    Thấy đều là vọng — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    3. CÔNG ĐỨC PHẦN HẠ — KẾT

    3a. Dấn thân vào pháp hành bồ tát (kệ 25-37)

    3a1. Sáu Ba La Mật (kệ 25-30)

    3a1a. Hạnh Thí (kệ 25)

    25. Muốn đạt bồ đề / đến thân còn cho
    Huống chi ngoại vật. / Vì thế cho nên
    Không mong hồi báo / không cầu thiện quả
    Mà làm bố thí — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    3a1b. Hạnh Giới (kệ 26)

    26. Giới đã không thì / tự lợi cũng không,
    Lại muốn lợi tha / thật quá nực cười!
    Vậy nên vắng mọi / ham muốn thế tục
    Để mà giữ giới — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    3a1c. Hạnh Nhẫn (kệ 27)

    27. Đối với bồ tát / hướng về thiện đức
    thì kẻ nhiễu hại / chính là kho báu,
    Nên với mọi người / lòng không thù hận,
    Tu theo hạnh nhẫn — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    3a1d. Hạnh Tấn (kệ 28)

    28.Thanh văn Duyên giác / cầu tự lợi thôi
    Đã tinh tấn như / lửa cháy ngang mày
    Vậy vì chúng sinh / khởi tâm chuyên cần / nơi gốc thiện đức,
    Tu hạnh tinh tấn — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    3a1e. Hạnh Định (kệ 29)

    29. Chỉ, nếu phối hợp / triệt để với Quán
    Thì phiền não diệt. / Nhờ biết như vậy,
    Siêu việt hết thảy / tứ vô sắc giới,
    Tu chánh định này — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    3a1f. Hạnh Tuệ (kệ 30)

    30. Tuệ mà không có / thì năm hạnh kia
    Không đủ khả năng / thành tựu chánh giác.
    Dùng Phương tiện và / tam vô phân biệt,
    Để tu hạnh Tuệ — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    3a2. Bốn Điều Khế Kinh Dạy (kệ 31-34)

    3a2a. Tự Xét Lỗi Mình Để Bỏ Đi  (kệ 31)

    31. Mê vọng của mình / nếu không tự xét,
    Sẽ nhìn giống tu / nhưng làm trái Pháp,
    Vậy thì mê vọng / phải luôn tự mình
    Xét để mà buông — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    3a2b. Ngưng Chỉ Trích Bồ Tát  (kệ 32)

    32. Vì phiền não nên / bêu lỗi bồ tát
    Thì bản thân mình / sẽ bị tổn hao.
    Vậy thì những ai / đã vào đại thừa,
    Mình đừng nói lỗi — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    3a2c. Chặt Tham Chấp nơi việc nhà của thí chủ (kệ 33)

    33. Vì lợi vì danh / mà sanh tranh chấp,
    Làm cho hao tổn / cả văn tư tu.
    Nên việc người thân, / bằng hữu, thí chủ,
    Buông mọi chấp bám — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    3a2d. Tự Chế Ngự Lời Thô Ác  (kệ 34)

    34. Lời thô ác khiến / tâm người não loạn
    Và làm hao tổn / tánh hạnh bồ tát
    Vậy với người khác / đừng gây khó chịu,
    Buông ác ngữ đi — đó là pháp hành / của bậc bồ tát

    3a3. Cách Dẹp Phiền Não  (kệ 35)

    35. Phiền não quen lâu / sẽ khó đối trị,
    Vũ khí giao cho / chánh niệm chánh trị,
    Phiền não như là / tham sân các thứ,
    Chớm nhú chặt ngay — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    3a4. Luyện Chánh Niệm Tỉnh Giác  (kệ 36)

    36. Tóm lại, bất cứ / ở đâu, làm gì,
    Cũng phải tự hỏi / tâm mình ra sao.
    Luôn đi cùng với / chánh niệm tỉnh giác
    Để mà độ sinh — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    3a5. Hồi Hướng Cồng Đức về cho Bồ Đề Viên Mãn (kệ 37)

    37. Nỗ lực như vậy / được bao công đức,
    Xin vì quét khổ / cho khắp chúng sinh
    Mà dùng trí tuệ / siêu việt tam chấp,
    Hồi hướng bồ đề  — đó là pháp hành / của bậc bồ tát.

    3b. Kết

    Từ nơi ý nghĩa / của Kinh, Mật, Luận
    Dựa theo viên âm / của chư Giác giả,
    Nay xin viết lại / thành ba mươi bảy / pháp hành bồ tát
    Cho những ai muốn / tu bồ tát đạo.

    Tôi vì trí thấp / hiểu biết không nhiều,
    Thi kệ không làm / đẹp lòng bậc trí,
    Thế nhưng nhờ nương / lời bậc Giác giả / cùng với khế kinh,
    Pháp hành bồ tát / thiết nghĩ không lầm.

    Tuy vậy, sóng cả / thiện hạnh bồ tát
    Thâm sâu khó lường / cho kẻ trí mọn / như là tôi đây.
    Lỡ đâu mâu thuẫn / hay thiếu mạch lạc / vướng lỗi đại loại,
    Xin chư  Giác giả / nhẫn nại dùm cho.

    Nhờ công đức này, / nguyện khắp chúng sinh
    Với tâm bồ đề / chân nghĩa, tục nghĩa,
    Không vướng hai đầu / sinh tử, niết bàn,
    Trở thành y như / đức Quan Thế Âm.

    Bài pháp này do tỷ kheo Thogme, giáo luận sư, viết tại động đá ở  Ngulchu Rinchen, vì lợi ích của mình và của người.

    Ghi chú bản tiếng Việt: Cư sĩ Hồng Như Thubten Munsel chuyển Việt ngữ tháng 2 năm 2019, hiệu đính tháng 8 năm 2019.
    Chánh văn dịch từ nguyên bản tiếng Tạng, tham khảo với nhiều bản tiếng Anh trong đó có bản dịch của Alex Berzin, Adam Pearcey, Michele Martin, Ruth Sonam ; đại cương dịch từ tiếng Anh theo văn bản của Kurukulla Centre trích từ Transforming Adversity into Joy and Courage, by Geshe Jampa Tegchok.

    Tạng Ngữ

    ན་མོ་ལོ་ཀེ་ཤྭ་ར་ཡེ།  ། གང་གིས་ཆོས་ཀུན་འགྲོ་འོང་མེད་གཟིགས་ཀྱང་།  ། འགྲོ་བའི་དོན་ལ་གཅིག་ཏུ་བརྩོན་མཛད་པའི།  ། བླ་མ་མཆོག་དང་སྤྱན་རས་གཟིགས་མགོན་ལ།  ། རྟག་ཏུ་སྒོ་གསུམ་གུས་པས་ཕྱག་འཚལ་ལོ།  ། ཕན་བདེའི་འབྱུང་གནས་རྫོགས་པའི་སངས་རྒྱས་རྣམས།  ། དམ་ཆོས་བསྒྲུབས་ལས་བྱུང་སྟེ་དེ་ཡང་ནི།  ། དེ་ཡི་ལག་ལེན་ཤེས་ལ་རག་ལས་པས།  ། རྒྱལ་སྲས་རྣམས་ཀྱི་ལག་ལེན་བཤད་པར་བྱ།  ། དལ་འབྱོར་གྲུ་ཆེན་རྙེད་དཀའ་ཐོབ་དུས་འདིར།  ། བདག་གཞན་འཁོར་བའི་མཚོ་ལས་བསྒྲལ་བྱའི་ཕྱིར།  ། ཉིན་དང་མཚན་དུ་གཡེལ་བ་མེད་པར་ནི།  ། ཉན་སེམས་སྒོམ་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། གཉེན་གྱི་ཕྱོགས་ལ་འདོད་ཆགས་ཆུ་ལྟར་གཡོ།  ། དགྲ་ཡི་ཕྱོགས་ལ་ཞེ་སྡང་མེ་ལྟར་འབར།  ། བླང་དོར་བརྗེད་པའི་གཏི་མུག་མུན་ནག་ཅན།  ། ཕ་ཡུལ་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཡུལ་ངན་སྤངས་པས་ཉོན་མོངས་རིམ་གྱིས་འགྲིབ།  ། རྣམ་གཡེང་མེད་པས་དགེ་སྦྱོར་ངང་གིས་འཕེལ།  ། རིག་པ་དྭངས་པས་ཆོས་ལ་ངེས་ཤེས་སྐྱེ།  ། དབེན་པ་བསྟེན་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཡུན་རིང་འགྲོགས་པའི་མཛའ་བཤེས་སོ་སོར་འབྲལ། འབད་པས་བསྒྲུབས་པའི་ནོར་རྫས་ཤུལ་དུ་ལུས།  ། ལུས་ཀྱི་མགྲོན་ཁང་རྣམ་ཤེས་མགྲོན་པོས་འབོར།  ། ཚེ་འདི་བློས་བཏང་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། གང་དང་འགྲོགས་ན་དུག་གསུམ་འཕེལ་འགྱུར་ཞིང་།  ། ཐོས་བསམ་སྒོམ་པའི་བྱ་བ་ཉམས་འགྱུར་ལ།  ། བྱམས་དང་སྙིང་རྗེ་མེད་པར་སྒྱུར་བྱེད་པའི།  ། གྲོགས་ངན་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། གང་ཞིག་བསྟེན་ན་ཉེས་པ་ཟད་འགྱུར་ཞིང་།  ། ཡོན་ཏན་ཡར་ངོའི་ཟླ་ལྟར་འཕེལ་འགྱུར་བའི།  ། བཤེས་གཉེན་དམ་པ་རང་གི་ལུས་བས་ཀྱང་།  ། གཅེས་པར་འཛིན་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རང་ཡང་འཁོར་བའི་བཙོན་རར་བཅིངས་པ་ཡི།  ། འཇིག་རྟེན་ལྷ་ཡིས་སུ་ཞིག་བསྐྱབ་པར་ནུས།  ། དེ་ཕྱིར་གང་ལ་སྐྱབས་ན་མི་བསླུ་བའི།  ། དཀོན་མཆོག་སྐྱབས་འགྲོ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཤིན་ཏུ་བཟོད་དཀའི་ངན་སོང་སྡུག་བསྔལ་རྣམས།  ། སྡིག་པའི་ལས་ཀྱི་འབྲས་བུར་ཐུབ་པས་གསུངས། དེ་ཕྱིར་སྲོག་ལ་བབས་ཀྱང་སྡིག་པའི་ལས།  ། ནམ་ཡང་མི་བྱེད་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  །  །སྲིད་གསུམ་བདེ་བ་རྩྭ་རྩེའི་ཟིལ་པ་བཞིན།  ། ཡུད་ཙམ་ཞིག་གིས་འཇིག་པའི་ཆོས་ཅན་ཡིན།  ། ནམ་ཡང་མི་འགྱུར་ཐར་པའི་གོ་འཕང་མཆོག །དོན་དུ་གཉེར་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཐོག་མེད་དུས་ནས་བདག་ལ་བརྩེ་བ་ཡི།  ། མ་རྣམས་སྡུག་ན་རང་བདེས་ཅི་ཞིག་བྱ།  ། དེ་ཕྱིར་མཐའ་ཡས་སེམས་ཅན་བསྒྲལ་བྱའི་ཕྱིར།  ། བྱང་ཆུབ་སེམས་བསྐྱེད་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། སྡུག་བསྔལ་མ་ལུས་བདག་བདེ་འདོད་ལས་བྱུང་།  ། རྫོགས་པའི་བྱང་ཆུབ་གཞན་ཕན་སེམས་ལས་འཁྲུངས།  ། དེ་ཕྱིར་བདག་བདེ་གཞན་གྱི་སྡུག་བསྔལ་དག །ཡང་དག་བརྗེ་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། སུ་དག་འདོད་ཆེན་དབང་གིས་བདག་གི་ནོར།  ། ཐམས་ཅད་འཕྲོག་གམ་འཕྲོག་ཏུ་འཇུག་ན་ཡང་།  ། ལུས་དང་ལོངས་སྤྱོད་དུས་གསུམ་དགེ་བ་རྣམས།  ། དེ་ལ་བསྔོ་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། བདག་ལ་ཉེས་པ་ཅུང་ཟད་མེད་བཞིན་དུ། གང་དག་བདག་གི་མགོ་བོ་གཅོད་བྱེད་ནའང་། སྙིང་རྗེའི་དབང་གིས་དེ་ཡི་སྡིག་པ་རྣམས།  ། བདག་ལ་ལེན་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། འགའ་ཞིག་བདག་ལ་མི་སྙན་སྣ་ཚོགས་པ།  ། སྟོང་གསུམ་ཁྱབ་པར་སྒྲོགས་པར་བྱེད་ན་ཡང་།  ། བྱམས་པའི་སེམས་ཀྱིས་སླར་ཡང་དེ་ཉིད་ཀྱི།  ། ཡོན་ཏན་བརྗོད་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། འགྲོ་མང་འདུས་པའི་དབུས་སུ་འགའ་ཞིག་གིས།  ། མཚང་ནས་བྲུས་ཤིང་ཚིག་ངན་སྨྲ་ན་ཡང་།  ། དེ་ལ་དགེ་བའི་བཤེས་ཀྱི་འདུ་ཤེས་ཀྱིས།  ། ཡོན་ཏན་བརྗོད་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། བདག་གིས་བུ་བཞིན་གཅེས་པར་བསྐྱངས་པའི་མིས།  ། བདག་ལ་དགྲ་བཞིན་ལྟ་བར་བྱེད་ན་ཡང་།  ། ནད་ཀྱི་བཏབ་པའི་བུ་ལ་མ་བཞིན་དུ།  ། ལྷག་པར་བརྩེ་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རང་དང་མཉམ་པའམ་དམན་པའི་སྐྱེ་བོ་ཡིས།  ། ང་རྒྱལ་དབང་གིས་བརྙས་ཐབས་བྱས་ན་ཡང་།  ། བླ་མ་བཞིན་དུ་གུས་པས་བདག་ཉིད་ཀྱི།  ། སྤྱི་བོར་ལེན་པ་རྒྱལ་སྲས་ཡིན།  ། འཚོ་བས་ཕོངས་ཤིང་རྟག་ཏུ་མི་ཡིས་བརྙས།  ། ཚབས་ཆེན་ནད་དང་གདོན་གྱིས་བཏབ་ཀྱང་སླར་།  ། འགྲོ་ཀུན་སྡིག་སྡུག་བདག་ལ་ལེན་བྱེད་ཅིང་།  ། ཞུམ་པ་མེད་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། སྙན་པར་གྲགས་ཤིང་འགྲོ་མང་སྤྱི་བོས་བཏུད།  ། རྣམ་ཐོས་བུ་ཡི་ནོར་འདྲ་ཐོབ་གྱུར་ཀྱང་།  ། སྲིད་པའི་དཔལ་འབྱོར་སྙིང་པོ་མེད་གཟིགས་ནས།  ། ཁེངས་པ་མེད་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རང་གི་ཞེ་སྡང་དགྲ་བོ་མ་ཐུལ་ན།  ། ཕྱི་རོལ་དགྲ་བོ་བཏུལ་ཞིང་འཕེལ་བར་འགྱུར་།  ། དེ་ཕྱིར་བྱམས་དང་སྙིང་རྗེའི་དམག་དཔུང་གིས།  ། རང་རྒྱུད་འདུལ་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། འདོད་པའི་ཡོན་ཏན་ལན་ཚྭའི་ཆུ་དང་འདྲ།  ། ཇི་ཙམ་སྤྱད་ཅིང་སྲེད་པ་འཕེལ་བར་འགྱུར།  ། གང་ལ་ཞེན་ཆགས་སྐྱེ་བའི་དངོས་པོ་རྣམས།  ། འཕྲལ་ལ་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཇི་ལྟར་སྣང་བ་འདི་དག་རང་གི་སེམས།  ། སེམས་ཉིད་གདོད་ནས་སྤྲོས་པའི་མཐའ་དང་བྲལ།  ། དེ་ཉིད་ཤེས་ནས་གཟུང་འཛིན་མཚན་མ་རྣམས།  ། ཡིད་ལ་མི་བྱེད་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཡིད་དུ་འོང་བའི་ཡུལ་དང་འཕྲད་པ་ན།  ། དབྱར་གྱི་དུས་ཀྱི་འཇའ་ཚོན་ཇི་བཞིན་དུ།  ། མཛེས་པར་སྣང་ཡང་བདེན་པར་མེད་ལྟ་ཞིང་།  ། ཞེན་ཆགས་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། སྡུག་བསྔལ་སྣ་ཚོགས་རྨི་ལམ་བུ་ཤི་ལྟར།  ། འཁྲུལ་སྣང་བདེན་པར་བཟུང་བས་ཨ་ཐང་ཆད།  ། དེ་ཕྱིར་མི་མཐུན་རྐྱེན་དང་འཕྲད་པའི་ཚེ།  ། འཁྲུལ་བར་ལྟ་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། བྱང་ཆུབ་འདོད་པས་ལུས་ཀྱང་གཏོང་དགོས་ན།  ། ཕྱི་རོལ་དངོས་པོ་རྣམས་ལ་སྨོས་ཅི་དགོས།  ། དེ་ཕྱིར་ལན་དང་རྣམ་སྨིན་མི་རེ་བའི།  ། སྦྱིན་པ་གཏོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཚུལ་ཁྲིམས་མེད་ན་རང་དོན་མི་འགྲུབ་ན།  ། གཞན་དོན་སྒྲུབ་པར་འདོད་པ་གད་མོའི་གནས།  ། དེ་ཕྱིར་སྲིད་པའི་འདུན་པ་མེད་པ་ཡི།  ། ཚུལ་ཁྲིམས་བསྲུང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། དགེ་བའི་ལོངས་སྤྱོད་འདོད་པའི་རྒྱལ་སྲས་ལ།  ། གནོད་བྱེད་ཐམས་ཅད་རིན་ཆེན་གཏེར་དང་མཚུངས།  ། དེ་ཕྱིར་ཀུན་ལ་ཞེ་འགྲས་མེད་པ་ཡི།  ། བཟོད་པ་སྒོམ་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རང་དོན་འབའ་ཞིག་སྒྲུབ་པའི་ཉན་རང་ཡང་།  ། མགོ་ལ་མེ་ཤོར་བཟློག་ལྟར་བརྩོན་མཐོང་ན།  ། འགྲོ་ཀུན་དོན་དུ་ཡོན་ཏན་འབྱུང་གནས་ཀྱི།  ། བརྩོན་འགྲུས་རྩོམ་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཞི་གནས་རབ་ཏུ་ལྡན་པའི་ལྷག་མཐོང་གིས།  ། ཉོན་མོངས་རྣམ་པར་འཇོམས་པར་ཤེས་བྱས་ནས།  ། གཟུགས་མེད་བཞི་ལས་ཡང་དག་འདས་པ་ཡི།  ། བསམ་གཏན་སྒོམ་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཤེས་རབ་མེད་ན་ཕ་རོལ་ཕྱིན་ལྔ་ཡིས།  ། རྫོགས་པའི་བྱང་ཆུབ་ཐོབ་པར་མི་ནུས་པས།  ། ཐབས་དང་ལྡན་ཞིང་འཁོར་གསུམ་མི་རྟོག་པའི།  ། ཤེས་རབ་སྒོམ་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རང་གི་འཁྲུལ་བ་རང་གིས་མ་བརྟགས་ན།  ། ཆོས་པའི་གཟུགས་ཀྱིས་ཆོས་མིན་བྱེད་སྲིད་པས།  ། དེ་ཕྱིར་རྒྱུན་དུ་རང་གི་འཁྲུལ་བ་ལ།  ། བརྟགས་ནས་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཉོན་མོངས་དབང་གིས་རྒྱལ་སྲས་གཞན་དག་གི །ཉེས་པ་གླེང་ན་བདག་ཉིད་ཉམས་འགྱུར་བས།  ། ཐེག་པ་ཆེ་ལ་ཞུགས་པའི་གང་ཟག་གི །ཉེས་པ་མི་སྨྲ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རྙེད་བཀུར་དབང་གིས་ཕན་ཚུན་རྩོད་འགྱུར་ཞིང་།  ། ཐོས་བསམ་བསྒོམ་པའི་བྱ་བ་ཉམས་འགྱུར་བས།  ། མཛའ་བཤེས་ཁྱིམ་དང་སྦྱིན་བདག་ཁྱིམ་རྣམས་ལ།  ། ཆགས་པ་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། རྩུབ་མོའི་ཚིག་གིས་གཞན་སེམས་འཁྲུག་འགྱུར་ཞིང་།  ། རྒྱལ་བའི་སྲས་ཀྱི་སྤྱོད་ཚུལ་ཉམས་འགྱུར་བས།  ། དེ་ཕྱིར་གཞན་གྱི་ཡིད་དུ་མི་འོང་བའི།  ། ཚིག་རྩུབ་སྤོང་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  ། ཉོན་མོངས་གོམས་ན་གཉེན་པོས་བཟློག་དཀའ་བས།  ། དྲན་ཤེས་སྐྱེས་བུས་གཉེན་པོའི་མཚོན་བཟུང་ནས།  ། ཆགས་སོགས་ཉོན་མོངས་དང་པོ་སྐྱེས་མ་ཐག །འབུར་འཇོམས་བྱེད་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  །  །མདོར་ན་གང་དུ་སྤྱོད་ལམ་ཅི་བྱེད་ཀྱང་།  ། རང་གི་སེམས་ཀྱི་གནས་སྐབས་ཅི་འདྲ་ཞེས།  ། རྒྱུན་དུ་དྲན་དང་ཤེས་བཞིན་ལྡན་པ་ཡིས།  ། གཞན་དོན་སྒྲུབ་པ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ཡིན།  །  །དེ་ལྟར་བརྩོན་པས་བསྒྲུབས་པའི་དགེ་བ་རྣམས།  ། མཐའ་ཡས་འགྲོ་བའི་སྡུག་བསྔལ་བསལ་བྱའི་ཕྱིར་།  ། འཁོར་གསུམ་རྣམ་པར་དག་པའི་ཤེས་རབ་ཀྱིས།  ། བྱང་ཆུབ་བསྔོ་བ་རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་ ཡིན།  ། མདོ་རྒྱུད་བསྟན་བཅོས་རྣམས་ལས་གསུངས་པའི་དོན།  ། དམ་པ་རྣམས་ཀྱི་གསུང་གི་རྗེས་འབྲངས་ནས།  ། རྒྱལ་སྲས་རྣམས་ཀྱི་ལག་ལེན་སུམ་ཅུ་བདུན།  ། རྒྱལ་སྲས་ལམ་ལ་སློབ་འདོད་དོན་དུ་བཀོད།  ། བློ་གྲོས་དམན་ཞིང་སྦྱངས་པ་ཆུང་བའི་ཕྱིར།  ། མཁས་པ་དགྱེས་པའི་སྡེབ་སྦྱོར་མ་མཆིས་ཀྱང་།  ། མདོ་དང་དམ་པའི་གསུང་ལ་བརྟེན་པའི་ཕྱིར།  ། རྒྱལ་སྲས་ལག་ལེན་འཁྲུལ་མེད་ལེགས་པར་སེམས།  ། འོན་ཀྱང་རྒྱལ་སྲས་སྤྱོད་པ་རླབས་ཆེན་རྣམས།  ། བློ་དམན་བདག་འདྲས་གཏིང་དཔག་དཀའ་བའི་ཕྱིར།  ། འགལ་དང་མ་འབྲེལ་ལ་སོགས་ཉེས་པའི་ཚོགས།  ། དམ་པ་རྣམས་ཀྱིས་བཟོད་པར་མཛད་དུ་གསོལ།  ། དེ་ལས་བྱུང་བའི་དགེ་བས་འགྲོ་བ་ཀུན།  ། དོན་དམ་ཀུན་རྫོབ་བྱང་ཆུབ་སེམས་མཆོག་གིས།  ། སྲིད་དང་ཞི་བའི་མཐའ་ལ་མི་གནས་པའི།  ། སྤྱན་རས་གཟིགས་མགོན་དེ་དང་མཚུངས་པར་ཤོག །ཅེས་པ་འདི་རང་གཞན་ལ་ཕན་པའི་དོན་དུ་ལུང་དང་རིགས་པ་སྨྲ་བའི་བཙུན་པ་ཐོགས་མེད་ཀྱིས་དངུལ་ཆུའི་རིན་ཆེན་ཕུག་ཏུ་སྦྱར་བའོ།།  །

  • Lama Tsongkhapa: LỜI NGUYỆN CUỐI LAMRIM ĐẠI LUẬN

    Lama Tsongkhapa: LỜI NGUYỆN CUỐI LAMRIM ĐẠI LUẬN

    -Tựa Đề Tạng Ngữ (Tibetan Title): ࿓༅༎་ལམ་རིམ་སྨོན་ལམ་བཞུགས་སོ༎
    -Tác giả (author): Lama Tsongkhapa (Lama Tông Khách Ba)
    (sơ tổ dòng Gelug)
    -Việt ngữ (translator): Hồng Như, bản mới 2018 – chỉnh 02, 2026
    Nghe Tụng (chanting): Lab Kyabgon Rinpoche <Youtube>
    ༡༽ དེར་ནི་རིང་དུ་འབད་ལས་ཚོགས་གཉིས་ནི ། །
    DER NI RING DU BÄ LÄ TSHOG NYI NI
    From my two collections, vast as space, that I have amassed
    Bấy lâu gắng tu / được nhị lương này
    མཁའ་ལྟར་ཡངས་པ་གང་ཞིག་བསགས་པ་དེས ། །
    KHA TAR YANG PA GANG ZHIG SAG PA DE
    From working with effort at this practice for a great length of time,
    Rộng như trời rộng, / xin vì những ai
    བློ་མིག་མ་རིག་གིས་ལྡོངས་འགྲོ་བ་ཀུན ། །
    LO MIG MA RIG GI DONG DRO WA KÜN
    May I become the chief leading buddha for all those
    mắt tuệ khuất lấp / bởi màn vô minh
    རྣམ་འདྲེན་རྒྱལ་བའི་དབང་པོར་བདག་གྱུར་ཅིག །
    NAM DREN GYÄL WÄI WANG POR DAG GYUR CHIG
    Whose mind’s wisdom eye is blinded by ignorance.
    con nguyện thành Phật / thượng thủ dẫn đường

    ༢༽ དེར་མ་སོན་པའི་ཚེ་རབས་ཀུན་ཏུ་ཡང་། །
    DER MA SÖN PÄI TSHE RAB KÜN TU YANG
    Even if I do not reach this state, may I be held
    Khi chưa được vậy / nguyện mọi kiếp sau
    འཇམ་པའི་དབྱངས་ཀྱིས་བརྩེ་བས་རྗེས་བཟུང་ནས ། །
    JAM PÄI YANG KYI TSE WÄ JE ZUNG NÄ
    In your loving compassion for all lives, Manjushri,
    Được đức Mạn thù / thương yêu gìn giữ,
    བསྟན་པའི་རིམ་པ་ཀུན་ཚང་ལམ་གྱི་མཆོག །
    TÄN PÄI RIM PA KÜN TSHANG LAM GYI CHOG
    May I find the best of complete graded paths of the teachings,
    Trọn vẹn thắng pháp / trình tự đạo giác,
    རྙེད་ནས་སྒྲུབ་པས་རྒྱལ་རྣམས་མཉེས་བྱེད་ཤོག །
    NYE NÄ DRUB PÄ GYÄL NAM NYE JE SHOG
    And may I please all the buddhas by my practice.
    Nguyện gặp và tu / khiến Phật đẹp lòng

    ༣༽ རང་གིས་ཇི་བཞིན་རྟོགས་པའི་ལམ་གྱི་གནད ། །
    RANG GI JI ZHIN TOG PÄI LAM GYI NÄ
    Using skillful means drawn by the strong force of compassion,
    Chứng đúng như thật, cốt lõi đường tu
    ཤུགས་དྲག་བརྩེ་བས་དྲངས་པའི་ཐབས་མཁས་ཀྱིས ། །
    SHUG DRAG TSE WÄ DRANG WÄI THAB KHÄ KYI
    May I clear the darkness from the minds of all beings
    Lấy lực đại từ / làm thiện phương tiện
    འགྲོ་བའི་ཡིད་ཀྱི་མུན་པ་བསལ་བྱས་ནས ། །
    DRO WÄI YI KYI MÜN PA SÄL JÄ NÄ
    With the points of the path as I have discerned them:
    Quét sạch bóng tối / trong tâm hữu tình
    རྒྱལ་བའི་བསྟན་པ་ཡུན་རིང་འཛིན་གྱུར་ཅིག །
    GYÄL WÄI TÄN PA YÜN RING DZIN GYUR CHIG
    May I uphold Buddha’s teachings for a very long time.
    Giữ cho Pháp Phật / tồn tại dài lâu.

    ༤༽ བསྟན་པ་རིན་ཆེན་མཆོག་གིས་མ་ཁྱབ་པའམ།
    TÄN PA RIN CHEN CHOG GI MA KHYAB PAM
    With my heart going out with great compassion
    Thắng Pháp quí giá / phương nào chưa thịnh,
    ཁྱབ་ཀྱང་ཉམས་པར་གྱུར་པའི་ཕྱོགས་དེར་ནི ། །
    KHYAB KYANG NYAM PAR GYUR WÄI CHOG DER NI
    In whatever direction the most precious teachings
    Hay là đã thịnh / nhưng rồi đã suy
    སྙིང་རྗེ་ཆེན་པོས་ཡིད་རབ་བསྐྱོད་པ་ཡིས ། །
    NYING JE CHEN PÖ YI RAB KYÖ PA YI
    Have not yet spread, or once spread have declined,
    Nguyện lấy đại bi / chấn động lòng người
    ཕན་བདེའི་གཏེར་དེ་གསལ་བར་བྱེད་པར་ཤོག །
    PHÄN DEI TER DE SÄL WAR JE PAR SHOG
    May I reveal this treasure of happiness and aid.
    Khai mở rạng ngời / kho tàng phúc lạc

    ༥༽སྲས་བཅས་རྒྱལ་བའི་རྨད་བྱུང་འཕྲིན་ལས་ལས༎
    SÄ CHÄ GYÄL WÄI MÄ JUNG THRIN LÄ LÄ
    May the minds of those who wish for liberation be granted bounteous peace
    Nương hạnh nhiệm mầu / của Phật, Bồ tát
    ལེགས་གྲུབ་བྱང་ཆུབ་ལམ་གྱི་རིམ་པས་ཀྱང་། །
    LEG DRUB JANG CHUB LAM GYI RIM PÄ KYANG
    And the buddhas’ deeds be nourished for a long time
    Cùng với trình tự / đường tu giác ngộ
    ཐར་འདོད་རྣམས་ཀྱི་ཡིད་ལ་དཔལ་སྟེར་ཞིང་། །
    THAR DÖ NAM KYI YI LA PÄL TER ZHING
    By even this graded path to enlightenment completed
    Nguyện làm rực rỡ / tâm người cầu thoát,
    རྒྱལ་བའི་མཛད་པ་རིང་དུ་སྐྱོང་གྱུར་ཅིག །
    GYÄL WÄI DZÄ PA RING DU KYONG GYUR CHIG
    Due to the wondrous virtuous conduct of the buddhas and their sons.
    Huân dưỡng lâu dài / thiện hạnh Thế tôn.

    ༦༽ ལམ་བཟང་བསྒྲུབ་པའི་མཐུན་རྐྱེན་སྒྲུབ་བྱེད་ཅིང་༎
    LAM ZANG DRUB PÄI THÜN KYEN DRUB JE CHING
    May all human and non-human beings who eliminate adversity
    Nguyện làm thuận duyên / cho pháp lành này
    གལ་རྐྱེན་སེལ་བྱེད་མི་དང་མི་མིན་ཀུན ། །
    GÄL KYEN SEL JE MI DANG MI MIN KÜN
    And create conducive conditions for practicing the excellent paths
    Nghịch duyên quét hết, / cho khắp mọi loài / nhân và phi nhân
    ཚེ་རབས་ཀུན་ཏུ་རྒྱལ་བས་བསྔགས་པ་ཡི ། །
    TSHE RAB KÜN TU GYÄL WÄ NGAG PA YI
    Never be parted in any of their lives
    Mọi đời kiếp sau / không bao giờ lìa
    རྣམ་དག་ལམ་དང་འབྲལ་བར་མ་གྱུར་ཅིག །
    NAM DAG LAM DANG DRÄL WAR MA GYUR CHIG
    From the purest path praised by the buddhas.
    Đường tu trong sáng / mà Phật tán dương.

    ༧༽གང་ཚེ་ཐེག་པ་མཆོག་ལ་ཆོས་སྤྱོད་བཅུའི༎
    GANG TSHE THEG PA CHOG LA CHÖ CHÖ CHÜI
    Whenever someone makes effort to act
    Nguyện cho bao giờ / ở nơi thắng thừa
    ཚུལ་བཞིན་བསྒྲུབ་ལ་བརྩོན་པ་དེ་ཡི་ཚེ ། །
    TSHÜL ZHIN DRUB LA TSÖN PA DE YI TSHE
    In accordance with the ten-fold Mahayana virtuous practices
    Gắng tu đúng theo / mười chủng hành pháp,
    མཐུ་ལྡན་རྣམས་ཀྱིས་རྟག་ཏུ་གྲོགས་བྱེད་ཅིང་། །
    THU DÄN NAM KYI TAG TU DROG JE CHING
    May he always be assisted by the mighty ones,
    Sẽ luôn được chư / Đại lực nâng đỡ,
    ཀྲ་ཤིས་རྒྱ་མཚོས་ཕྱོགས་ཀུན་ཁྱབ་གྱུར་ཅིག །
    TRA SHI GYA TSÖ CHOG KÜN KHYAB GYUR CHIG
    And may oceans of prosperity spread everywhere.
    Biển rộng cát tường / tràn khắp mọi nơi.

    ཅེས་པ་འདི་ནི་རྗེ་ཙོང་ཁ་པ་བློ་བཟང་གྲགས་པས་མཛད་པའོ། །
    Bài pháp này do đức Tsong Khapa trước tác
  • Atisa: CHUỖI NGỌC BỒ TÁT

    Atisa: CHUỖI NGỌC BỒ TÁT

    -Tựa Đề Tạng Ngữ (Tibetan Title): བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའི་ནོར་བུའི་ཕྲེང་བ།
    -Tác giả (author): Dipamkaraśrijñana (Je Atisa)
    -Việt ngữ: Hồng Như, bản nháp 2019

    Chuỗi Ngọc Bồ Tát

    Tựa đề tiếng Phạn: Bodhisattvamanevali 
    Tựa đề tiếng Tạng: changchub sempé norbü trengwa

    Kính lễ Tâm Đại Bi
    Kính lễ chư Thượng Sư
    Kính lễ chư Tôn của tín tâm

    1. Nghi hoặc vướng tâm, buông bỏ hết
    Dốc tâm tận lực nơi pháp hành
    Chìm, chậm và lười đều triệt bỏ
    Phải luôn nỗ lực và tinh tấn

    2.  Chánh niệm, tỉnh giác, bất phóng dật
    Luôn dùng để giữ cửa giác quan
    Ban ngày ba buổi, đêm ba buổi
    Luôn xét tới lui dòng tâm thức

    3. Lỗi ở nơi mình phải nói lớn
    Còn lỗi người khác chớ tìm tòi
    Công đức của mình nên giữ kín
    Công đức của người phải nói ra

    4. Phú quí, vinh quang, đều từ bỏ
    Lợi danh mọi lúc đều phải buông
    Phải biết thiểu dục và tri túc
    Thọ ơn thì phải biết trả ơn

    5. Tâm từ tâm bi, phải huân tập
    Giữ tâm bồ đề thật vững chắc
    Mười điều bất thiện, luôn từ bỏ
    Tín tâm luôn giữ thật vững bền

    6. Phẫn nộ ngã mạn đều phải diệt
    Còn tâm khiêm hạ giữ bên mình
    Nghề nghiệp bất thiện phải từ bỏ
    Sinh sống bằng nghề thuận chánh pháp

    7. Tài vật hết thảy đều buông bỏ
    Trang điểm bằng tài sản Thánh nhân [xem chi tiết đoạn 25-26]
    Bao nhiêu náo nhiệt buông ra cả
    Ở nơi lan nhã mà an trú

    8. Chuyện phiếm tào lao buông bỏ hết
    Phải luôn tự chủ lời nói ra
    Khi gặp đạo sư, thầy truyền giới
    Khởi tâm thành kính muốn hầu Thầy

    9. Đối với những ai có mắt pháp
    Hay với chúng sinh mới nhập môn
    Phải biết tất cả là Đạo sư
    Khi gặp bất kỳ chúng sinh nào
    Biết là cha mẹ, con cháu mình

    10. Bạn bè bất thiện buông bỏ hết
    Bậc thiện tri thức, phải nương vào
    Bỏ tâm giận dữ và không vui
    Còn chỗ nào vui, phải đi đến

    11. Bất kể tham gì, cũng bỏ hết
    Phải về trú ở sự không tham
    Tham thì thiện đạo cũng không đạt
    Và làm đứt mạng của giải thoát

    12. Hễ thấy pháp gì mang vui đến
    Cứ luôn ở đó mà dụng công
    Đầu tiên bắt đầu như thế nào
    Thì hãy cứ thế mà tu trước
    Được vậy mọi sự đều sẽ tốt
    Bằng không sẽ chẳng việc gì xong

    13. Vì không hề vui cùng việc ác
    Cho nên hễ khởi niệm tự cao
    Thì ngay lúc ấy chặt ngã mạn
    và phải nhớ lời dạy của Thầy

    14. Bao giờ tâm lý nổi chán chường
    Thì phải tán thưởng, nâng tâm lên
    Quán về tánh không của cả hai.
    Khi gặp cảnh nào khiến tham sân
    Thì thấy chỉ như giả, như huyễn

    15. Khi nghe phải lời nói khó nghe
    Phải thấy chỉ như là tiếng vang
    Bao giờ thân thể bị thương tổn
    Phải thấy đó là do nghiệp cũ

    16. Trú nơi lan nhã miền xa vắng
    Giống như xác chết loài thú hoang
    Phải tự dấu kín bản thân mình
    Và phải trú ở sự không tham

    17. Luôn luôn giữ vững thệ nguyện mình.
    Khi nào nổi cơn lười giải đãi
    Khi ấy hãy tự đếm lỗi mình
    Nhớ lại tinh túy của giới luật

    18. Khi nào gặp mặt bất kỳ ai
    Thì lời nói phải nhẹ và thật
    Mặt mày cau có đều bỏ hết
    Phải luôn gìn giữ một nụ cười

    19. Nói chung mỗi khi gặp người khác
    Hãy vui mà cho, đừng bủn xỉn
    Đố kị ghét ghen đều từ bỏ

    20. Vì để giữ gìn tâm người khác
    Nên mọi tranh chấp đều bỏ đi
    Giữ tâm kham nhẫn cạnh bên mình

    21. Đừng dua nịnh cũng đừng thay đổi
    Trước sau như một, đáng tin cậy
    Bỏ hết thái độ khinh rẻ người
    Ngược lại luôn giữ lòng thành kính

    22. Bao giờ cho người lời giáo huấn
    Phải bằng tâm từ bi lợi tha
    Giáo pháp Phật cho đừng phỉ báng
    Pháp nào mà lòng thiết tha muốn
    Thì nơi mười cửa pháp hạnh này
    Ngày đêm chia ra mà dụng công

    23. Ba thời thiện đức được bao nhiêu
    Hồi hướng về đại vô thượng giác
    Rãi hết công đức cho chúng sinh
    Thất chi đại nguyện luôn hiến cúng

    24. Làm được như vậy thì hai kho
    Tư lương phước trí sẽ viên thành
    Và hai chướng ngại sẽ đoạn diệt
    Thân người này sẽ đầy ý nghĩa
    Quả vô thượng giác sẽ viên thành

    25. Tài sản sự tin và giữ giới
    Tài sản của sự cho, sự nghe
    Tài sản của tâm tàm, tâm quí
    Và của trí tuệ, bảy kho tàng.

    26. Hết thảy ngọc báu thắng diệu này
    Là bảy tài sản không vơi cạn
    Ai không phải người, đừng cho biết.


    Ở giữa đám đông xét lời nói
    Khi ở một mình tự xét tâm

    Đến đây chấm dứt bài pháp Chuỗi Ngọc Bồ Tát do Sư trưởng Ấn độ Dipamkaraśrijñana soạn tác



    ༄༅༎རྒྱ་གར་སྐད་དུ།བོ་དྷི་སཏྭ་མ་ཎྀ་ཨ་བ་ལི།  བོད་སྐད་དུ།བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའི་ནོར་བུའི་ཕྲེང་བ།  ཐུགས་རྗེ་ཆེན་པོ་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ༎  བླ་མ་རྣམས་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ༎  དད་པའི་ལྷ་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ༎  ཐེ་ཚོམ་ཐམས་ཅད་སྤང་བྱ་ཞེང་།  བསྒྲུབ་ལ་ནན་ཏན་གཅེས་སུ་བྱ༎  གཉིད་རྨུགས་ལེ་ལོ་རབ་སྤང་ཞིང་།  རྟག་ཏུ་བརྩོན་འགྲུས་འབད་པར་བྱ༎  དྲན་དང་ཤེས་བཞེན་བག་ཡོད་པས༎  དབང་པོའི་སྒོ་རྣམས་རྟག་ཏུ་བསྲུང༌༎  ཉིན་མཚན་དུས་གསུམ་ཡང་དང་ཡང༌༎  སེམས་ཀྱི་རྒྱུད་ལ་བརྟག་པར་བྱ༎  བདག་གི་ཉེས་པ་བསྒྲག་བྱ་ཞིང༌༎  གཞན་གྱི་འཁྲུལ་པ་བཙལ་མི་བྱ༎  བདག་གི་ཡོན་ཏན་སྦ་བྱ་ཞིང༌༎  གཞན་གྱི་ཡོན་ཏན་བསྒྲག་པར་བྱ༎  རྙེད་དང་བཀུར་སྟི་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  ཁྱེད་གྲགས་རྟག་ཏུ་སྤང་བར་བྱ༎  འདོད་པ་ཆུང་ཞིང་ཆོག་ཤེས་དང་༎  བྱས་ལ་དྲིན་དུ་བཟོ་བར་བྱ༎  བྱམས་དང་སྙིང་རྗེ་བསྒོམ་བྱ་ཞིང༌༎  བྱང་ཆུབ་སེམས་ནི་བརྟན་པར་བྱ༎  མི་དགེ་བཅུ་ནི་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  རྟག་ཏུ་དད་པ་བརྟན་པར་བྱ༎  ཁྲོ་དང་ང་རྒྱལ་གཞོམ་བྱ་ཞིང༌༎  དམན་པའི་སེམས་དང་ལྡན་པར་བྱ༎  ལོག་པའི་འཚོ་བ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  ཆོས་ཀྱི་འཚོ་བས་འཚོ་བར་བྱ༎  ཟང་ཟིང་ཐམས་ཅད་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  འཕགས་པའི་ནོར་གྱིས་བརྒྱན་པར་བྱ༎  འདུ་འཇི་[‘འཛི?]ཐམས་ཅད་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  དགོན་པ་ལ་ནི་གནས་པར་བྱ༎  འཁྱལ་བའི་ཚིག་རྣམས་སྤང་བང་ཞིང༌༎  རྟག་ཏུ་ངག་ནི་བསྡམ་པར་བྱ༌།  བླ་མ་མཁན་པོ་མཐོང་བའི་ཚེ ༎  གུས་པར་རིམ་གྲོ་བསྐྱེད་པར་བྱ༎  གང་ཟག་ཆོས་ཀྱི་མིག་ཅན་དང་།  ལས་དང་པོ་པའི་སེམས་ཅན་ལ༎  སྟོན་པའི་འདུ་ཤེས་བསྐྱེད་པར་བྱ༎  སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་མཐོང་བའི་ཚེ༎  ཕ་མ་བུ་ཚའི་འདུ་ཤེས་སྐྱེད༎  སྡིག་པའི་གྲོགས་པོ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  དགེ་བའི་བཤེས་གཉེན་བསྟེན་པར་བྱ༎  སྡང་དང་མི་བདེའི་སེམས་སྤངས་ཞིང༌༎  གང་དུ་བདེ་བར་འགྲོ་བར་བྱ༎  གང་ལའང་ཆགས་པ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  ཆགས་པ་མེད་པར་གནས་པར་བྱ༎  ཆགས་པས་བདེ་འགྲོའང་མི་ཐོབ་ཅིང་།  ཐར་པའི་སྲོག་ཀྱང་གཅོད་པར་བྱེད༎  གང་དུ་བདེ་བའི་ཆོས་མཐོང་བ༎  དེར་ནི་རྟག་ཏུ་འབད་པར་བྱ༎  ཐོག་མར་བརྩམས་པ་གང་ཡིན་པ༎  དང་པོར་དེ་ཉིད་བསྒྲུབ་བྱ་སྟེ༎  དེ་ལྟ་ན་ནི་ཀུན་ལེགས་བྱས༎  གཞན་དུ་གཉིས་ཀ་འགྲུབ་མི་འགྱུར༎  རྟག་ཏུ་སྡིག་དང་དགའ་བྲལ་བས༎  གང་དུ་མཐོ་བའི་སེམས་བྱུང་ཚེ༎  དེ་ཚེ་ང་རྒྱལ་བཅག་བྱ་ཞིང༌༎  བླ་མའི་གདམས་ངག་དྲན་པར་བྱ༎  ཞུམ་པའི་སེམས་ནི་བྱུང་བའི་ཚེ༎  སེམས་ཀྱི་གཟེངས་ནི་བསྟོད་པར་བྱ༎  གཉིས་ཀ་སྟོང་པ་ཉིད་དུ་བསྒོམ༎  གང་དུ་ཆགས་སྡང་ཡུལ་བྱུང་ཚེ༎  སྒྱུ་མ་སྤྲུལ་པ་བཞིན་དུ་ལྟ༎  མི་སྙན་ཚིག་རྣམས་ཐོས་པའི་ཚེ༎  བྲག་ཆ་བཞིན་དུ་བལྟ་བར་བྱ༎  ལུས་ལ་གནོད་པ་བྱུང་བའི་ཚེ༎  སྔོན་གྱི་ལས་སུ་བལྟ་བར་བྱ༎  བས་མཐའ་དགོན་པར་རབ་གནས་ཤིང༌༎  རི་དྭགས་ཤི་བའི་རོ་བཞིན་དུ༎  བདག་གིས་བདག་ཉིད་སྦ་བྱ་ཞིང༌༎  ཆགས་པ་མེད་པར་གནས་པར་བྱ༎  རྟག་ཏུ་ཡི་དམ་བརྟན་བྱ་ཞིང༌༎  ལེ་ལོ་སྙོམས་ལས་སེམས་བྱུང་ཚེ ༎  དེ་ཚེ་བདག་ལ་རྔན་བགྲང་ཞིང༌༎  བརྟུལ་ཞུགས་སྙིང་པོ་དྲན་པར་བྱ༎  གལ་ཏེ་གཞན་དག་མཐོང་བའི་ཚེ༎  ཞི་དེས་གསོང་པོར་སྨྲ་བ་དང་། ༎  ཁྲོ་གཉེར་ངོ་ཟུམ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  རྟག་ཏུ་འཛུམ་ཞིང་གནས་པར་བྱ༎  རྒྱུན་དུ་གཞན་དག་མཐོང་བའི་ཚེ ༎  སེར་སྣ་མེད་ཅིང་སྦྱིན་ལ་དགའ༎  ཕྲག་དོག་ཐམས་ཅད་སྤང་པར་བྱ༎  གཞན་གྱི་སེམས་ནི་བསྲུང་བའི་ཕྱིར༎  རྩོད་པ་ཐམས་ཅད་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  རྟག་ཏུ་བཟོད་དང་ལྡན་པར་བྱ༎  ངོ་དགའ་མེད་ཅིང་གསར་འགྲོགས་མེད༎  རྟག་ཏུ་ཚུགས་ནི་ཐུབ་པར་བྱ༎  གཞན་ལ་བརྙས་པ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  གུས་པའི་ཚུལ་གྱིས་གནས་པར་བྱ༎  གཞན་ལ་གདམས་ངག་བྱེད་པའི་ཚེ༎  སྙིང་རྗེ་ཕན་སེམས་ལྡན་པར་བྱ༎  ཆོས་ལ་བསྐུར་བ་མི་འདེབས་ཤིང་།     གང་མོས་དེ་ལ་འདུན་པ་དང་༎  ཆོས་སྤྱོད་རྣམ་བཅུའི་སྒོ་ནས་ནི༎  ཉིན་མཚན་ཕྱེད་པར་འབད་པར་བྱ༎  དུས་གསུམ་དགེ་བ་ཅི་བསགས་པ༎  བླ་མེད་བྱང་ཆུབ་ཆེན་པོར་སྔོ༎  བསོད་ནམས་སེམས་ཅན་རྣམས་ལ་བདར༌༎  རྟག་ཏུ་ཡན་ལག་བདུན་པ་ཡི༎  སྨོན་ལམ་ཆེན་པོ་གདབ་པར་བྱ༎  དེ་ལྟར་བྱས་ན་བསོད་ནམས་དང་༎  ཡེ་ཤེས་ཚོགས་གཉིས་རྫོགས་པར་འགྱུར༎  སྒྲིབ་པ་གཉིས་ཀྱང་ཟད་འགྱུར་ཏེ༎  མི་ལུས་ཐོབ་པ་དོན་ཡོད་པས༎  བླ་མེད་བྱང་ཆུབ་ཐོབ་པར་འགྱུར༎  དད་པའི་ནོར་དང་ཚུལ་ཁྲིམས་ནོར༎  གཏོང་བའི་ནོར་དང་ཐོས་པའི་ནོར༎  ཁྲེལ་ཡོད་ངོ་ཚ་ཤེས་པའི་ནོར༎  ཤེས་རབ་ཉིད་ཀྱི་ནོར་བདུན་ཏེ༎  ནོར་གྱི་དམ་པ་འདི་དག་ནི༎  མི་ཟད་པ་ཡི་ནོར་བདུན་ཏེ༎  མི་མ་ཡིན་ལ་བརྗོད་མི་བྱ༎  མང་པོའི་ནང་དུ་ངག་ལ་བརྟག༎  གཅིག་བུར་འདུག་ན་སེམས་ལ་བརྟག༎  རྒྱ་གར་གྱི་མཁན་པོ་དཔལ་ལྡན་མར་མེ་མཛད་བཟང་པོ་ཡི་ཤེས་སྙིང་པོས་མཛད་པ༎བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའི་ནོར་བུའི་ཕྲེང་བ་རྫོགས་སོ༎

  • Lama Zopa Rinpoche: LỢI ÍCH TỤNG KINH ÁNH SÁNG HOÀNG KIM

    TỤNG KINH ÁNH SÁNG HOÀNG KIM cho Hòa Bình Thế Giới

    Nguồn: Recite The Golden Light Sutra For World Peace <PDF>
    Tác giả: Lama Zopa Rinpoche - Hồng Như chuyển Việt ngữ
    Hạ tải văn bản tiếng Việt: <PDF>
    Mỗi Ngày Mươi Phút Trì Tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim <Web>

    Ai người mong cầu thế giới được bình an, hãy trì tụng Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim. Đây là pháp hành trọng yếu khi cần ngăn chận bạo động chiến tranh trên thế giới. Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim là một trong những phương pháp hữu ích nhất có khả năng mang lại nền hòa bình. Ai cũng làm được, bất kể bận rộn đến mức nào, dù chỉ đọc mỗi ngày một trang, hay vài hàng, cứ liên tục như vậy, hàng ngày đều đọc tụng Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim.

    Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim nhiệm mầu này là vua của các kinh, vô cùng mãnh liệt, có khả năng toàn thành mọi nguyện ước, và có khả năng mang lại niềm an vui hạnh phúc đến cho khắp cả chúng sinh, chí đến quả vô thượng bồ đề. Kinh này đặc biệt mãnh liệt đối với nền hòa bình thế giới, bảo vệ cho sự an nguy của mỗi người, bảo vệ quốc gia, bảo vệ trái đất. Và kinh này cũng có khả năng xoa dịu chữa lành mọi thống khổ của người dân trong một nước.

    Ai người mong cầu an vui hạnh phúc cho bản thân và cho tất cả, thì đây chính là Diệu Pháp giúp ta thực hiện điều này mà không phải gây hại cho bất cứ một ai, không cần chỉ trích xung đột vẫn đạt được nguồn an vui.

    Kinh này ai cũng đọc được, Phật tử hay ngoại đạo ai người cầu mong hòa bình đều có thể đọc.

    Kinh này cũng bảo vệ cho cá nhân từng người và bảo vệ cho quốc gia thoát cảnh thường gọi là thiên tai, liên quan đến các thành phần đất, nước, lửa, gió, như nạn động đất, lũ lụt, sóng thần, cuồng phong, hỏa hoạn v.v… Gọi là thiên tai, nhưng không phải nhiên không mà có, đều do nhân duyên. Do ý nghĩ và hành động độc ác của chúng ta đã từng gieo trong quá khứ, cùng những nguyên nhân đến từ ngoại cảnh.

    Lợi ích đọc tụng kinh này không thể nghĩ bàn. Lời kinh nói rằng dù mang vàng ngọc châu báu nhiều bằng số lượng vi trần trong Thái Bình Dương cúng dường cho vô lượng Phật đà, công đức ấy vẫn không thể sánh với công đức đọc tụng dù chỉ vài dòng Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim.

    Đọc tụng kinh này sẽ đưa ta đến với quả giác ngộ. Công đức đọc tụng kinh này nhiều đến nỗi mọi việc đều trở nên suông sẻ, đời sống thuận tiện dễ dàng, muốn gì được nấy, đều nhờ năng lực tịnh nghiệp và tích phước vô cùng khó tin. Bằng cách này chúng ta có thể giúp vô lượng chúng sinh thoát biển rộng khổ đau sinh tử, đưa chúng sinh đến bờ giác ngộ.

    Vậy ở đây, Thầy xin chắp cả hai tay, cầu khẩn quí vị hãy vì niềm an vui phúc lợi của thế gian này mà đọc tụng Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim, càng nhiều càng tốt.

    –Lama Zopa Rinpoche-

     

  • KINH ÁNH SÁNG HOÀNG KIM: Trì Tụng – Thượng nhân Thích Trí Quang dịch giải

    KINH ÁNH SÁNG HOÀNG KIM: Trì Tụng – Thượng nhân Thích Trí Quang dịch giải

    do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)
    Nghe kinh: <theo từng phẩm>
    Tài liệu thông tin tiếng Anh (Lama Zopa Rinpoche): <FPMT:Golden Light Sutra>
    Lợi ích tụng Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim <Hạ tải văn bản: PDF>    <web>

    MỜI CÙNG ĐỌC KINH

    Trang Web này dành để trì tụng Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Bạn nào muốn đồng hành, xin cùng đọc, mỗi ngày một ít (từ 5 đến 15 phút, tùy đoạn)

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chón vánh;
      • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
      • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
        nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
        nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
        vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    Chúng ta sẽ đọc bản kinh do Ngài Thích Trí Quang chuyển Việt ngữ. Thật vô cùng may mắn có được bản dịch như thế này để đọc tụng.

    Tạ ơn Ân sư đưa chúng con vào với Ánh Sáng Hoàng Kim, pháp hội vĩ đại, cảnh giới rạng ngời, hộ trì lớn lao.

    Với lời nguyện cát tường,

    Đệ tử Hồng Như
    16 tháng 8 năm 2018


    Cách Đọc

    Ở đây sẽ phân sẵn ra thành từng phần nhỏ để tiện việc trì tụng mỗi ngày. Hôm nào có thời gian muốn đọc nhiều hơn, xin cứ đọc tiếp phần sau. Hôm nào bận thì nghỉ, đọc đến đâu lần sau cứ ngang đó mà đọc tiếp. Xong hết cuốn thì đếm một lần, nếu thích có thể đáo trở lại tiếp tục trì tụng.

    Bạn nào muốn hành trì pháp sám hối theo kinh này thì làm theo Nghi Thức Sám Hối do Ngài Thích Trí Quang hướng dẫn. Nếu không cứ hãy có giờ là đọc, ở đâu cũng được không nhất thiết phải ngồi trước bàn thờ. Trước khi đọc lắng tâm nhớ lại vì sao mình muốn tụng kinh này, Đọc xong hồi hướng như đã ghi. Nếu có hồi hướng riêng, có thể thêm vào.

    Kinh này không dễ đọc. Phần Tổng quan sẽ giúp hiểu kinh dễ dàng hơn, xin dành chút thời gian tham khảo.


    Lịch Trì Tụng

    Đợt — :

    • Khởi động: —
    • Bắt đầu trì tụng —-
     Khởi động  Tham khảo các phần giới thiệu
    | Tổng Quan | Nghi Thức Sám Hối |
    Chánh Văn Kinh | T7 | CN | T2 | T3 | T4 |T5 | T6 |
    Tuần 1 –    | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 |
    Tuần 2 –  08 | 09 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 |
    Tuần 3 –  | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 |
    Tuần 4 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 2728 |
    Tuần 5 –  | 29 | 30 | 31 | 32 | 33 | 34 | 35 |
    Tuần 6 –  | 36 | 37 | 38 | 39 |4041 | 42 |
    Tuần 7 –  | 43 | 44 | 45 | 46 | 47 | 48 | 49 |
    Tuần 8 –  | 50 | 51 | 52 | 53 | 54 | 55 | 56 |
    Tuần 9 –  | 57 | 58 | 59 | 60| 61 | 62 | 63 |
    Tuần 10 –  | 64 | 65 | 66 |  [hết]

    Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
    Kim quang minh tối thắng vương kinh [i]

    bản Hoa dịch của ngài Nghĩa Tịnh
    Trí quang dịch
    2538 – 1994

    Ghi chú: ([i]) Tên kinh này gọi đủ là Kim quang minh tối thắng vương. Kim quang minh : ánh sáng hoàng kim. Tối thắng vương : chúa tể tối thượng.


    MỤC LỤC

    Tổng Quan
    Một, tổng quan văn bản
    Hai, tổng quan ngoại hình
    Ba, tổng quan nội dung

    Nghi Thức Sám Hối Đơn Giản Trước Khi Tụng Kinh

    KINH ÁNH SÁNG HOÀNG KIM

    CUỐN 1
    Phẩm 1 Mở đầu pháp thoại 
    Phẩm 2 Thọ Lượng Thế Tôn

    CUỐN 2
    Phẩm 3 Phân Biệt Ba Thân
    Phẩm 4 Âm Thanh Trống Vàng

    CUỐN  3
    Phẩm 5 Diệt Trừ Nghiệp Chướng

    CUỐN 4
    Phẩm 6 Minh Chú Tịnh Địa

    CUỐN 5
    Phẩm 7 Hoa Sen Ca Tụng
    Phẩm 8 Minh Chú Kim Thắng
    Phẩm 9 Trùng Tuyên Về Không
    Phẩm 10 Mãn Nguyện Vì Không
    Phẩm 11 Thiên Vương Quan Sát

    CUỐN 6
    Phẩm 12 Thiên Vương Hộ Quốc

    CUỐN 7
    Phẩm 13 Minh Chú Ly Nhiễm
    Phẩm 14 Ngọc Báu Như Ý
    Phẩm 15/1 Đại Biện Thiên Nữ

    CUỐN 8
    Phẩm 15/2 Đại Biện Thiên Nữ
    Phẩm 16 Cát Tường Thiên Nữ
    Phẩm 17 Tăng Trưởng Tài Vật
    Phẩm 18 Kiên Lao Địa Thần
    Phẩm 19 Dược Xoa Đại Tướng
    Phẩm 20 Vương Pháp Chính Luận

    CUỐN 9
    Phẩm 21 Thiện Sinh Luân Vương
    Phẩm 22 Tám Bộ Hộ Trì
    Phẩm 23 Thọ Ký Thành Phật
    Phẩm 24 Chữa Trị Bịnh Khổ
    Phẩm 25 Truyện Của Lưu Thủy

    CUỐN 10
    Phẩm 26 Xả Bỏ Thân Mạng
    Phẩm 27 Bồ Tát Tán Dương
    Phẩm 28 Diệu Tràng Tán Dương
    Phẩm 29 Thọ Thần Tán Dương
    Phẩm 30 Biện Tài Tán Dương
    Phẩm 31 Ký Thác Kinh Vua 3

    Ghi chú (của Ngài Thích Trí Quang)

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim: Kim quang minh tối thắng vương kinh
    bản Hoa dịch của ngài Nghĩa Tịnh
    Trí quang dịch
    2538 – 1994

    [Sơ Khởi] 

    Tổng quan


    [Phần này mượn phần thâu âm của Thy Mai [Trung Tâm Diệu Pháp Âm]

    Một, tổng quan văn bản

    (1)

    Kim quang minh kinh, theo Phật học nghiên cứu (Bài 10 trang 52), có 6 bản dịch. Bản Một, Kim quang minh kinh, 4 cuốn, 19 phẩm, Đàm mô sấm dịch. Niên đại phiên dịch của ngài này là 414-426. Bản Hai, Kim quang minh kinh, 7 cuốn, 21 phẩm, Chân đế dịch. Niên đại phiên dịch của ngài này là 548-569. Bản Ba, Kim quang minh kinh tục, 4 cuốn, Quật đa da xá dịch. Bản Bốn, Kim quang minh kinh ngân chủ chúc lụy phẩm, Xà na quật đa dịch. Niên đại phiên dịch của ngài này là 561-600. Bản Năm, Kim quang minh kinh, còn gọi là Hợp bộ Kim quang minh kinh, 8 cuốn, Bảo quí san tiết, niên đại 598. Bản Sáu, Kim quang minh tối thắng vương kinh, 10 cuốn, 31 phẩm, Nghĩa tịnh dịch. Sẽ ghi riêng ở dưới.

    (2)

    Nhưng hiện nay trong Đại tạng kinh bản Đại chính chỉ còn các bản Một, Năm và Sáu.

    Bản Một còn nguyên vẹn, mang số hiệu 663, Đàm mô sấm dịch. Ngài là vị đã dịch kinh Đại bát niết bàn và Phật sở hành tán rất nổi tiếng. Văn và nghĩa tất cả dịch phẩm của ngài này rất là trong sáng. Chỉ tiếc kinh Kim quang minh thì Phạn bản của ngài căn cứ chắc chắn thiếu sót. Thế nhưng trước bản Sáu, bản Một này được quan tâm nhiều lắm. Mục lục Đại tạng kinh bản Đại chính ghi có 5 bản sớ giải (số hiệu 1783-1787), toàn do các vị đại sư viết, trong đó có các ngài Trí giả, Cát tạng. Mục lục Tục tạng kinh bản chữ Vạn ghi 6 bản, trong các tập 30-31. Gần như nói kinh Kim quang minh là nói bản Một.

    Bản Năm, nói là hợp, nhưng Phật học nghiên cứu (bài 10 trang 52) nói là san tiết 4 bản trước. Thế là việc làm công ít hơn tội. San tiết đến mức nào, theo tiêu chuẩn nào, thì chưa quyết đoán được, nay, sơ khởi, chỉ xét đại thể, thì bản Năm này hợp 18 phẩm của bản Một  ; 4 phẩm (3, 5, 6, 9) của bản Hai, nhưng toàn là những phẩm rất quan trọng  ; lại hợp 2 phẩm (11 và 24) của bản Bốn.

    Đáng thống trách là bản Hai của ngài Chân đế dịch đã không còn. Không những dịch giả là ngài Chân đế, mà bản này khá đủ (28 phẩm), nên bản này chắc chắn quan trọng. Nhưng hiện nay đã mất. Nếu bản Năm cũng có trách nhiệm phần nào trong sự mất ấy thì bản Năm công ít hơn tội.

    (3)

    Nay nói riêng bản Sáu. Đó là chính văn tôi dịch. Chính văn bản này nằm trong Chính 16/403-456. Ở đó, chót hết, trang 456, có ghi : Phạn bản kinh này là của hiệp hội Asia hoàng gia Anh quốc. So với bản dịch của ngài Nghĩa tịnh, thì Phạn bản này có chỗ thiếu. Tức như minh chú thiếu khá nhiều. Căn cứ bản dịch của Tây tạng (Đồ thư quán đại học Tôn giáo của Nhật) mà đối chiếu, thì kinh Kim quang minh Tây tạng có 2 bộ. Một trong 2 bộ ấy đúng là bản Hoa văn của ngài Nghĩa tịnh dịch, dẫu tựu trung vẫn có khác chút ít.

    Như vậy Phạn bản kinh này, vì quá phổ thông, sao chép không ít, nên Phạn bản của các bản Một Hai đã khác nhau, lại khác với bản Sáu. Phạn bản của bản Sáu cũng khác chút ít với Phạn bản hiện còn, với bản dịch Tây tạng. Chưa hết, theo ghi chú của chính ngài Nghĩa tịnh (Chính 16/437) mà tôi ghi lại (số 78) thì khi dịch kinh này, ngài Nghĩa tịnh có trong tay không phải chỉ có 1 Phạn bản. Thế nhưng, nhìn chung bản Một và bản Sáu, suy đoán thêm bản Hai, thì có thể biết Phạn bản tuy sao chép không hoàn toàn đồng nhất mà lại rất đồng nhất về đại thể.

    Dịch giả bản Sáu, ngài Nghĩa tịnh, thì lược truyện nằm trong Chính 50/710-711. Nhưng ở đây chỉ trích 2 lời ghi. Một, Chính 98/662 ghi : Ngài người Tề châu, họ Trương, tự Văn minh, năm 671 du học Ấn độ, năm 695 về nước. Năm 700-711 dịch Kim quang minh tối thắng vương kinh v/v, lại viết Đại đường tây vức cầu pháp cao tăng truyện v/v. Năm 713 viên tịch. Hai, Phật học nghiên cứu (bài 10 trang 18) ghi : Ngài Nghĩa tịnh năm 15 tuổi đã nuôi chí du học Ấn độ, nhưng năm 37 tuổi mới đi được. Ban đầu có đồng chí vài mươi người, nhưng rồi lui cả. Ngài phấn chí độc hành. Trải đủ gian nan hiểm nạn. Đến đâu cũng biết tiếng nói ở đó. Tù trưởng nào cũng trọng. Trải 25 năm, qua hơn 30 tiểu quốc, lưu học Na lan đà 10 năm. Khi về, mang theo Phạn bản kinh luật luận gần 400 bộ, dịch được 56 bộ, 230 cuốn (kiểm tra Chính 98/662 liệt kê thì 58 bộ, 236 cuốn). Sau ngài Huyền tráng chỉ một ngài này mà thôi. Ngài viết Đại đường tây vức cầu pháp cao tăng truyện, Nam hải ký qui truyện, Nội pháp truyện, toàn là sách quí về chưởng cố của Phật giáo. Cuốn hạ Cầu pháp truyện, nơi truyện Huyền lục, ngài tự thuật du tích khá rõ.

    Bản dịch kinh này của ngài Nghĩa tịnh có 3 bản sớ giải. Trung hoa có bản của ngài Tuệ chiểu (số hiệu 1788), Nhật bản có 2 bản (các số hiệu 2196 và 2197). Dĩ nhiên bản của ngài Tuệ chiểu phải được tham khảo hơn cả. Tôi đã tham khảo bản này mà dịch. Về ngài Tuệ chiểu thì là tam truyền của ngài Huyền tráng, tác giả Duy thức liễu nghĩa đăng. Chính 98/659 ghi : Húy là Huyền, họ đời là Lưu, người Bành thành, ở chùa Đại vân thuộc Truy châu. Thâm đạt huyền chỉ Pháp tướng tông, viết nhiều sớ giải. Lại tham dự dịch trường của các ngài Nghĩa tịnh và Bồ đề lưu chí. Viên tịch năm 714. Vậy là dịch giả và sớ giả bản Sáu viên tịch cách nhau có 1 năm, lại cọng sự phiên dịch, thì bản sớ giải của ngài Tuệ chiểu được viết lúc ngài Nghĩa tịnh đang còn, chắc là như vậy.

    Hai, tổng quan ngoại hình

    (1)

    Trước hết nên thu xếp 31 phẩm lại một chút.

    Phần một là phẩm 1 “mở đầu pháp thoại”.

    Phần hai là phẩm 2 “thọ lượng Thế tôn” và phẩm 3 “phân biệt ba thân” là nói pháp thân bất diệt.

    Phần ba là phẩm 4 “âm thanh trống vàng”, phẩm 7 “hoa sen ca tụng” phụ thuộc phẩm 4, phẩm 5 “diệt trừ nghiệp chướng”, tất cả đều nói sám trừ ác nghiệp.

    Phần bốn là phẩm 6 “minh chú tịnh địa” là nói 10 địa 10 độ.

    Phần năm là phẩm 9 “trùng tuyên về Không” và phẩm 10 “mãn nguyện vì Không” là nói do Không mới sám trừ ác nghiệp và tu hành địa độ.

    Phần sáu là phẩm 8 “minh chú Kim thắng”, phẩm 13 “minh chú Ly nhiễm”, phẩm 14 “ngọc báu Như ý”, là nói minh chú căn bản, nhất là phẩm 8 và phẩm 13.

    Phần bảy là các phẩm 11 (phụ vào là phẩm 12), phẩm 15, phẩm 16 (phụ vào là phẩm 17), phẩm 18, phẩm 19, phẩm 22, tất cả là nói thiên thần hộ trì (chư thiên và thiện thần hộ trì cho nhân loại).

    Phần tám là phẩm 20 “vương pháp chính luận” và phẩm 21 “Thiện sinh luân vương” là nói tư cách quốc trưởng.

    Phần chín là phẩm 23 “thọ ký làm Phật”, phẩm 24 “chữa trị bịnh khổ” và phẩm 25 “truyện của Lưu thủy” là nói năng lực trì kinh (qua tiền thân).

    Phần mười là phẩm 26 “xả bỏ thân mạng” nói một bồ tát hạnh của Phật.

    Phần mười một là các phẩm 27, 28, 29 và 30, là nói sự tán dương Phật.

    Phần mười hai là phẩm 31 “ký thác kinh vua”, kết thúc pháp thoại.

    (2)

    Tất cả 12 phần trên, trừ phần đầu và phần cuối, còn lại nên chia ra 2 bộ phận. Bộ phận chính thuyết, gồm có phần hai đến phần năm. Bộ phận phụ thuyết gồm 6 phần còn lại.

    Bộ phận chính thuyết cốt nói sám hối, diệt trừ ác nghiệp, là vì bản thể là pháp thân trong sáng, vì ác nghiệp là Không. Cũng từ Không mà viên mãn thệ nguyện và hoàn thành 10 địa mà thực hiện pháp thân.

    Bộ phận phụ thuyết nói uy linh của minh chú và sự hộ vệ của chư thiên thiện thần  ; nói tư cách, đặc biệt tư cách quốc trưởng, được sự hộ vệ ấy  ; nói vài tiền thân của Phật liên hệ kinh này. Tất cả đều cốt để duy trì và quảng bá kinh này (mà bộ phận chủ thuyết đã nói).

    (3)

    Tựu trung có vài chỗ cần nói. Phần bốn phẩm 6 nói số lượng chư Phật tuyên thuyết minh chú cho 10 địa có vẻ ước lệ quá. Đoạn nói sự trạng mà 10 địa thấy thì có mấy sự trạng hơi lạ.

    Phần mười phẩm 26 nói tiền thân của Phật xả thân cho mẹ con cọp đói ăn. Về văn tự, phần chỉnh cú của phẩm này rõ ràng sao chép có phần thiếu thứ tự, hóa ra như có chỗ trùng lặp. Nhưng cái điều đáng nói là, qua chỉnh cú 80, 81 và 82, nói cọp mẹ sau là Đại thế chúa (?), 7 cọp con là 5 vị tỷ kheo đầu tiên và các ngài Xá lợi phất và Mục kiền liên, sự kết thúc này cho thấy hành động xả thân của Phật đã không là xúc động thiếu suy xét. Bởi vì, hoặc do quá chân thành mà cảm ra, hoặc do quá biết trước sẽ xảy ra, đàng nào việc Phật làm vẫn có hậu quả là cọp mẹ cọp con đều không còn là cọp nữa. Trước đó, trong văn trường hàng, đã thuật lời tiền thân của Phật, rằng “Ngày nay ta sai cái thân này làm cái việc cao cả. Trong biển sinh tử, nó phải là thuyền tàu to lớn”. Vậy thì tiền thân Phật xả thân không vì xúc cảm thiếu suy xét, càng không vì chán mình.

    (4)

    Kinh này dầu là loại hiển mật, nhưng hiển giáo vẫn là phần chính. Xét phần này thì thấy kinh này chịu ảnh hưởng rõ rệt, quá rõ rệt, của các kinh sau đây.

    Trước hết là ảnh hưởng của Pháp hoa. Phần hai, với phẩm 2 và 3, cho thấy như vậy. Không những pháp thân bất diệt, mà báo thân cũng bất diệt. Phật bất diệt là như vậy.

    Rồi đến ảnh hưởng của Bát nhã. Phần ba với phẩm 5, phần năm với phẩm 9 và phẩm 10, đích thị là chủ yếu của kinh này, mà căn bản là cái Không vừa siêu việt, vừa biện chứng, vừa tích cực.

    Sau hết, ảnh hưởng cũng không nhỏ của kinh Giải thâm mật và kinh Duy ma cật. Không nói rải rác đây đó, mà chỉ nói phần bốn phẩm 6 và phần năm phẩm 10 cũng quá đủ để thấy ảnh hưởng ấy.

    Tuy nhiên, tuy kinh này có đến 31 phẩm, qui nạp thành 12 phần, và chịu ảnh hưởng nhiều kinh, nhưng kinh này vẫn có tư tưởng hệ riêng và rõ, rất thống nhất và hoàn chỉnh.

    Ba, tổng quan nội dung

    (A/1)

    Toàn bộ Phật giáo, bất kể nguyên thỉ, bộ phái hay đại thừa, đều rất trọng cái thân loài người. Nói tu theo Phật giáo là nói do cái thân người và do ý thức nơi thân ấy. Kinh này, trước hết, cũng là như vậy.

    Không cần lặp lại, Phật tử thì ai cũng biết thân người dễ tu chứng, nhân loại là nơi Phật thị hiện thân Phật. Vì ở đây không quá khổ quá sướng, ở đây tư duy và hành động sắc bén, quả cảm. Nhưng kinh này còn nói rõ chính nơi cái thân ngũ uẩn mà phát hiện pháp thân và thực hiện pháp thân ấy.

    Rõ ràng hơn nữa, kinh này nói “thân này thì bản thân, yếu tố, đối cảnh, đối tượng, kết quả, tất cả toàn là dựa vào chân như, và nó thật khó mà nghĩ bàn. Thân này là cỗ xe vĩ đại, là thể tánh Như lai, là bào thai Như lai” (phẩm 3). Câu đầu đoạn văn này phải giải thích. Bản thân thì thân này là thắng thân (cái thân đặc thù, hơn hết), làm cái dụng cụ chứa đựng Phật pháp. Yếu tố là thắng thiện (điều thiện đặc thù, hơn hết) đời trước làm nhân tố có ra thân này. Đối cảnh là trí tuệ và phước đức mà thân này vin lấy. Đối tượng là đối tượng tối thượng và tối hậu mà thân này nhắm đến, hoạt động theo, đó là đại bồ đề. Kết quả là sự đại giải thoát hội nhập chân như. Bản thân là dị thục quả, yếu tố là tăng thượng quả, đối cảnh là đẳng lưu quả, đối tượng là sĩ dụng quả, kết quả là ly hệ quả. Trọn vẹn kinh này, hay bất cứ kinh nào, nằm gọn như vậy trong cái thân này.

    (A/2)

    Dựa vào thân ấy mà kinh này nói về diệu pháp sám hối. Sám hối là chủ đề của kinh này. Sám hối là vì một, bản thể là bất diệt và hai, ác nghiệp vốn Không.

    Bản thể bất diệt nghĩa là bản thể không sinh diệt, vốn và vẫn trong sáng. Bản thể ấy là chân như. Do vậy mà phải sám hối và có thể sám hối được. Tựa như trăng vốn và vẫn sáng, nên mây mù phải được, và có thể được, xua tan đi.

    Bản thể ấy thực hiện là Phật. Nên Phật thì bất diệt, thọ lượng bất tận. Niết bàn chỉ là sự thị hiện vì cần phải thị hiện như vậy. Nhưng Phật bất diệt không phải chỉ là pháp thân bất diệt. Có 2 trường hợp nữa. Một, cái nhân thọ lượng bất diệt (bất sát và dữ thực) Phật rất viên mãn, nên báo thân của Phật là bất diệt. Phật thường ở Linh sơn, kinh Pháp hoa và kinh này đều nói minh bạch như vậy. Hai, Phật ở ngay cạnh ta. Ta không thấy được vì cái thấy của ta thấy sống thấy chết. Cái thấy ấy không thể thấy được cái không sống chết là Phật. Phật là thực tướng hiện tiền. Ác nghiệp diệt trừ thì đương xứ tiện thị, bản lai như thị.

    (A/3)

    “Thiện nam tử, tất cả các pháp sinh từ yếu tố tương quan  ; Như lai đã nói sự thể này sinh thì sự thể khác diệt, vì yếu tố khác biệt với nhau, nên sám hối sinh thì nghiệp chướng diệt. Do vậy, ác pháp đã có thì diệt trừ vì sự sám hối, nên nghiệp chướng không còn sót lại  ; thiện pháp chưa sinh thì phát sinh vì sự sám hối, nên nghiệp chướng không thể sinh nữa. Lý do là vì, thiện nam tử, tất cả các pháp toàn là Không  ; Như lai đã nói không ngã nhân chúng sinh thọ giả, không sinh không diệt, không cả hành pháp sám hối. Thiện nam tử, tất cả các pháp toàn dựa vào căn bản chân như, nên cũng không thể diễn tả — vì căn bản chân như thì siêu việt tất cả trạng thái sinh diệt. Thiện nam hay thiện nữ nào hội nhập diệu lý như vậy mà kính tin, thì thế là không chúng sinh mà có căn bản — Chính vì ý nghĩa này mà nói đến sự sám hối, diệt trừ nghiệp chướng” (phẩm 5). Chưa kinh luận nào có văn ý đơn giản mà rõ ràng như đoạn văn này, nói về sự sám hối, về Không trong sự sám hối. Cái Không ấy vừa là siêu việt, vừa là biện chứng, lại vừa là tích cực. Cái Không tích cực là “vì Không mà các pháp được thành tựu”, nên kinh này nói 10 địa độ, nói “mãn nguyện vì Không”.

    Và như vậy thì nội dung bộ phận chủ thuyết của kinh này có thể tạm ngừng ở đây. Dưới đây là nội dụng bộ phận phụ thuyết.

    (B/1)

    Có cái điều này chẳng phải chỉ là nội dung của bộ phận phụ thuyết, mà là chủ yếu của trọn kinh này. Ấy là kinh này rất trọng cái gọi là thắng diệu lạc : hạnh phúc đặc thù và tuyệt hảo trong nhân loại và chư thiên, nhưng đặc biệt vẫn là trong nhân loại. Rất giống kinh Địa tạng, kinh này đề cao thắng diệu lạc từ đầu đến cuối. Kinh này không nói gì cao xa, chỉ nói sự yên ổn, yên vui, nhất là sự yên vui của quốc gia. Tiền tài, danh vọng, kinh này không khinh thị. Nhưng thắng diệu lạc, trước hết, vẫn là thoát ly “cái khổ trong lĩnh vực Diêm vương”, trong các ác đạo.

    Thế nhưng thắng diệu lạc là xuất từ kinh này và có khả năng theo kinh này. Thắng diệu lạc không có cho ai có khả năng vì thắng diệu lạc mà làm trái kinh này. Cho nên tiền tài, danh vọng, nói rộng ra cho đến nền thanh bình của một quốc gia, không thể có được từ những nguyên nhân và dẫn đến hậu quả phi chánh pháp. Minh chú và chư thiên thiện thần không giúp được ước vọng thắng diệu lạc phi thực chất thắng diệu lạc.

    Điều cần nói thêm là thắng diệu lạc của một quốc gia thực chất phải là hoán cải theo chánh pháp. Trong thực chất ấy, rõ hơn bất cứ kinh luận nào, kinh này đối với nền an ninh quốc gia không phủ nhận mà trái lại còn đề cao quân lực, đề cao chiến đấu, và chiến đấu thành công, trong sự tự vệ. Kinh này phủ nhận hoàn toàn sự xâm lăng, bành trướng, chấp nhận rõ ràng các quốc gia phải sống hòa bình tương nhượng, nên nếu bị giặc thù xâm lăng thì sự chống trả được hỗ trợ.

    Nhưng trên đây chỉ mới nói giặc. Không thắng diệu lạc còn có 2 sự nữa được kinh này luôn luôn nêu lên, ấy là đói (nhân mãn) và dịch (truyền nhiễm). Không một chút khó khăn gì để thấy tại sao kinh này quan tâm đến 2 điều này.

    (B/2)

    Nhưng thắng diệu lạc của quốc dân và quốc gia tùy thuộc, nếu không hoàn toàn thì cũng là chủ yếu, vào chức vị nguyên thủ. Chức vị đó được gọi là quốc vương, hay là gì, chỉ là vì thể chế, nhưng thực sự vẫn chịu trách nhiệm đối với quốc dân và quốc gia. Kinh này, vì vậy, nói khá nhiều về quốc vương.

    Căn bản của quốc vương là phục vụ quốc dân và quốc gia bằng sự áp dụng chánh pháp cho bản thân, thân quyến và quốc dân. Ông phải tự cấm và tự trừng trị ông, phải cấm và từng trị những kẻ gian tham và dua nịnh. Ông không được để những kẻ này phá hoại quốc gia và quốc dân như những con voi điên dẫm đạp hoa viên. Ông không đáng gọi là quốc vương nếu không áp dụng chánh pháp, trừng trị phi pháp. Ông phải tự làm và làm cho quốc dân “hướng về nhau bằng từ tâm”. Nếu ông là một quốc vương xứng danh và thực như vậy thì quốc dân và quốc gia của ông thịnh vượng vì quân lực, vì thương nghiệp và nông nghiệp, không thể bị hoành hành vì giặc, đói và bịnh.

    (B/3)

    Kinh này dĩ nhiên đề cao sự hộ vệ của chư thiên thiện thần. Chư thiên và thiện thần kinh này nói mà ít thấy ở kinh khác, đó là Phạn vương, Đế thích, Thiên vương, Đại biện tài thiên nữ, Đại cát tường thiên nữ, Kiên lao địa thần, Bồ đề thọ thần, Chánh liễu tri đại tướng. Hãy chú ý vị cuối cùng. Đấy là đại tướng thủ lãnh của bộ loại Dược xoa. Dược xoa là Kim cang quyến thuộc, trong Mật tông thì thống thuộc Kim cang tạng bồ tát (Phổ hiền bồ tát của Hiển giáo). Bộ loại Dược xoa mạnh, nhanh, bí mật, do nghiệp lực mà có cũng có, do nguyện lực mà có cũng có. Bộ loại này được nói đến trong sự hộ trì kinh chú và người trì kinh chú, trong sự hộ vệ quốc gia và quốc dân.

    Đặc điểm kinh này nói về thiên và thần là giữa họ với nhân loại có sự tương quan. Ấy là nhân loại sống theo chánh pháp thì họ được nhờ và họ hộ vệ. Phải chú ý sự tương quan này mới nói đến sự hộ vệ của chư thiên thiện thần.

    Đương cơ của kinh này là Diệu tràng, một vị bồ tát người thành Vương xá. Trong danh sách bồ tát loài người, thời Phật, phải kê thêm tên vị này. Và thật là dễ hiểu khi thấy đặc tính nhân bản rất rõ và nhất quán của kinh này.

    12.1.2538

    [Hết phần Tổng Quan do Ngài Thích Trí Quang chắp bút]

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    Nghi Thức Sám Hối Đơn Giản Trước Khi Tụng Kinh


    [Phần này mượn phần thâu âm của Thy Mai [Trung Tâm Diệu Pháp Âm]

    Một

    Nếu không phải ăn chay trường thì nên chọn ngày ăn chay. Phải đánh răng, súc miệng, tắm rửa, thay đồ sạch. Chưng hoa quả nếu có, thắp hương đèn. Rồi đứng nghiêm chỉnh, chắp tay, lắng lòng trong nửa phút, đọc chú tịnh pháp giới Án lam sa ha 7 lần, chú tịnh tam nghiệp Án sa phạ bà phạ, thuật đà sa phạ, đạt ma sa phạ, bà phạ thuật độ hám cũng 7 lần, rồi quì xuống, đọc lời cúng hương :

    Nguyện hương vân này
    khắp cả pháp giới,
    hiến cúng chư Phật
    hiến cúng Phật pháp
    hiến cúng Bồ tát
    Độc giác Thanh văn,
    duyên khởi ánh sáng
    thi thố việc Phật :
    xông cho chúng sinh
    phát tâm bồ đề,
    viễn ly vọng nghiệp
    viên thành Phật đạo.

    Xá 1 xá rồi tác bạch lời cầu nguyện :

    Hôm nay con tên XX, pháp danh XX, nguyện vì bản thân, vì thân nhân, vì mọi người, vì chúng sinh, mà trì tụng kinh Ánh sáng hoàng kim. Trước khi trì tụng, con xin sám hối y như kinh dạy.

    Chú ý : vì thân nhân và vì mọi người là nói chung. Khi vì ai đích thị thì phải nói tên ra.

    Hai

    Trước hết kính lạy Tam bảo : Nhất tâm đảnh lễ giáo chủ kinh Ánh sáng hoàng kim là đức Bổn sư Thích ca mâu ni thế tôn, cùng với hết thảy Phật bảo (1 lạy). Nhất tâm đảnh lễ kinh Ánh sáng hoàng kim cùng với hết thảy Pháp bảo (1 lạy). Nhất tâm đảnh lễ liệt vị Bồ tát Độc giác Thanh văn trong pháp hội Ánh sáng hoàng kim, cùng với hết thảy Tăng bảo (1 lạy).

    Rồi quì xuống đọc 3 lần lời sám hối sau đây : Kính lạy đức Thích ca mâu ni, bậc Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, là đấng Thế tôn của con. Xin đức Thế tôn từ bi nhiếp thọ cho con, chứng minh cho con sám hối ác nghiệp. Vì hoặc chướng và vì báo chướng, con đã tạo ra bao nhiêu nghiệp chướng. Thân làm, miệng nói, ý nghĩ, toàn là phi chánh pháp. Ngày nay con xin sám hối tất cả, nguyện cắt đứt sự liên tục của ác nghiệp. Ngưỡng nguyện Thế tôn da trì cho con vượt qua mọi nghịch cảnh, thắng được mọi thói quen, chí hướng thượng không thoái lui, tâm tu hành không suy giảm, trừ sạch nghiệp chướng, thể hội pháp thân. Con lại xin thay cho cha mẹ thân nhân, thay cho đa sinh phụ mẫu, thay cho mọi người, thay cho chúng sinh, mà sám hối như vậy. Ngưỡng mong Thế tôn, bậc Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, từ bi da trì cho sự sám hối của con được thành tựu.

    Đứng dậy lạy Phật :

    Kính lạy đức Thích ca mâu ni như lai,
    Kính lạy đức Bất động như lai ở hướng đông,
    Kính lạy đức Bảo tràng như lai ở hướng nam,
    Kính lạy đức A di đà như lai ở hướng tây,
    Kính lạy đức Thiên cổ âm như lai ở hướng bắc,
    Kính lạy đức Quảng chúng đức như lai ở hướng trên,
    Kính lạy đức Minh đức như lai ở hướng dưới,
    Kính lạy đức Bảo tạng như lai,
    Kính lạy đức Phổ quang như lai,
    Kính lạy đức Phổ minh như lai,
    Kính lạy đức Hương tích vương như lai,
    Kính lạy đức Liên hoa thắng như lai,
    Kính lạy đức Bình đẳng kiến như lai,
    Kính lạy đức Bảo kế như lai,
    Kính lạy đức Bảo thượng như lai,
    Kính lạy đức Bảo quang như lai,
    Kính lạy đức Vô cấu quang minh như lai,
    Kính lạy đức Biện tài trang nghiêm tư duy như lai,
    Kính lạy đức Tịnh nguyệt quang xưng tướng vương như lai,
    Kính lạy đức Hoa nghiêm quang như lai,
    Kính lạy đức Quang minh vương như lai,
    Kính lạy đức Thiện quang vô cấu xưng vương như lai.
    Kính lạy đức Quan sát vô úy tự tại vương như lai,
    Kính lạy đức Vô úy danh xưng như lai,
    Kính lạy đức Tối thắng vương như lai,
    Kính lạy hết thảy các đức Như lai,
    Kính lạy đức Quan tự tại đại bồ tát,
    Kính lạy đức Địa tạng đại bồ tát,
    Kính lạy đức Hư không tạng đại bồ tát,
    Kính lạy đức Diệu cát tường đại bồ tát,
    Kính lạy đức Kim cang thủ đại bồ tát
    Kính lạy đức Phổ hiền đại bồ tát,
    Kính lạy đức Vô tận ý đại bồ tát,
    Kính lạy đức Đại thế chí đại bồ tát,
    Kính lạy đức Từ thị đại bồ tát,
    Kính lạy đức Thiện tuệ đại bồ tát,
    Kính lạy tất cả các vị Bồ tát, Độc giác, Thanh văn.

    Ba

    Ngồi xuống tụng kinh Ánh sáng hoàng kinh. Tụng theo cuốn hay tụng theo phẩm. Mỗi lần tụng đều mở đầu bằng nghi thức này, cho đến hết bộ. Nếu muốn mỗi ngày tụng 1 lần, tụng thường xuyên, thì có thể chỉ tụng phẩm Diệt trừ nghiệp chướng (cuốn 3 phẩm 5). Khi tụng cũng mở đầu bằng nghi thức này. Bắt đầu tụng thì niệm 3 lần Nam mô Bổn sư Thích ca mâu ni thế tôn.

    Bốn

    Tụng kinh rồi trì minh chú Kim thắng : Nam mô, rát na, tra da da, tát da tha, kun tê, kun tê, ku sá tê, ku sá lê, ku sá lê, ích chi li, mi ti li, soa ha. Chú ý : tra da da, chữ tra đọc theo vần Pháp văn (tr-a). Trì minh chú này 7 lần, 21 lần, 49 lần, hay hơn nữa tùy ý.

    Năm

    Rồi hồi hướng : Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sinh, đều trọn thành Phật đạo. Và tam tự qui : Tự qui y Phật, xin nguyện chúng sinh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. Tự qui y Pháp, xin nguyện chúng sinh, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ như biển. Tự qui y Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại.

    [Hết phần Nghi Thức Sám Hối Trước Khi Tụng Kinh do Ngài Thích Trí Quang soạn thảo ]

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    Nội dung sách: | Mục Lục | Tổng Quan | Nghi Thức Sám Hối | Chánh Văn | Ghi chú |

    CHÁNH VĂN KINH ÁNH SÁNG HOÀNG KIM

     [NGÀY 1]

    Cuốn 1

    Phẩm 1: Mở đầu pháp thoại


    [Thâu Âm ngày 1, Hồng như đọc]

    Tôi nghe như vầy. Một thời đức Thế tôn, tại đỉnh Thứu phong thuộc thành Vương xá, Ngài ở nơi pháp giới rất trong sáng, rất sâu xa. Pháp giới ấy là lĩnh vực của Phật đà, là trú xứ của Thế tôn.

    Bấy giờ chúng đại bí sô có chín mươi tám ngàn vị, toàn là a la hán ; khéo tự thuần hóa, in như voi chúa  ; sơ hở đã hết, không còn phiền não ; tâm khéo giải thoát, tuệ khéo giải thoát ; việc làm hoàn tất, bỏ mọi gánh nặng ; đạt đến tự lợi, hết sạch kiết sử ; được đại tự tại, ở trong tịnh giới ; phương tiện khéo léo, tuệ giác trang nghiêm ; được tám giải thoát, đến bờ bên kia. Danh hiệu các vị là

    cụ thọ A nhã kiều trần như,
    cụ thọ A thuyết thị đa,
    cụ thọ Bà thấp ba,
    cụ thọ Ma ha na ma,
    cụ thọ Bà đế lị ca,
    tôn giả Đại ca nhiếp ba,
    tôn giả Ưu lâu tần loa ca nhiếp,
    tôn giả Dà da ca nhiếp,
    tôn giả Na đề ca nhiếp,
    tôn giả Xá lị tử,
    tôn giả Đại mục kiền liên,
    tôn giả A nan đà, người ở vị trí đang còn tu học.

    Các vị đại thanh văn như vậy, sau lúc quá trưa cùng xuất định, đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ ngang chân Ngài, đi quanh Ngài ba vòng theo chiều bên phải, rồi lui ra cùng ngồi một phía.

    Chúng đại bồ tát trăm ngàn vạn ức vị, có uy đức lớn, như đại long vương ; tiếng khen vang khắp, ai cũng biết đến ; thường thích phụng hành tịnh thí tịnh giới ; nhẫn nhục tinh tiến qua vô số kiếp ; vượt mọi thiền định, tâm ở trước mắt ; mở cửa tuệ giác, thiện dụng phương tiện ; tự tại du hành thần thông vi diệu ; thành đạt tổng trì, hùng biện vô tận ; cắt đứt phiền não, hệ lụy không còn ; đã gần thành đạt trí tuệ toàn giác ; chế ngự ngoại đạo cho sinh tịnh tâm ; chuyển đẩy pháp luân, hóa độ người trời ; mười phương cõi Phật đều trang hoàng cả ; sáu nẻo hữu tình đều nhờ ích lợi ; thành tựu đại trí, viên mãn đại nhẫn ; có tâm đại từ bi, có lực đại kiên cố ; phụng sự chư Phật, không nhập niết bàn ; phát nguyện rộng lớn, cùng tận vị lai ; nơi các đức Phật trồng sâu tịnh nhân ; cả ba thì gian ngộ vô sinh nhẫn ; vượt qua lĩnh vực nhị thừa bước đi ; đem đại thiện phương tiện mà hóa đạo thế giới ; phu diễn được hết giáo huấn của Phật ; với đạo lý Không sâu xa bí mật, đều thấu triệt cả không còn nghi hoặc. Danh hiệu các vị là

    bồ tát Vô chướng ngại chuyển pháp luân,
    bồ tát Thường phát tâm chuyển pháp luân,
    bồ tát Thường tinh tiến,
    bồ tát Bất hưu tức,
    bồ tát Từ thị,
    bồ tát Diệu cát tường,
    bồ tát Quan tự tại,
    bồ tát Tổng trì tự tại vương,
    bồ tát Đại biện trang nghiêm vương,
    bồ tát Diệu cao sơn vương,
    bồ tát Đại hải thâm vương,
    bồ tát Bảo tràng,
    bồ tát Đại bảo tràng,
    bồ tát Địa tạng,
    bồ tát Hư không tạng,
    bồ tát Bảo thủ tự tại,
    bồ tát Kim cang thủ,
    bồ tát Hoan hỷ lực,
    bồ tát Đại pháp lực,
    bồ tát Đại trang nghiêm quang,
    bồ tát Đại kim quang trang nghiêm,
    bồ tát Tịnh giới,
    bồ tát Thường định,
    bồ tát Cực thanh tịnh tuệ,
    bồ tát Kiên cố tinh tiến,
    bồ tát Tâm như hư không,
    bồ tát Bất đoạn đại nguyện,
    bồ tát Thí dược,
    bồ tát Liệu chư phiền não bịnh,
    bồ tát Y vương,
    bồ tát Hoan hỷ cao vương,
    bồ tát Đắc thượng thọ ký,
    bồ tát Đại vân tịnh quang,
    bồ tát Đại vân trì pháp,
    bồ tát Đại vân danh xưng hỷ lạc,
    bồ tát Đại vân hiện vô biên xưng,
    bồ tát Đại vân sư tử hống,
    bồ tát Đại vân ngưu vương hống,
    bồ tát Đại vân cát tường,
    bồ tát Đại vân bảo đức,
    bồ tát Đại vân nhật tạng,
    bồ tát Đại vân nguyệt tạng,
    bồ tát Đại vân tinh quang,
    bồ tát Đại vân hỏa quang,
    bồ tát Đại vân điện quang
    bồ tát Đại vân lôi âm,
    bồ tát Đại vân tuệ vũ sung biến,
    bồ tát Đại vân thanh tịnh vũ vương,
    bồ tát Đại vân hoa thọ vương,
    bồ tát Đại vân thanh liên hoa hương,
    bồ tát Đại vân bảo chiên đàn hương thanh lương thân,
    bồ tát Đại vân trừ ám,
    bồ tát Đại vân phá ế.

    Các vị đại bồ tát như vậy, sau lúc quá trưa cùng xuất định, đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ ngang chân Ngài, đi quanh Ngài ba vòng theo chiều bên phải, rồi lui ra cùng ngồi một phía.

    Lại có năm trăm tám ngàn đồng tử Lê xa tì, tên là

    đồng tử Sư tử quang,
    đồng tử Sư tử tuệ,
    đồng tử Pháp thọ,
    đồng tử Nhân đà ra thọ,
    đồng tử Đại quang,
    đồng tử Đại mãnh,
    đồng tử Phật hộ,
    đồng tử Pháp hộ,
    đồng tử Tăng hộ,
    đồng tử Kim cang hộ,
    đồng tử Hư không hộ,
    đồng tử Hư không hống,
    đồng tử Bảo tạng,
    đồng tử Cát tường diệu tạng.

    Những đồng tử như vậy làm người đứng đầu. Họ cùng đứng vững nơi vô thượng giác, thâm tín vui thích đối với đại thừa. Sau lúc quá trưa họ đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ ngang chân Ngài, đi quanh Ngài ba vòng theo chiều bên phải, rồi lui ra cùng ngồi một phía. Có bốn mươi hai ngàn thiên tử, tên là

    thiên tử Hỷ duyệt,
    thiên tử Nhật quang,
    thiên tử Nguyệt kế,
    thiên tử Minh tuệ,
    thiên tử Hư không tịnh tuệ,
    thiên tử Trừ phiền não,
    thiên tử Cát tường.

    Những thiên tử như vậy làm người đứng đầu. Họ phát đại nguyện hộ vệ đại thừa, làm cho chánh pháp rực rỡ liên tục. Sau lúc quá trưa, họ đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ ngang chân Ngài, đi quanh Ngài ba vòng theo chiều bên phải, rồi lui ra cùng ngồi một phía. Có hai mươi tám ngàn long vương,

    long vương Liên hoa,
    long vương Ế la diệp,
    long vương Đại lực,
    long vương Đại hống,
    long vương Tiểu ba,
    long vương Trì sử thủy,
    long vương Kim diện,
    long vương Như ý.

    Những long vương như vậy làm người đứng đầu. Họ thường thích nhớ chánh pháp đại thừa, tin tưởng sâu xa, tán dương duy trì. Sau lúc quá trưa, họ đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ ngang chân Ngài, đi quanh Ngài ba vòng theo chiều bên phải, rồi lui ra cùng ngồi một phía. Có ba mươi sáu ngàn Dược xoa, đứng đầu bởi Tì sa môn thiên vương, tên của họ là

    dược xoa Yêm bà,
    dược xoa Trì yêm bà,
    dược xoa Liên hoa quang tạng,
    dược xoa Liên hoa diện,
    dược xoa Tần mi,
    dược xoa Hiện đại bố,
    dược xoa Động địa,
    dược xoa Thôn thực.

    Những dược xoa như vậy ưa thích chánh pháp của đức Thế tôn, chân thành duy trì, không hề giải đãi. Sau lúc quá trưa, họ đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ ngang chân Ngài, đi quanh Ngài ba vòng theo chiều bên phải, rồi lui ra cùng ngồi một phía. Có bốn mươi chín ngàn yết lộ trà vương, đứng đầu bởi Hương tượng thế lực vương ; có kiền thát bà, a tô la, khẩn na la, mạc hô lạc dà, vân vân ; có các thần tiên rừng núi sông biển ; có quốc vương của các quốc gia lớn, được tháp tùng bởi hoàng hậu hoàng phi ; có nam nữ đức tin trong sáng. Các chúng nhân loại và chư thiên cùng đến vân tập, cùng nguyện hộ vệ đại thừa tối thượng, đọc xét văn nghĩa, tụng tập thuộc lòng, học hỏi tiếp nhận, nắm giữ trong trí, sao chép lưu thông ([1]). Sau lúc quá trưa, họ đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ ngang chân Ngài, đi quanh Ngài ba vòng theo chiều phải, rồi lui ra cùng ngồi mỗi chúng một phía.

    Đại hội như vậy, bao gồm thanh văn, bồ tát, nhân loại, chư thiên, tám bộ long thần, vân tập cả rồi, ai cũng nhất tâm, chắp tay cung kính, chiêm ngưỡng Thế tôn, mắt không rời Ngài. Họ thích thú muốn nghe chánh pháp siêu việt, nhiệm mầu.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
      • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    Nội dung sách: | Mục Lục | Tổng Quan | Nghi Thức Sám Hối | Chánh Văn | Ghi chú |

    — [NGÀY 2] —

    Lúc ấy đức Thế tôn, sau lúc quá trưa, xuất khỏi thiền định, quan sát đại hội mà nói những lời chỉnh chú sau đây.

    (1) Ánh sáng hoàng kim,
    bản kinh nhiệm mầu,
    siêu việt hơn hết,
    vua của các kinh.
    Kinh ấy rất sâu,
    khó mà được nghe ;
    kinh ấy chính là
    lĩnh vực của Phật.

    (2- 3) Như lai ngày nay
    sẽ tuyên thuyết đến
    bản kinh như vậy
    cho cả đại hội.
    Hướng đông có đức
    A súc như lai,
    hướng nam có đức
    Bảo tướng như lai,
    Như lai hướng tây
    là Vô lượng thọ,
    Như lai hướng bắc
    là Thiên cổ âm,
    bốn đức Như lai
    bốn hướng như vậy
    cùng đem uy thần
    hộ trì kinh này.

    (4) Như lai sẽ nói
    pháp mầu sám hối,
    pháp ấy cát tường
    pháp ấy thù thắng.
    Năng lực pháp ấy
    diệt mọi tội ác,
    loại trừ sạch sẽ
    những hành vi ác,

    (5) tiêu tan mọi nỗi
    khổ não tai họa,
    thường xuyên đem lại
    yên vui khó lường.
    Căn bản pháp ấy
    là nhất thế trí,
    và được trang hoàng
    bởi bao phẩm chất.

    (6) Những ai cơ thể
    không được hoàn hảo,
    đời sống sắp sửa
    đi đến hủy diệt,
    những sự đáng sợ
    đã biến hiện ra,
    chư thiên thiện thần
    cùng lánh xa cả.

    (7) Thân hữu tức giận,
    thân quyến phân ly,
    mọi phía chống nhau,
    sản vật tan tác,

    (8) ác tinh tác quái,
    tà độc xâm phạm,
    ưu sầu quá nhiều,
    khổ não lại ép,

    (9) ngủ nghỉ ác mộng
    từ đó phiền não.
    Người ấy phải nên
    tắm rửa sạch sẽ,
    và mặc y phục
    sạch sẽ tinh khiết.

    (10) Đối với kinh này
    bản kinh mầu nhiệm,
    rất mực sâu xa
    Như lai ca tụng,
    hãy nên chuyên chú
    lòng không tán loạn,
    nghiên cứu, tụng thuộc,
    lắng nghe, tiếp nhận,
    nắm giữ trong trí
    chuyên tâm phụng trì.

    (11) Thì nhờ uy lực
    của kinh pháp này
    mà được tách rời
    mọi sự tai họa,
    bao nỗi khổ sở
    cùng trừ diệt cả.

    (12) Bốn vị thiên vương
    hộ vệ thế giới,
    cùng với đại thần
    tùy thuộc của họ,
    vô lượng dược xoa
    nhất tâm hộ vệ.

    (13 – 14) Lại có thiên nữ
    tên Đại biện tài,
    thần sông Ni liên,
    thần mẹ Ha lị,
    địa thần Kiên lao,
    Phạn vương, Đế thích,
    cùng với long vương,
    và khẩn na la,
    kim sí điểu vương,
    tu la, chư thiên.

    (15) Bao nhiêu chư thiên
    thần chúng như vầy
    ai cũng đem theo
    tùy tùng của mình,
    cùng đến hộ vệ
    cho người như vậy,
    cả ngày liền đêm
    thường không tách rời

    (16) Như lai sẽ nói
    về kinh pháp này,
    bản kinh rất sâu,
    chỗ Như lai đi,
    và là mật giáo
    của chư Như lai,
    ngàn vạn đời kiếp
    khó mà gặp được.

    (17) Ai nghe kinh này,
    đem nói cho người,
    hay sinh tùy hỷ
    hoặc thiết cúng phẩm,

    (18) thì người như vậy
    sẽ vô lượng kiếp
    được các thiên nhân
    long thần kính trọng.

    (19) Cái khối phước đức
    nhiều hơn hằng sa,
    nghiên cứu, tụng thuộc
    kinh pháp như vầy,
    thì sẽ có được
    khối phước đức ấy,

    (20) được chư Thế tôn
    khắp trong mười phương,
    được chư Bồ tát
    tu hành sâu xa,
    cùng hộ trì cho
    tách rời khổ nạn.

    (21) Hiến cúng kinh này
    thì như đã nói
    tắm rửa sạch sẽ,
    phụng hiến hoa hương,
    khởi ý từ bi
    vì người phụng hiến.

    (22) Muốn nghe kinh này
    tâm phải sạch sẽ,
    thường sinh hoan hỷ
    lớn thêm công đức.

    (23) Đem lòng tôn trọng
    mà nghe kinh này,
    thì thế chính là
    khéo làm thân người,
    rời xa mọi nỗi
    khổ não tai nạn.

    (24) Kẻ ấy thiện căn
    đã là thuần thục,
    được chư Như lai
    cùng nhau ca tụng,
    mới nghe kinh này
    và sám pháp này.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    Nội dung sách: | Mục Lục | Tổng Quan | Nghi Thức Sám Hối | Chánh Văn | Ghi chú |

    — [NGÀY 3] —

    Phẩm 2 – Thọ Lượng Thế Tôn

    Trong thành Vương xá có vị bồ tát tên Diệu tràng ([2]), đã ở nơi quá khứ vô lượng chư Phật phụng sự, hiến cúng, trồng các thiện căn. Bấy giờ bồ tát Diệu tràng một mình ở chỗ thanh vắng, nghĩ rằng, vì lý do nào mà đức Thích ca thế tôn thọ lượng ngắn ngủi, chỉ tám mươi năm. Lại nghĩ, như đức Thế tôn dạy, có hai lý do được thọ lượng lâu dài. Hai lý do ấy là gì, một là không hại sinh mạng, hai là hiến cho ẩm thực. Mà đức Thích ca thế tôn thì đã vô số đại kiếp không hại sinh mạng, làm mười thiện nghiệp ; lại thường đem ẩm thực hiến cho chúng sinh đói khát, thậm chí máu thịt xương tủy của mình cũng đem mà cho, huống chỉ ẩm thực.

    Khi bồ tát Diệu tràng nghĩ về đức Thế tôn như vậy thì, do uy lực của Ngài, phòng ông bỗng nhiên rộng lớn, đẹp và sạch, với những thứ ngọc đế thanh lưu ly màu sắc xen nhau mà trang hoàng, in như tịnh độ của chư Phật. Có hơi thơm tuyệt diệu, quá hơn hương liệu chư thiên, thơm tho khắp cả. Bốn phía phòng ấy có bốn bảo tọa sư tử, thượng hạng và tinh hảo, được tạo thành bởi bốn loại ngọc. Ở trên bảo tọa trải vải quí của chư thiên. Bốn bảo tọa đều xuất hiện hoa sen tuyệt diệu, trang sức bằng những thứ ngọc quí, tầm cỡ tương xứng với các đức Thế tôn. Trên bốn hoa sen có bốn đức Thế tôn : Bất động thế tôn ở phương đông, Bảo tướng thế tôn ở phương nam, Vô lượng thọ thế tôn ở phương tây, Thiên cổ âm thế tôn ở phương bắc. Mỗi đức Thế tôn cùng ngồi xếp bằng trên một bảo tọa, phóng ánh sáng lớn chiếu rực cả thành Vương xá, cả đại thiên thế giới, cả mười phương hằng sa cõi Phật. Thiên hoa mưa xuống, thiên nhạc tấu lên. Bấy giờ trong Thiệm bộ châu và đại thiên thế giới, bao nhiêu chúng sinh đều nhờ uy lực của chư vị Thế tôn mà hưởng được cái vui siêu việt, tinh tế, không thiếu gì cả. Ai cơ thể bất toàn thì toàn hảo. Ai mù thì thấy đuợc. Ai điếc thì nghe được. Ai ngọng thì nói được. Ai ngu thì khôn. Ai điên thì tỉnh. Ai rách rưới thì được y phục. Ai bị khinh ghét thì được kính trọng. Ai dơ bẩn thì được thanh khiết. Thế giới này, bao chuyện hiếm có đều diễn ra.

    Bấy giờ bồ tát Diệu tràng thấy bốn đức Thế tôn và bao điều hiếm có thì vui mừng hết sức, chắp tay, nhất tâm, chiêm ngưỡng tướng hảo thù thắng của các Ngài. Bồ tát lại nghĩ đến công đức vô lượng của đức Thích ca thế tôn, chỉ hoài nghi về thọ lượng của Ngài, rằng tại sao Thế tôn công đức vô lượng mà thọ lượng ngắn ngủi, chỉ có tám thập kỷ  ? Lúc ấy bốn đức Thế tôn bảo bồ tát Diệu tràng, thiện nam tử, ông không nên nghĩ Thích ca như lai thọ lượng dài ngắn. Tại sao  ? Vì, thiện nam tử, chư Như lai không thấy chư thiên, nhân loại, phạn vương, ma vương, sa môn, bà la môn, tất cả nhân loại và phi nhân loại, có ai tính mà biết được giới hạn thọ lượng của đức Thích ca như lai, trừ ra các bậc Vô thượng biến giác. Bốn đức Thế tôn muốn nói thọ lượng của đức Thích ca thế tôn. Do uy lực của các Ngài, chư thiên cõi Dục và cõi Sắc, tám bộ long thần, vô số bồ tát cùng đến vân tập trong cái phòng tuyệt diệu của bồ tát Diệu tràng. Đối với đại hội như vậy, bốn đức Thế tôn muốn hiển thị thọ lượng của đức Thích ca thế tôn nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (1) Biết được số giọt
    nước các biển cả,
    mà không thể biết
    thọ lượng Thích tôn.

    (2) Nghiền núi Tu di
    thành những hạt cải,
    số hạt cải ấy
    có thể biết được,
    mà không biết được
    thọ lượng Thích tôn.

    (3) Có thể biết được
    số bụi đại địa,
    không thể đếm biết
    thọ lượng Thích tôn.

    (4) Lường tính không gian
    biết được biên tế,
    mà không lường nổi
    thọ lượng Thích tôn.

    (5) Nếu ai sống đến
    trăm ngàn đời kiếp,
    tận lực thường xuyên
    dùng toán mà tính,
    cũng không biết được
    thọ lượng Thích tôn.

    (6) Không hại sinh mạng,
    hiến cho ẩm thực,
    chính do hai loại
    diệu nhân như vậy
    làm cho đạt được
    thọ lượng lâu dài.

    (7) Do đó thọ lượng
    của bậc Đại giác
    khó có người nào
    biết được số lượng.
    Tựa như thì gian ([3])
    vô cùng vô tận,
    thọ lượng Thích tôn
    cũng y như thế.

    (8) Diệu tràng, nên biết :
    không nên hoài nghi ;
    thọ lượng các đấng
    Siêu việt bậc nhất,
    không một người nào
    biết được số lượng.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    — [NGÀY 4] —

    Lúc ấy bồ tát Diệu tràng nghe bốn đức Thế tôn nói thọ lượng bất tận của đức Thích ca thế tôn, thì tác bạch như vầy, kính bạch chư vị Thế tôn, tại sao đức Thích ca thế tôn thị hiện thọ lượng ngắn ngủi  ? Bốn đức Thế tôn dạy bồ tát Diệu tràng, thiện nam tử, khi đức Thích ca thế tôn xuất hiện trong giai đoạn đủ cả năm thứ dơ bẩn, thì thọ lượng nhân loại chỉ trên dưới bách kỷ, bẩm tính thấp hèn, thiện căn kém mỏng, không tin hiểu gì. Nhân loại như vậy đa số quan niệm bản ngã, quan niệm sinh thể, quan niệm linh hồn ; quan niệm tồn tại — những quan niệm bồi dưỡng, quan niệm sai lầm — quan niệm bản ngã và sở hữu của bản ngã, quan niệm vĩnh hằng, quan niệm hư vô ([4]). Để lợi ích cho những kẻ dị sinh và dị giáo như vậy, làm cho họ phát sinh lý giải chính xác, mau chóng đạt đến tuệ giác tối thượng, nên đức Thích ca như lai thị hiện thọ lượng ngắn ngủi. Thiện nam tử, đức Thích ca như lai muốn làm cho chúng sinh thấy Ngài niết bàn để sinh ý tưởng khó gặp, ý tưởng lo lắng ; đối với kinh pháp Ngài nói, họ lo cấp tốc tiếp nhận, ghi nhớ, cứu xét, tụng thuộc cho thông suốt, đem nói cho người, không hề khinh thường. Vì muốn như vậy mà đức Thích ca như lai thị hiện thọ lượng ngắn ngủi. Lý do ở đây là, chúng sinh như đã nói ở trước, nếu thấy đức Thích ca như lai không nhập niết bàn, thì không có ý tưởng kính trọng, khó gặp ; đối với kinh pháp sâu xa mà Ngài tuyên thuyết cũng không lo tiếp nhận, ghi nhớ, cứu xét, tụng thuộc cho thông suốt, và đem nói cho người. Tại sao như vậy, vì thường xuyên thấy Phật thì không kính trọng nữa. Thiện nam tử, ví như có kẻ thấy cha mẹ mình có lắm của cải vàng ngọc thì, đối với tài sản ấy, người con không sinh ý tưởng hiếm có, khó gặp, tại sao, vì đối với cha mẹ, và tài sản của cha mẹ, người con có ý tưởng còn mãi. Thiện nam tử, chúng sinh kia cũng vậy, nếu thấy đức Thích ca như lai không nhập niết bàn thì không sinh ý tưởng hiếm có, khó gặp, lý do là vì thường thấy. Thiện nam tử, ví như có kẻ cha mẹ nghèo nàn, thiếu thốn tài sản, người con nghèo thiếu đến cung vua chúa hay đến dinh đại thần, thấy tài sản tràn đầy, thì sinh ý tưởng hiếm có, khó gặp. Người con này muốn có tài sản nên làm lụng đủ cách, siêng năng không nhác, lý do là để hết nghèo nàn, hưởng an lạc. Thiện nam tử, chúng sinh kia cũng vậy, nếu thấy đức Thích ca như lai nhập vào niết bàn mới có ý tưởng khó gặp, ý tưởng lo lắng. Họ nghĩ, vô số kiếp Phật mới xuất hiện, như hoa ô đàm lâu lắm mới có một lần. Nghĩ vậy nên họ có ý tưởng hiếm có, ý tưởng khó gặp. Và gặp Phật thì tôn kính, tin tưởng, nghe Ngài thuyết pháp thì có ý tưởng nói thật, bao nhiêu kinh pháp đều tiếp nhận, ghi nhớ, chớ không khinh thường. Thiện nam tử, vì lý do đã nói trên đây mà đức Thích ca như lai không ở đời lâu dài, niết bàn mau chóng. Thiện nam tử, như thế đó, chư vị Như lai áp dụng phương tiện khéo léo mà tác thành chúng sinh. Nói như vậy rồi, bốn đức Thế tôn bỗng nhiên ẩn mất.

    Bấy giờ bồ tát Diệu tràng cùng với vô lượng bồ tát, và vô số chúng sinh, cùng nhau đi đến trên đỉnh Thứu phong, chỗ đức Thích ca thế tôn, đảnh lễ ngang chân Ngài rồi đứng qua một bên. Bồ tát Diệu tràng đem sự thể trên đây trình bạch đầy đủ với đức Thế tôn. Lúc ấy bốn đức Thế tôn cũng đã đến Thứu phong, chỗ đức Thích ca thế tôn. Tùy phương hướng của mình, các Ngài đến bảo tọa mà ngồi, rồi bảo vị bồ tát thị giả, rằng thiện nam tử, ông hãy đến chỗ đức Thích ca như lai, thay lời Như lai mà vấn an Ngài, rằng Ngài ít bịnh ít phiền, cử động linh hoạt, sống yên vui chăng. Ông lại tác bạch như vầy : Lành thay đức Thế tôn, xin Ngài nay có thể tuyên thuyết kinh Ánh sáng hoàng kim, pháp yếu cực sâu, để lợi ích chúng sinh, loại bỏ đói khát, làm cho yên vui. Đức Thế tôn của con xin tùy hỷ việc này. Các vị thị giả cùng đến chỗ đức Thích ca thế tôn, đảnh lễ hai chân của Ngài, rồi đứng qua một bên, cùng tác bạch rằng, bạch đức Thế tôn, đức Thầy trời người của chúng con vấn an vô lượng, rằng Ngài ít bịnh ít phiền, cử động linh hoạt, sống yên vui chăng. Các vị thị giả lại tác bạch như vầy : Lành thay đức Thế tôn, xin Ngài nay có thể tuyên thuyết kinh Ánh sáng hoàng kim, pháp yếu cực sâu, để lợi ích chúng sinh, loại bỏ đói khát, làm cho yên vui. Đức Thầy trời người của chúng con xin tùy hỷ việc này. Bấy giờ đức Thích ca thế tôn, bậc Như lai, bậc Ứng cúng, bậc Chánh đẳng giác, nói với các vị bồ tát thị giả, rằng lành thay, bốn đức Như lai muốn làm cho chúng sinh lợi ích yên vui mà khuyến cáo Như lai tuyên dương pháp yếu ! Ngài nói mấy lời chỉnh cú sau đây.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    — [NGÀY 5] —

    (9) Như lai thường trú
    trên đỉnh Thứu phong,
    tuyên thuyết kinh bảo
    Ánh sáng hoàng kim ;
    nhưng vì tác thành
    cho bao chúng sinh,
    Như lai thị hiện
    nhập vào niết bàn.

    (10) Chúng sinh phàm phu
    quan niệm lầm lẫn,
    nên không tin được
    lời Như lai nói ;
    chính vì tác thành
    chúng sinh như vậy,
    Như lai thị hiện
    nhập vào niết bàn.

    Bấy giờ trong đại hội có một vị bà la môn họ Kiều trần như, tên Pháp sư thọ ký, cùng vô số bà la môn hiến cúng đức Thế tôn rồi, nghe Ngài nói nhập vào niết bàn, thì nước mắt nước mũi xen nhau chảy ra, bước tới lạy chân Ngài, thưa rằng, bạch đức Thế tôn, nếu thật đức Thế tôn có lòng đại từ bi đối với chúng sinh, thương xót ích lợi, làm cho yên vui, in như cha mẹ không ai sánh bằng ; Ngài làm chỗ nương tựa cho cả thế giới, in như vầng thái âm tròn đầy ; Ngài soi sáng bằng tuệ giác lớn lao, in như vầng thái dương mới mọc ; Ngài nhìn khắp cả, thương tưởng đồng đều, coi ai cũng như tôn giả La hô la — thì con xin Ngài ban cho con một điều ước nguyện. Nghe thưa như vậy, đức Thế tôn chỉ im lặng. Nhưng do uy lực của Ngài, trong đại hội có một vị đồng tử Lê xa tì tên Ai cũng thích nhìn, nói với bà la môn Kiều trần như, rằng thưa đại bà la môn, ông muốn xin đức Thế tôn điều ước nguyện gì, tôi có thể thỏa mãn cho ông. Bà la môn Kiều trần như nói, đồng tử, tôi muốn hiến cúng ([5]) đức Thế tôn tối thượng, nên cầu xin Ngài cho tôi một chút xá lợi chỉ bằng hạt cải. Tại sao tôi cầu xin như vậy  ? Vì tôi từng nghe nói, nếu thiện nam hay thiện nữ nào được xá lợi của đức Thế tôn chỉ bằng hạt cải thôi, để tôn kính hiến cúng, thì sẽ sinh lên tầng trời Đao lợi mà làm Đế thích. Nghe như vậy, đồng tử Lê xa tì nói với bà la môn, nếu ông muốn sinh lên Đao lợi hưởng thụ quả báo hơn người, thì hãy dốc lòng mà nghe kinh Ánh sáng hoàng kim. Kinh này hơn hết các kinh khác, khó lý giải, khó hội nhập. Thanh văn Độc giác không thể hiểu nổi. Kinh này sinh ra vô biên quả báo phước đức, cho đến hoàn thành tuệ giác vô thượng. Tôi nay chỉ nói cho ông vắn tắt như vậy. Bà la môn nói, lành thay đồng tử ; nhưng kinh Ánh sáng hoàng kim cực sâu, tối thượng, khó lý giải, khó hội nhập, Thanh văn Độc giác không thể hiểu nổi, huống chi chúng tôi, những kẻ biên dã, trí tuệ kém cỏi, làm sao hiểu được. Do vậy, hôm nay tôi chỉ cầu xin xá lợi của đức Thế tôn bằng hạt cải thôi, để đem về bản xứ, tôn trí vào trong hộp ngọc, tôn kính hiến cúng. Thì mạng chung rồi được làm Đế thích, thường hưởng yên vui. Tại sao đồng tử không thể từ đấng Đủ sự sáng cầu xin cho tôi môt điều ước nguyện như vậy  ? Bà la môn nói rồi, đồng tử Lê xa tì liền nói cho ông nghe những lời chỉnh cú sau đây.

    (11) Dòng nước chảy xiết
    của sông Hằng hà
    có thể mọc lên
    hoa sen bạch liên ;
    loài chim màu vàng
    có thể thành trắng,
    hay chim màu đen
    có thể thành đỏ ;

    (12) hoặc cây thiệm bộ
    sinh trái đa la,
    cây khát thụ la
    sinh trái yêm la ;

    (13) sự vật hiếm có
    có thể chuyển biến,
    xá lợi Thế tôn
    cũng không thể có.

    (14) Giả sử lông rùa
    dệt thành áo đẹp,
    áo đó có thể
    mặc vào mùa lạnh,
    thì mới tìm được
    xá lợi Thế tôn.

    (15) Giả sử chân muỗi
    đỡ được lầu đài
    vô cùng kiên cố
    không thể lay động,
    thì mới tìm được
    xá lợi Thế tôn.

    (16) Giả sử miệng đỉa
    mọc lên răng trắng
    đã dài lại lớn
    sắc như mũi nhọn,
    thì mới tìm được
    xá lợi Thế tôn.

    (17) Giả sử sừng thỏ
    làm thành cái thang
    và leo thang ấy
    lên đến cung trời,
    thì mới tìm được
    xá lợi Thế tôn.

    (18) Chuột leo thang ấy
    lên đánh tu la
    che khuất mặt trăng
    ở trong không gian,
    thì mới tìm được
    xá lợi Thế tôn.

    (19) Ruồi uống rượu say
    bay khắp làng xóm
    dựng lên bao nhiêu
    là những nhà cửa,
    thì mới tìm được
    xá lợi Thế tôn.

    (20) Giả sử mõm lừa
    đỏ lên in như
    trái cây tần bà
    lại khéo ca vũ,
    thì mới tìm được
    xá lợi Thế tôn.

    (21) Quạ với cú mèo
    đứng được một chỗ
    và cả hai bên
    thuận tùng với nhau,
    thì mới tìm được
    xá lợi Thế tôn.

    (22) Nếu lá ba la
    thành được tàn lọng
    có thể che được
    cơn mưa to lớn,
    thì mới tìm được
    xá lợi Thế tôn.

    (23) Giả sử thuyền lớn
    chở đầy vàng ngọc
    mà lại lướt đi
    trên mặt đất liền,
    thì mới tìm được
    xá lợi Thế tôn.

    (24) Và nếu chim ri
    mỏ ngậm Hương sơn
    tùy theo ý muốn
    bay đâu cũng được,
    thì mới tìm được
    xá lợi Thế tôn.

    Bà la môn Pháp sư thọ ký nghe những lời chỉnh cú ấy, thì cũng đem chỉnh cú mà đáp lại đồng tử Ai cũng thích nhìn.

    (25) Lành thay đồng tử
    bậc đại cát tường,
    khéo léo sử dụng
    tuệ giác phương tiện,
    nên được Thế tôn
    thọ vô thượng ký.

    (26) Uy đức Thế tôn
    cực kỳ vĩ đại,
    đầy cả năng lực
    cứu hộ thế giới ;
    ông hãy nghe tôi
    tuần tự nói đến.

    (27) Lĩnh vực Thế tôn
    rất khó nghĩ thấu,
    toàn thể thế giới
    không ai đồng đẳng ;
    pháp thân của Ngài
    thể tánh thường trú,
    tu hành cũng không
    làm cho sai biệt.

    (28) Chư vị Thế tôn
    thể tánh đồng nhất,
    Pháp các Ngài nói
    cũng là như vậy ;
    nên chư Thế tôn
    vốn phi tạo tác,
    lại nữa cũng là
    vốn phi sinh khởi.

    (29) Thân thể kim cương
    của chư Thế tôn
    quyền biến thị hiện
    thân thể ứng hóa ;
    thế nên xá lợi
    của chư Thế tôn
    cũng vốn không có
    bằng một hạt cải.

    (30) Thân chư Thế tôn
    không phải máu thịt,
    làm sao mà có
    linh cốt xá lợi ;
    thế nhưng phương tiện
    lưu lại linh cốt,
    là để lợi ích
    bao loại chúng sinh.

    (31) Pháp thân là Phật,
    pháp giới cũng Phật ;
    pháp thân mới thật
    là thân của Phật,
    Pháp của Phật nói
    là pháp giới ấy.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    — [NGÀY 6] —

    Trong đại hội có ba mươi hai ngàn thiên tử, nghe nói như vậy về thọ mạng bất diệt đức Thế tôn, ai cũng phát tâm vô thượng bồ đề, hoan hỷ, phấn chấn, cảm được sự thể chưa bao giờ có, nên khác miệng mà đồng tiếng, nói mấy lời chỉnh cú sau đây.

    (32) Phật không nhập diệt,
    Pháp cũng bất diệt,
    chỉ vì ích lợi
    cho bao chúng sinh,
    nên Phật thị hiện
    có sự diệt tận.

    (33) Phật thì đích thị
    bất khả tư nghị,
    thân mầu của Phật
    không hề biến đổi,
    nhưng vì ích lợi
    cho bao chúng sinh
    mà Phật thị hiện
    mọi sự trang nghiêm.

    Bấy giờ bồ tát Diệu tràng đích thân đối trước đức Thế tôn, trước bốn đức Thế tôn, trước hai vị đại nhân và bao nhiêu thiên tử, nghe nói thọ lượng của đức Thế tôn, thì lại từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính mà thưa với Ngài, rằng bạch đức Thế tôn, nếu thật chư vị Thế tôn không nhập niết bàn, không có xá lợi, thì tại sao trong các kinh trước đây nói Ngài có niết bàn, và có xá lợi để cho nhân loại và chư thiên tôn kính hiến cúng  ? Chư vị Thế tôn đã quá khứ rồi, hiện có linh cốt phân bố trong đời, người trời hiến cúng phước được vô hạn. Vậy mà ngày nay lại nói không có, gây ra hoài nghi. Con thỉnh cầu đức Thế tôn thương mà giải thích phong phú cho chúng con.

    Vào lúc ấy, đức Thế tôn bảo bồ tát Diệu tràng, và cả đại hội, rằng các người phải nhận thức, nói có niết bàn và có xá lợi là nói theo ý nghĩa bí mật. Ý nghĩa như vậy hãy chuyên nhất tâm trí mà nghe. Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nên biết như vầy : có mười sự thể có thể lý giải ý nghĩa chân thật của Như lai nói có niết bàn vĩ đại và cứu cánh. Thế nào là mười  ? Một là chư Như lai cứu cánh diệt hết phiền não chướng và sở tri chướng nên nói là niết bàn. Hai là chư Như lai khéo léo thấu triệt nhân vô tánh và pháp vô tánh nên nói là niết bàn. Ba là chư Như lai có thể chuyển thân y và pháp y nên nói là niết bàn. Bốn là chư Như lai đối với chúng sinh, một cách tự nhiên, tạm ngừng hóa độ [khi cơ duyên hóa độ đã hết], nên nói là niết bàn. Năm là chư Như lai chứng được pháp thân không có sai biệt nên nói là niết bàn. Sáu là chư Như lai thấu triệt cái tánh bất nhị của sinh tử với niết bàn nên nói là niết bàn. Bảy là chư Như lai thấu triệt căn bản của các pháp, thực hiện thanh tịnh nên nói là niết bàn. Tám là chư Như lai khéo léo tu hành sự bất sinh diệt của các pháp nên nói là niết bàn. Chín là chư Như lai chứng được chánh trí đối với chân như nên nói là niết bàn. Mười là chư Như lai chứng được sự không sai biệt của tánh các pháp và tánh niết bàn nên nói là niết bàn. Như thế đó là mười sự thể nói có niết bàn.

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nên biết như vầy : có mười sự thể nữa có thể lý giải ý nghĩa chân thật của Như lai nói có niết bàn vĩ đại và cứu cánh. Thế nào là mười  ? Một là mọi thứ phiền não lấy ưa muốn làm gốc, từ ưa muốn mà sinh, chư Như lai dứt ưa muốn nên nói là niết bàn. Hai là chư Như lai dứt hết ưa muốn, không thủ đắc một pháp nào cả : vì không thủ đắc mà không đi không đến nên nói là niết bàn. Ba là vì không đi đến, không thủ đắc, thế là pháp thân bất sinh diệt : bất sinh diệt nên nói là niết bàn. Bốn là sự bất sinh diệt thì không phải ngôn ngữ nói thấu : ngôn ngữ loại bỏ nên nói là niết bàn. Năm là không có bản ngã và sinh thể, tư duy sự sinh diệt của các pháp mà được chuyển y nên nói là niết bàn. Sáu là phiền não là khách, pháp tánh là chủ, không đến không đi : chư Như lai thấu triệt như vậy nên nói là niết bàn. Bảy là chân như là thật, ngoài ra là giả : chân như là Như lai nên nói là niết bàn. Tám là thật tế thì không hý luận : chỉ có Như lai chứng pháp thật tế, vĩnh diệt hý luận nên nói là niết bàn. Chín là vô sinh thì thật, sinh thì dối : người ngu chìm đắm sinh tử, còn thật thể Như lai thì không giả dối nên nói là niết bàn. Mười là cái pháp không thật thì do duyên sinh, cái pháp chân thật thì phi duyên sinh, mà pháp thân Như lai là chân thật nên nói là niết bàn. Như thế đó là mười sự thể nói có niết bàn.

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nên biết như vầy : có mười sự thể nữa có thể lý giải ý nghĩa chân thật của Như lai nói có niết bàn vĩ đại và cứu cánh. Thế nào là mười  ? Một là Như lai khéo biết bố thí và quả báo của bố thí là không bản ngã và sở hữu của bản ngã ; đối với bố thí và quả báo của bố thí, sự phân biệt không chính xác vĩnh viễn loại trừ nên nói là niết bàn. Hai là Như lai khéo biết trì giới và quả báo của trì giới là không bản ngã và sở hữu của bản ngã ; đối với trì giới và quả báo của trì giới, sự phân biệt không chính xác vĩnh viễn loại trừ nên nói là niết bàn. Ba là Như lai khéo biết nhẫn nhục và quả báo của nhẫn nhục là không bản ngã và sở hữu của bản ngã ; đối với nhẫn nhục và quả báo của nhẫn nhục, sự phân biệt không chính xác vĩnh viễn loại trừ nên nói là niết bàn. Bốn là Như lai khéo biết tinh tiến và quả báo của tinh tiến là không bản ngã và sở hữu của bản ngã ; đối với tinh tiến và quả báo của tinh tiến, sự phân biệt không chính xác vĩnh viễn loại trừ nên nói là niết bàn. Năm là Như lai khéo biết thiền định và quả báo của thiền định là không bản ngã và sở hữu của bản ngã ; đối với thiền định và quả báo của thiền định, sự phân biệt không chính xác vĩnh viễn loại trừ nên nói là niết bàn. Sáu là Như lai khéo biết trí tuệ và quả báo của trí tuệ là không bản ngã và sở hữu của bản ngã ; đối với trí tuệ và quả báo của trí tuệ, sự phân biệt không chính xác vĩnh viễn loại trừ nên nói là niết bàn. Bảy là Như lai khéo biết chúng sinh phi chúng sinh, các pháp phi các pháp, sự phân biệt không chính xác vĩnh viễn loại trừ nên nói là niết bàn. Tám là thương mình thì đeo đuổi, theo đuổi thì đau khổ ; Như lai dứt thương mình, hết theo đuổi : hết theo đuổi nên nói là niết bàn. Chín là các pháp hữu vi thì toàn có số lượng, pháp tánh vô vi thì số lượng loại hết ; Như lai rời hữu vi, chứng vô vi, không số lượng nên nói là niết bàn. Mười là Như lai thấu triệt chúng sinh và các pháp toàn không : không tánh là pháp thân chân thật nên nói là niết bàn. Như thế đó là mười sự thể nói có niết bàn.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    — [NGÀY 7] —

    Lại nữa, Thiện nam tử, đâu phải chỉ có cái việc không nhập niết bàn của Như lai là hiếm có, mà còn có mười sự hiếm có nữa là việc Như lai làm. Thế nào là mười  ? Một, sinh tử thì tội lỗi, niết bàn thì vắng lặng, thế nhưng Như lai chứng được sự bình đẳng của sinh tử với niết bàn, nên không ở sinh tử, không ở niết bàn, không chán bỏ phản bội chúng sinh, đó là việc Như lai làm. Hai, đối với chúng sinh, Như lai không nghĩ họ là ngu phu, đi theo quan niệm thác loạn, bị phiền não ép buộc, Như lai phải khai thị cho họ siêu thoát ; thế nhưng do sức mạnh của từ bi quá khứ, nên đối với chúng sinh vẫn tùy trình độ, ý thích và nhận định ([6]) của họ mà tự nhiên cứu độ, chỉ thị và huấn dụ cho họ lợi ích và hoan hỷ ([7]) mà không phân biệt gì hết, cùng tận thì gian, không có kết thúc, đó là việc Như lai làm. Ba, Như lai không nghĩ Như lai phu diễn mười hai thành phần của giáo pháp ([8]), lợi ích chúng sinh ; thế nhưng do sức mạnh từ bi quá khứ, vẫn tuyên thuyết phong phú cho chúng sinh, cho đến cùng tận thì gian, không có kết thúc, đó là việc Như lai làm. Bốn, Như lai không nghĩ đi đến thị thành, thôn quê, những nơi dân cư, vào nhà vua chúa, đại thần, bốn giai cấp xã hội mà khất thực ; nhưng do sức mạnh huân tập của thân miệng ý quá khứ mà tự nhiên đi đến, vì lợi ích cho họ mà khất thực, đó là việc Như lai làm. Năm, Như lai thì thân không đói khát, cũng không đại tiểu, nên tuy khất thực mà không thọ thực ; nhưng vì tự nhiên ích lợi chúng sinh nên hiện có ăn uống, đó là việc Như lai làm. Sáu, Như lai không nghĩ chúng sinh có cao vừa thấp, tùy trình độ của họ mà thuyết pháp cho ; nhưng Như lai không phân biệt mà vẫn tự nhiên tùy trình độ ([9]) chúng sinh, khéo ứng theo cơ duyên mà thuyết pháp cho họ, đó là việc Như lai làm. Bảy, Như lai không nghĩ có người không tôn kính Như lai, thường phát ngôn phỉ báng, Như lai không thể đối thoại ; có người tôn kính Như lai, thường phát ngôn ca tụng, Như lai có thể đối thoại ; thế nhưng Như lai thường có tâm từ bi, bình đẳng bất nhị, đó là việc Như lai làm. Tám, Như lai không có thương ghét, kiêu ngạo, tham tiếc, và mọi thứ phiền não đồng đẳng như vậy ; mà Như lai thường thích vắng lặng, khen thiểu dục, tách rời huyên náo, đó là việc Như lai làm. Chín, Như lai không có một pháp nào không biết và không khéo thông suốt, đối với toàn bộ các pháp thì cảnh trí ([10]) như ở trước mắt và không có phân biệt ; thế nhưng Như lai vẫn thấy công việc của chúng sinh, tùy ý họ mà phương tiện dẫn dụ cho họ siêu thoát, đó là việc Như lai làm. Mười, Như lai thấy ai giàu thịnh thì không mừng, thấy họ suy bại cũng không lo ; nhưng thấy họ làm theo chánh hạnh thì vô ngại đại bi tự nhiên gia hộ, thấy họ làm theo tà hạnh thì vô ngại đại bi tự nhiên cứu hộ, đó là việc của Như lai làm. Thiện nam tử, nên biết Như lai nói có vô lượng diệu hạnh như vậy, và đó là sắc thái thật của niết bàn. Còn có khi các người thấy Như lai nhập niết bàn, thì đó là phương tiện thích nghi ; các người lại thấy lưu lại xá lợi thì đó là để cho chúng sinh tôn kính hiến cúng. Những việc như vậy toàn là do sức mạnh từ bi của Như lai, để ai hiến cúng xá lợi thì vị lai xa rời tám nạn, gặp được chư vị Như lai, gặp được các bậc Thiện tri thức, thiện tâm liên tục chứ không mất, phước báo vô cùng, mau được siêu thoát, không bị sinh tử trói buộc. Diệu hạnh như vậy các người nên nỗ lực mà làm, đừng có phóng dật.

    Bồ tát Diệu tràng nghe đức Thế tôn đích thân nói đến sự không nhập niết bàn và những diệu hạnh cực sâu, thì chắp tay, cung kính mà thưa, bạch đức Thế tôn, ngày nay con mới biết bậc Thầy cao cả không nhập niết bàn và lưu lại xá lợi, nhưng vì lợi ích một cách rộng lớn cho chúng sinh [mà thị hiện niết bàn và lưu lại xá lợi]. Cả cơ thể và tâm trí đều phấn chấn, vui đẹp, bồ tát Diệu tràng than rằng thật là sự thể chưa bao giờ có.

    Khi phẩm thọ lượng Thế tôn được tuyên thuyết hoàn tất thì vô số chúng sinh phát tâm vô thượng bồ đề. Và bốn đức Thế tôn đều ẩn mất. Bồ tát Diệu tràng đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, rồi đứng dậy trở về chỗ cũ.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    — [NGÀY 8] —

    Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim – Cuốn 2

    Phẩm 3 – Phân Biệt Ba Thân

    Lúc ấy đại bồ tát Hư không tạng ở trong đại hội từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt pháp y ở vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay tôn kính, đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, đem cái lọng thượng hạng có gắn tràng phan và kết những thứ hoa vàng ngọc tinh hảo mà hiến dâng lên Ngài, thưa rằng, bạch đức Thế tôn, bồ tát đại sĩ tu hành chính xác như thế nào về bí mật sâu xa của chư vị Thế tôn  ? Đức Thế tôn dạy, thiện nam tử, hãy nghe cho kỹ, hãy khéo suy nghĩ, Như lai sẽ phân tích giải thích cho ông.

    Thiện nam tử, chư vị Như lai có ba thân, một là hóa thân, hai là ứng thân, ba là pháp thân. Ba thân như vậy bao quát đầy đủ về vô thượng bồ đề, nhận thức chính xác thì mau chóng siêu thoát sinh tử. Thiện nam tử, bồ tát nên nhận thức hóa thân như thế nào  ? Nên nhận thức rằng Như lai quá khứ ở trong vị trí tu hành, vì chúng sinh mà tu tập diệu pháp. Tu tập cho đến vị trí viên mãn. Thì do sức mạnh tu tập mà được sự tự tại lớn lao. Được sự tự tại nên tùy ý muốn của chúng sinh, tùy việc làm của chúng sinh, tùy thế giới của chúng sinh, biết rành tất cả. Rồi không chờ đợi cơ hội, không lỡ mất cơ hội, thích ứng địa phương, thích ứng thì gian, thích ứng việc làm, thích ứng thuyết pháp, mà thị hiện mọi loại thân hình, đó là hóa thân. Thiện nam tử, bồ tát nên nhận thức ứng thân như thế nào  ? Nên nhận thức rằng Như lai vì làm cho bồ tát được sự thông đạt mà nói về chân đế, rằng do thấu triệt sinh tử với niết bàn là nhất thể, do loại trừ sự sợ hãi và sự vui mừng của chúng sinh chấp ngã, do làm căn bản cho vô biên phẩm chất Phật đà, do sức mạnh bản nguyện thích ứng đích thực với như như trí của như như lý, mà hình thành thân thể với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi nét đẹp, sau cổ là vầng sáng tròn, đó là ứng thân. Thiện nam tử, bồ tát nên nhận thức pháp thân như thế nào  ? Nên nhận thức rằng do loại trừ phiền não chướng và sở tri chướng, do đầy đủ thiện pháp, mà chỉ có như như lý của như như trí ([11]), đó là pháp thân.

    Thiện nam tử, hai thân trước là có giả, thân thứ ba mới có thật, làm căn bản cho hai thân trước. Tại sao  ? Vì tách rời như như lý và như như trí thì chư vị Như lai không có phẩm chất nào cả. Nhưng chư vị Như lai thì tuệ giác toàn hảo, phiền não diệt tận, thủ đắc vị trí Phật đà tối cực thanh tịnh. Thế nên như như lý và như như trí tổng quát tất cả phẩm chất Phật đà.

    Thiện nam tử, chư vị Như lai tuyệt đối lợi ích mình người ([12]). Lợi ích mình là như như lý. Lợi ích người là như như trí. Như như lý và như như trí làm cho đạt được tự tại trong sự lợi ích mình người, hoàn thành vô biên diệu dụng, do vậy mà phẩm chất Phật đà có vô biên các dạng dị biệt. Thiện nam tử, ví như do vọng tưởng mà nói các loại phiền não, các loại nghiệp dụng, các loại quả báo ; cũng y như vậy, do như như lý và như như trí mà nói các pháp Phật đà, các pháp Độc giác, các pháp Thanh văn. Do như như lý và như như trí mà tự tại hoàn thành tất cả Phật pháp, đó là sự thể bậc nhất, bất khả tư nghị. Thiện nam tử, như vẽ đồ dùng trong không gian, đó là sự khó thể nghĩ bàn ; do như như lý và như như trí mà hoàn thành phẩm chất Phật đà cũng khó nghĩ bàn như vậy. Tại sao như như lý và như như trí cả hai đều không phân biệt mà lại tự tại hoàn thành sự thể  ? Điều này ví như Như lai nhập niết bàn, nhưng do nguyện lực tự tại mà thành được đủ mọi sự thể. Như như lý và như như trí mà tự tại hoàn thành mọi sự cũng là như vậy. Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nhập định vô tâm ([13]), nhưng do nguyện lực trước đó mà xuất định vẫn làm mọi sự ; như như lý và như như trí không phân biệt mà vẫn tự tại thành sự cũng vậy. Như trời trăng không có phân biệt, nước gương không có phân biệt, ánh sáng không có phân biệt, nhưng cả ba thứ này hợp lại thì có hình ảnh ; như như lý và như như trí không phân biệt, nhưng do nguyện lực tự tại mà chúng sinh thấy có ứng thân và hóa thân. Thiện nam tử, rất nhiều nước gương do ánh sáng mà không ảnh ([14]) hiện ra đủ hình dạng khác nhau, nhưng không gian thì không có hình dạng như vậy. Cũng y như vậy, những người tiếp nhận giáo hóa chính là hình ảnh của pháp thân. Do nguyện lực mà hai thân đủ mọi hình tướng, nhưng pháp thân thì không có hình tướng khác nhau.

    Thiện nam tử, do hai thân mà nói chư vị Như lai là niết bàn hữu dư, do pháp thân mà nói chư vị Như lai là niết bàn vô dư, vì những gì dư lại đã tuyệt đối diệt tận. Lại do ba thân mà nói chư vị Như lai không trụ niết bàn. Hai thân là không trụ niết bàn, còn tách rời pháp thân thì không có Phật thân nào biệt lập, [nên pháp thân cũng là không trụ niết bàn]. Tại sao hai thân không trụ niết bàn, vì hai thân là có giả, sinh diệt như mỗi ý nghĩ, không cố định trụ lại, lại luôn luôn xuất hiện chứ không cố định. Pháp thân thì không như vậy. Nên hai thân thì không trụ niết bàn, còn pháp thân thì vì bất nhị [với hai thân] nên cũng là không trụ niết bàn mà thôi. Do vậy, căn cứ ba thân mà nói chư vị Như lai không trụ niết bàn ([15]).

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    — [NGÀY 9] —

    Thiện nam tử, phàm phu vì ba tướng mà có ràng buộc, có ngăn cách, rời xa ba thân, không đạt đến ba thân. Ba tướng là gì, một là biến kế, hai là y tha, ba là thành tựu. Ba tướng như vậy mà không thể lý giải [cái nên lý giải], không thể diệt trừ [cái nên diệt trừ], không thể trong sáng [cái nên trong sáng], thế nên không thể đạt đến ba thân. Ba tướng như vậy mà có thể lý giải, có thể diệt trừ, có thể trong sáng, thì toàn hảo ba thân của chư vị Như lai. Thiện nam tử, phàm phu chưa trừ bỏ được ba tâm nên rời xa ba thân, không thể đạt đến. Ba tâm là gì, một là tâm sinh sự, hai là tâm dựa vào căn bản, ba là tâm căn bản. Do đạo tạm dẹp mà tâm sinh sự diệt tận, do đạo đoạn trừ mà tâm dựa vào căn bản diệt tận, do đạo hơn hết mà tâm căn bản diệt tận. Tâm sinh sự diệt tận thì biến hiện hóa thân, tâm dựa vào căn bản diệt tận thì hình thành ứng thân, tâm căn bản diệt tận thì hiển lộ pháp thân. Do vậy, chư vị Như lai đủ cả ba thân.

    Thiện nam tử, nơi thân thứ nhất thì chư vị Như lai đồng nhất công việc, nơi thân thứ hai thì chư vị Như lai đồng nhất ý muốn, nơi thân thứ ba thì chư vị Như lai đồng nhất thể tánh.

    Thiện nam tử, thân Phật thứ nhất là tùy ý chúng sinh có lắm dạng nên hiện ra lắm dạng, do vậy mà nói thân này là nhiều. Thân Phật thứ hai thì ý của đệ tử là một tướng nên hiện ra một tướng, do vậy mà nói thân này là một. Thân Phật thứ ba siêu việt tất cả dạng tướng, không phải lĩnh vực dạng tướng, do vậy mà nói thân này là phi nhất phi dị.

    Thiện nam tử, thân thứ nhất dựa ứng thân mà biểu hiện, thân thứ hai dựa pháp thân mà biểu hiện, còn thân thứ ba thì có thật, không cần chỗ dựa.

    Thiện nam tử, ba thân như vậy có nghĩa nói là thường còn, có nghĩa nói là vô thường. Hóa thân thường chuyển pháp luân, nơi nơi tùy duyên, phương tiện liên tục, không có chấm dứt, nên nói là thường còn ; nhưng không phải là căn bản, đại dụng đầy đủ không được biểu hiện, nên nói là vô thường. Ứng thân thì vô thỉ đến nay liên tục bất đoạn, thu giữ được hết thảy phẩm chất đặc hữu của chư vị Như lai, chúng sinh vô tận nên diệu dụng cũng vô tận, nên nói là thường còn ; nhưng cũng không phải là căn bản, đại dụng đầy đủ cũng không biểu hiện, nên nói là vô thường. Pháp thân không phải là hữu vi ([16]), không có các dạng khác nhau, mà là căn bản, tựa như không gian, nên nói là thường còn. Thiện nam tử, rời như như trí thì không có tuệ giác tối thượng nào nữa, rời như như lý thì không có đối cảnh tối thượng nào nữa. Một mặt là như như của các pháp, một mặt là như như của tuệ giác, hai mặt như như ấy là như như, phi đồng nhất phi dị biệt. Do vậy, pháp thân thì tuệ giác trong sáng, diệt trừ trong sáng, do hai sự trong sáng này mà pháp thân hoàn toàn trong sáng.

    Thiện nam tử, phân biệt ba thân thì có 4 sự khác nhau : có hóa thân không phải ứng thân, có ứng thân không phải hóa thân, có hoá thân cũng là ứng thân, có không phải hoá thân cũng không phải ứng thân. Hóa thân không phải ứng thân là thế nào, là chư Như lai nhập niết bàn rồi, do đại nguyện tự tại mà vẫn tùy duyên lợi ích chúng sinh. Ứng thân không phải hóa thân là thế nào, là cái thân được thấy bởi bồ tát trước mười địa [17]). Hóa thân cũng là ứng thân là thế nào, là cái thân ở nơi niết bàn hữu dư. Không phải hóa thân cũng không phải ứng thân là thế nào, là chính pháp thân. Thiện nam tử, pháp thân như vậy do hai sự vô sở hữu mà hiển lộ. Hai sự vô sở hữu là thế nào, là nơi pháp thân thì ngã chấp pháp chấp ([18]) toàn là không, phi có phi không, phi một phi khác, phi số lượng phi siêu số lượng, phi sáng suốt phi ngu tối, ấy vậy, như như trí thì không thấy ngã chấp pháp chấp, không thấy phi có phi không, cho đến không thấy phi sáng suốt phi ngu tối. Thế nên phải biết đối cảnh trong sáng với tuệ giác trong sáng là bất khả phân biệt, không phải ở giữa [những khái niệm đối lập lẫn nhau] ; làm căn bản cho diệt đế và đạo đế ([19]), nên pháp thân đầy tính năng biểu hiện đủ loại sự nghiệp của chư vị Như lai.

    Thiện nam tử, thân này ([20]) thì bản thân, yếu tố, đối cảnh, đối tượng, kết quả, tất cả toàn là dựa vào căn bản [như như lý] ([21]) và nó thật khó mà nghĩ bàn. Nếu hiểu nghĩa ấy thì biết thân này là cỗ xe vĩ đại, là thể tánh Như lai, là bào thai Như lai ([22]). Dựa vào thân này thì được cái tâm vị trí mới phát và cái tâm vị trí tu hành đều hiện ra, cái tâm vị trí bất thoái cũng hiện ra, cái tâm vị trí bổ xứ, cái tâm vị trí kim cang, cái tâm vị trí Như lai cũng hiện ra cả, vô lượng vô biên phẩm chất tinh tế của Như lai cũng hiện ra. Thiện nam tử, dựa vào pháp thân mà đại định và đại trí được thực hiện, và do đó mà hóa thân dựa vào đại định với ứng thân dựa vào đại trí cũng được thực hiện. Pháp thân như vậy do tự thể của Nó mà nói là thường và nói là ngã, do đại định của Nó mà nói là lạc, do đại trí của Nó mà nói là tịnh. Do vậy mà Như lai thường trú, tự tại, an lạc, thanh tịnh ([23]).

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    — [NGÀY 10] —

    Do đại định mà hết thảy thiền định, định Thủ lăng nghiêm và các định đồng đẳng, hết thảy niệm xứ, đại pháp niệm xứ và những niệm xứ đồng đẳng, đại từ đại bi, hết thảy tổng trì, hết thảy thần thông, hết thảy tự tại, hết thảy bình đẳng, hết thảy các pháp Phật đà như vậy đều được thực hiện. Do đại trí mà mười lực, bốn vô úy, bốn vô ngại biện, một trăm tám mươi pháp bất cọng ([24]), hết thảy các pháp bất khả tư nghị như vậy đều được thực hiện. Ví như do ngọc như ý mà vô số các loại ngọc quí đều được xuất hiện, cũng là như vậy, do ngọc đại định và ngọc đại trí mà xuất ra vô số diệu pháp của chư vị Như lai.

    Thiện nam tử, pháp thân như vậy, và đại định đại trí của Nó, toàn là siêu việt hết thảy khái niệm ([25]), không vướng mắc khái niệm nào hết, không thể phân biệt, phi thường phi đoạn, gọi là trung đạo ([26]) ; tuy phân biệt mà thể tánh không phân biệt, tuy có ba số ([27]) mà thể tánh không phải ba số, bất tăng bất giảm, tựa như mộng ảo không có năng chấp với sở chấp ; là pháp thể như như, là xứ sở giải thoát, vượt qua lĩnh vực của vua chết, vượt qua luôn sự tối tăm của sinh tử, là chỗ chúng sinh không thể tu hành và đạt đến [bằng khái niệm của mình], là chỗ an trú của chư vị Phật đà và chư vị Bồ tát.

    Thiện nam tử, như người muốn có vàng nên tìm kiếm khắp nơi, và tìm được mỏ vàng. Rồi đập ra, chọn phần nào tinh hơn thì bỏ vào lò mà luyện, nên thành vàng ròng, chế tạo đủ thứ đồ trang sức, đồ trang sức khác nhau mà vàng không biến đổi. Thế nên, thiện nam tử, thiện nam hay thiện nữ nào muốn cầu giải thoát siêu việt mà tu hành thiện căn thuộc phạm vi thế gian ([28]), thì được thấy chư vị Như lai, và đệ tử của các Ngài, được thân gần, rồi thưa rằng, bạch đức Thế tôn, cái gì là thiện  ? cái gì là ác  ? cái gì là chính tu hành được thanh tịnh hạnh  ? Chư vị Như lai, và đệ tử của các Ngài, thấy họ hỏi thì nghĩ, thiện nam thiện nữ này muốn cầu thanh tịnh, muốn nghe chánh pháp. Nghĩ vậy nên liền nói cho họ khai ngộ. Họ nghe rồi chính xác ghi nhớ, phát tâm tu hành, được sức mạnh tinh tiến, loại trừ sự chướng ngại vì biếng nhác, diệt mọi tội lỗi, đối với giới pháp họ tách rời sự không tôn trọng, ngưng cả sự háo động và tiếc nuối, nên nhập vào địa thứ nhất. Do tâm của địa thứ nhất này loại trừ sự chướng ngại cho sự lợi ích chúng sinh, nên nhập vào địa thứ hai. Trong địa thứ hai này loại trừ sự chướng ngại cho sự không áp bức quấy rối chúng sinh, nên nhập vào địa thứ ba. Trong địa thứ ba này loại trừ sự chướng ngại cho tâm mềm dịu trong sáng, nên nhập vào địa thứ tư. Trong địa thứ tư này loại trừ sự chướng ngại cho phương tiện khéo léo, nên nhập vào địa thứ năm. Trong địa thứ năm này loại trừ sự chướng ngại vì thấy chân đế tục đế đối lập với nhau, nên nhập vào địa thứ sáu. Trong địa thứ sáu này loại trừ sự chướng ngại vì thấy có hành tướng, nên nhập vào địa thứ bảy. Trong địa thứ bảy này loại trừ sự chướng ngại vì không thấy sự diệt, nên nhập vào địa thứ tám. Trong địa thứ tám này loại trừ sự chướng ngại vì không thấy sự sinh, nên nhập vào địa thứ chín. Trong địa thứ chín này loại trừ sự chướng ngại cho lục thông, nên nhập vào địa thứ mười. Trong địa thứ mười này loại trừ sự chướng ngại vì ngu muội các pháp sở tri, loại trừ cái tâm căn bản, nên nhập vào Như lai địa. Như lai địa do ba sự trong sáng mà gọi là cực trong sáng. Ba sự ấy là những gì  ? Một là trong sáng vì loại trừ phiền não, hai là trong sáng vì loại trừ khổ não, ba là trong sáng vì loại trừ tập khí. Như vàng thật chảy ra vì nung luyện, nung luyện rồi thì không còn quặng bẩn nữa, chứng tỏ vàng vốn trong sáng, chứ không phải không có vàng. Như nước dơ mà lọc trong thì không còn cặn bẩn, chứng tỏ nước vốn trong suốt, chứ không phải không có nước. Cũng là như vậy, pháp thân vốn tách rời phiền não, khổ và tập loại trừ rồi thì không còn tập quán thừa lại, chứng tỏ thể tánh pháp thân vốn trong sáng, chứ không phải không có thể tánh. Như không gian bị khói mây bụi mù che đi, trừ cái che ấy rồi thì không gian trong sáng, chứ không phải không có không gian ; pháp thân cũng vậy, mọi sự khổ não loại bỏ hết rồi thì nói là trong sáng, không phải không có thể tánh pháp thân. Như có kẻ trong mộng thấy bị trôi theo dòng nước sông lớn, nên vận dụng cả tay chân mà bơi qua, đến được bờ bến bên kia, ấy là do cả thân tâm kẻ ấy không nhác, không lùi. Khi mộng tỉnh thì không còn thấy nước, thấy bờ bên này bờ bên kia, nhưng không phải không có cái tâm : vọng tưởng sinh tử loại bỏ hết rồi thì tuệ giác trong sáng, chứ không phải không có tuệ giác. Ấy vậy, pháp thân thì mọi thứ vọng tưởng không còn phát sinh nên nói là trong sáng, chứ không phải chư vị Như lai không có thật thể.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    — [NGÀY 11] —

    Lại nữa, thiện nam tử, pháp thân do làm sạch hoặc chướng mà biểu hiện ứng thân, do làm sạch nghiệp chướng mà biểu hiện hóa thân, do làm sạch trí chướng mà pháp thân tự biểu hiện. Ví như do không gian mà phát điện lực, do điện lực mà phát ánh sáng ; cũng là như vậy, do pháp thân mà biểu hiện ứng thân, do ứng thân mà biểu hiện hóa thân. Do thể trong sáng mà pháp thân tự biểu hiện, do trí trong sáng mà biểu hiện ứng thân, do định trong sáng mà biểu hiện hóa thân. Ba sự trong sáng như vậy là pháp tánh như như, bất dị như như, nhất vị như như, giải thoát như như, cứu cánh như như, do vậy, chư vị Như lai thì thể tánh không có dị biệt. Thiện nam tử, nếu thiện nam hay thiện nữ nào nói đức Thế tôn là bậc Thầy cao cả của tôi, tin tưởng quyết định như vậy, thì người ấy, từ trong tâm trí sâu xa, thấu hiểu pháp thân Như lai không có dị biệt. Và thiện nam tử, do vậy mà, đối với các pháp, người ấy loại trừ hết cả sự tư duy không chính xác, biết các pháp là phi nhị biên, là vô phân biệt, là thánh giả tu hành. Đối với các pháp, chính xác tu hành sự không có nhị biên như thế nào, thì đối với các chướng cũng loại trừ như vậy ; loại trừ các chướng như thế nào thì như như lý và như như trí cũng tối cực trong sáng như vậy ; như như lý và như như trí trong sáng như thế nào thì mọi sự tự tại cũng như vậy, bao quát đầy đủ, thành đạt tất cả. Các chướng loại trừ, các chướng lọc sạch, đó là chân tướng của như như lý và như như trí. Thấy như vậy là cái thấy của thánh giả, và thế gọi là thật thấy Như lai, tại sao, vì đó là đúng như sự thật mà thấy như như lý của các pháp. Do vậy, chư vị Như lai thấy biết tất cả chư vị Như lai. Còn chư vị Thanh văn và Độc giác tuy siêu thoát ba cõi, nhưng cầu mà không thể thấy biết như như lý. Thánh giả mà còn không thể thấy biết, huống chi phàm phu thì nghi hoặc, phân biệt thác loạn, nên không thể vượt đến. Khác nào thỏ mà bơi qua biển cả thì bơi không qua được, vì sức lực của thỏ quá kém, phàm phu cũng vậy, họ không thể thông đạt như như lý của các pháp. Nhưng chư vị Như lai thì siêu phân biệt, nên được đại tự tại đối với hết thảy các pháp, được đầy đủ tuệ giác trong sáng và sâu xa, và đó là lĩnh vực của chư vị Như lai, chứ không phải chung cùng với người khác. Do vậy mà biết chư vị Như lai trong vô số kiếp không tiếc tính mạng, làm khổ hạnh khó làm, mới được pháp thân tối thượng, không thể sánh bằng, bất khả tư nghị, vượt quá lĩnh vực ngôn ngữ, vắng lặng nhiệm mầu, rời hết mọi sự sợ hãi ([29]).

    Ấy vậy, thiện nam tử, thấy biết như như lý của các pháp thì không sinh không già không chết, thọ lượng bất tận, không ngủ nghỉ, không đói khát, tâm thường thiền định, không có loạn động. Đối với Như lai mà tranh luận thì thế là không thể thấy được Như lai. Chư vị Như lai thì nói gì cũng lợi ích, ai nghe cũng giải thoát, và vì nghe pháp mà phước báo bất tận, đến nỗi chim dữ, thú dữ, người dữ, quỉ dữ, tất cả không bao giờ gặp phải. Nhưng chư vị Như lai không có sự vô ký ([30]), không sinh tâm muốn biết đối với các pháp [mà vẫn tự nhiên biết hết], không có ý tưởng sinh tử với niết bàn khác nhau. Chư vị Như lai phán quyết gì cũng là chắc chắn. Chư vị Như lai thì tất cả cử động toàn là tuệ giác, tất cả sự việc toàn là từ bi, không có gì không vì lợi ích yên vui chúng sinh. Thiện nam tử, đối với bản kinh Ánh sáng hoàng kim này, thiện nam hay thiện nữ nào nghe, tin, hiểu, thì không sa vào các nẻo địa ngục, ngạ quỉ, bàng sinh, tu la, thường sinh trong nhân loại và chư thiên mà không phải những nơi thấp hèn ; thì thân gần chư vị Như lai, nghe và tiếp nhận chánh pháp ; thì thường sinh thế giới trong sạch của chư vị Như lai : tất cả thành quả này là do nghe được kinh pháp cực kỳ sâu xa này. Thiện nam hay thiện nữ như vậy là được Như lai đã thấy biết và đã ghi nhận sẽ được không thoái chuyển vô thượng bồ đề. Thiện nam hay thiện nữ nào được kinh pháp cực kỳ sâu xa này một khi lướt qua thính giác, thì nên biết người ấy không phỉ báng Phật, không hủy hoại Pháp, không khinh dể Tăng. Ai chưa gieo trồng thiện căn họ làm cho gieo trồng, ai gieo trồng thiện căn rồi họ làm cho tăng trưởng và thành thục. Họ khuyến khích mọi người trong mọi thế giới làm theo sáu pháp ba la mật.

    Bấy giờ đại bồ tát Hư không tạng, Phạn vương, Đế thích, bốn Thiên vương, chư thiên, tức thì từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo của vai bên phải, chắp tay cung kính, đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, rồi thưa rằng, bạch Ngài, ở đâu mà có giảng diễn bản kinh mầu nhiệm Ánh sáng hoàng kim này, thì quốc gia ấy có bốn cái lợi. Một, quân đội hoàng gia cường thịnh, không có thù địch, vua và dân không bịnh tật, sống lâu dài, an lạc cát tường, hưng hiển Phật pháp. Hai, hoàng gia và quần thần vui đẹp với nhau, rời xa sự dua nịnh, vua cũng trọng nể. Ba, tu sĩ và quốc dân thực tu Phật pháp, không bịnh, yên vui, không ai uổng tử, phụng sự tất cả ruộng phước. Bốn, ngày đêm cơ thể điều hòa, thư thái, chư thiên tăng thêm giữ gìn hộ vệ, tâm lý từ bi, bình đẳng, không có sự thương tổn, tác hại, làm cho ai cũng qui kính Tam bảo, ai cũng nguyện tu tập bồ đề hạnh. Như thế đó là bốn cái lợi. Bạch đức Thế tôn, chúng con cũng thường xuyên vì làm cho kinh pháp này lan rộng nên theo dõi những người thọ trì, họ ở đâu chúng con cũng đem lại lợi ích cho họ. Đức Thế tôn dạy rằng, lành thay các thiện nam tử, các người hãy làm đúng như vậy. Các người hãy nỗ lực phổ biến bản kinh nhiệm mầu và chúa tể này, và thế là làm cho Phật pháp ở đời lâu dài.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 12]

    Phẩm 4 – Âm Thanh Trống Vàng ([31])

    Vào lúc bấy giờ, bồ tát Diệu tràng đích thân ở trước đức Thế tôn nghe diệu pháp Ngài nói, thì hoan hỷ, phấn chấn, nhất tâm tư duy, trở về chốn cũ. Trong đêm hôm ấy, bồ tát mộng thấy cái trống vàng ròng to lớn, ánh sáng rực rỡ như vầng thái dương. Trong ánh sáng ấy, bồ tát thấy được chư vị Thế tôn khắp mười phương hướng, cùng ngồi trên pháp tòa lưu ly ở dưới cây ngọc, được bao quanh bởi đại chúng gồm có vô số người. Bồ tát lại thấy một vị Bà la môn cầm dùi mà đánh trống vàng ấy, xuất ra âm thanh to lớn. Âm thanh này nói lên những bài chỉnh cú nhiệm mầu, diễn đạt diệu pháp sám hối. Bồ tát Diệu tràng nghe rồi nắm giữ tất cả trong ký ức, buộc trí nhớ lại như ở trước mắt. Trời sáng, bồ tát cùng với hàng trăm hàng ngàn người đem các cúng phẩm ra khỏi thành Vương xá, vào đỉnh Thứu phong, đến chỗ đức Thế tôn. Bồ tát đảnh lễ ngang chân của Ngài, sắp hương hoa ra, đi quanh Ngài ba vòng, lui lại ngồi một phía, chấp tay cung kính, chiêm ngưỡng tôn nhan mà thưa, bạch đức Thế tôn, trong đêm vừa rồi, con mộng thấy một vị Bà la môn lấy tay cầm dùi, đánh một cái trống bằng hoàng kim, rất đẹp, xuất ra âm thanh rất lớn. Âm thanh ấy nói lên những bài chỉnh cú nhiệm mầu, diễn đạt diệu pháp sám hối. Nghe rồi, con nắm giữ trong trí tất cả. Kính xin đức Thế tôn đại từ đại bi, cho con tường thuật. Đối trước đức Thế tôn, bồ tát Diệu tràng nói những chỉnh cú sau đây.

    (1) Đêm hôm vừa rồi
    trong mộng con thấy
    cái trống bằng vàng
    rất lớn và đẹp,
    khắp cả thân trống
    có ánh sáng vàng.

    (2) Như vầng thái dương,
    ánh sáng như vậy
    chiếu rực khắp cả
    mười phương thế giới,
    làm ai cũng thấy
    chư vị Thế tôn.

    (3) Dưới những cây ngọc,
    các Ngài cùng ngồi
    pháp tòa lưu ly,
    có hàng ngàn người
    rất mực cung kính
    bao quanh các Ngài.

    (4) Một bà la môn
    cầm dùi mà đánh
    trống vàng hoàng kim
    phát âm thanh lớn,
    và chính âm thanh
    phát từ trống ấy
    nói những chỉnh cú
    nhiệm mầu sau đây.

    (5) Trống vàng sáng rực
    phát ra tiếng mầu
    vang khắp tất cả
    đại thiên thế giới,
    diệt tội cực nặng
    trong ba đường ác
    cùng bao khổ ách
    của trong nhân loại.

    (6) Uy lực âm thanh
    của trống vàng này
    diệt hẳn hết thảy
    phiền não chướng ngại
    loại trừ sợ hãi
    làm cho yên vui,
    in như chính đấng
    Mâu ni tự tại.

    (7) Chính trong cái nơi
    biển cả sống chết,
    Thế tôn tu hành
    thành trí toàn giác,
    làm cho chúng sinh
    đủ các giác phần,
    cứu cánh qui về
    biển cả công đức.

    (8) Trống vàng xuất ra
    âm thanh mầu nhiệm
    người nghe cùng được
    phạn âm thâm thúy,
    và rồi chứng được
    vô thượng bồ đề,
    thường chuyển pháp luân
    trong sáng nhiệm mầu.

    (9) Lại được thọ lượng
    bất khả tư nghị,
    tùy nghi thuyết pháp
    lợi ích chúng sinh,
    cắt đứt dòng nước
    bao nhiêu khổ lụy,
    bao nhiêu phiền não
    cũng diệt trừ cả.

    (10) Những người ở trong
    nẻo đường rất dữ,
    ngọn lửa dữ dội
    phủ cả châu thân,
    nghe được tiếng mầu
    của trống vàng này
    thì liền thoát khổ
    qui y Phật đà.

    (11) Và rồi thành được
    trí biết đời trước,
    nhớ được quá khứ
    đến trăm ngàn đời,
    nên cùng nhớ đến
    đức Đại mâu ni,
    được nghe kinh pháp
    sâu xa của Ngài.

    (12) Bởi nghe tiếng mầu
    xuất từ trống vàng,
    nên thường thân gần
    chư vị Thế tôn,
    lại thường rời bỏ
    mọi hành vi ác,
    thuần túy tu tập
    các loại thiện pháp.

    (13) Tất cả chúng sinh
    nhân loại chư thiên
    thiết tha chí thành
    nguyện cầu những gì,
    thì nghe tiếng mầu
    xuất từ trống vàng
    là thỏa mãn cả
    những nguyện cầu ấy.

    (14) Những kẻ sa vào
    địa ngục vô gián,
    lửa dữ bùng lên
    đốt cháy thân thể,
    và kẻ ở nơi
    không ai cứu hộ,
    nghe tiếng trống vàng
    khổ sở mất cả.

    (15) Chư thiên nhân loại
    và các loài khác,
    những ai hiện chịu
    bao nỗi khổ nạn,
    mà nghe tiếng mầu
    xuất từ trống vàng
    cũng hết đau khổ
    và được giải thoát.

    (16) Nguyện cầu tất cả
    đấng Lưỡng túc tôn
    hiện tại đang ở
    mười phương thế giới,
    đem lòng đại bi
    nhớ nghĩ đến con.

    (17) Tất cả những ai
    không nơi nương tựa
    không ai cứu hộ,
    con nguyện làm nơi
    nương tựa lớn lao
    cho những người ấy.

    (18) Trước đây con làm
    bao nhiêu tội lỗi
    trong đó gồm có
    ác nghiệp nặng nề,
    ngày nay đối trước
    các đấng Thập lực
    dốc lòng chí thành
    sám hối tất cả.

    (19) Con đã không tin
    chư vị Thế tôn,
    cũng không kính trọng
    cha mẹ tôn trưởng,
    không chăm tu hành
    mọi thứ thiện nghiệp,
    nên thường tạo ra
    bao nhiêu ác nghiệp.

    (20) Con đã tự thị
    tôn quí cao sang
    dòng dõi đẳng cấp
    tiền tài địa vị,
    tự thị trẻ mạnh
    kiêu xa phóng túng,
    nên thường tạo ra
    bao nhiêu ác nghiệp.

    (21) Tâm trí thường xuyên
    nổi dậy tà niệm,
    miệng nói độc ác,
    không thấy tội lỗi,
    nên thường tạo ra
    bao nhiêu ác nghiệp.

    (22) Con đã thường xuyên
    làm việc phàm phu,
    vô minh ám chướng
    đi theo bạn xấu,
    nên thường tạo ra
    bao nhiêu ác nghiệp.

    (23) Hoặc vì ăn chơi,
    hoặc vì buồn nản,
    ham muốn, tức giận
    thắt kết trong lòng,
    nên thường tạo ra
    bao nhiêu ác nghiệp.

    (24) Thân với người xấu,
    keo kiết, ganh ghét
    nghèo nàn, cùng khổ
    nịnh hót, lừa dối,
    nên thường tạo ra
    bao nhiêu ác nghiệp.

    (25) Cũng có những lúc
    không thích tội ác,
    nhưng vì e sợ,
    vì bị sai sử,
    nên thường tạo ra
    bao nhiêu ác nghiệp.

    (26) Hoặc vì háo động
    hoặc vì hận thù
    hoặc vì đói khát
    dày vò hành hạ,
    nên thường tạo ra
    bao nhiêu ác nghiệp.

    (27) Vì ăn vì mặc
    vì ham nữ sắc,
    vì lửa phiền não
    thiêu đốt nung nấu,
    nên thường tạo ra
    bao nhiêu ác nghiệp.

    (28) Với Phật Pháp Tăng
    không biết tôn kính,
    nên đã tạo ra
    ác nghiệp như trên,
    ngày nay con xin
    sám hối tất cả.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 13]

    (29) Độc giác Bồ tát
    cũng không kính trọng,
    nên đã tạo ra
    ác nghiệp như trên,
    ngày nay con xin
    sám hối tất cả.

    (30) Phỉ báng Phật pháp
    bất hiếu cha mẹ,
    nên đã tạo ra
    ác nghiệp như trên,
    ngày nay con xin
    sám hối tất cả.

    (31) Ngu muội kiêu căng
    tham lam giận dữ
    nên đã tạo ra
    ác nghiệp như trên,
    ngày nay con xin
    sám hối tất cả.

    (32) Trong mọi thế giới
    hiến cúng vô lượng
    chư vị Thế tôn,
    con nguyện cứu vớt
    cho bao chúng sinh
    thoát ly khổ nạn.

    (33) Nguyện cầu chúng sinh
    đứng trong mười địa,
    tròn đầy phước trí
    thành Phật đà rồi
    hướng dẫn bao kẻ
    mê mờ ngu muội.

    (34) Con vì chúng sinh
    tu hành khổ hạnh
    trăm ngàn đời kiếp,
    đem đại trí lực
    mà làm cho họ
    vượt qua biển khổ.

    (35) Con vì chúng sinh
    diễn giảng kinh pháp
    Ánh sáng hoàng kim,
    bản kinh tối thượng
    năng lực trừ được
    bao thứ ác nghiệp.

    (36) Những ai trải qua
    trăm ngàn đời kiếp
    tạo ra bao tội
    cực kỳ nặng nề,
    mà biết phát lộ
    thì cũng tiêu trừ.

    (37) Y theo kinh pháp
    Ánh sáng hoàng kim,
    sám hối như trên,
    thì mau tận diệt
    bao nhiêu ác nghiệp
    đã gây đau khổ.

    (38) Cả trăm cả ngàn
    thiền định siêu việt,
    cùng với tổng trì
    bất khả tư nghị,
    năm căn năm lực
    bảy chi tuệ giác
    tám chi thánh đạo
    ba mươi bảy pháp,
    con nguyện thường xuyên
    tu tập không mỏi.

    (39) Và con sẽ đến
    mười bồ tát địa,
    nơi đầy đủ cả
    mọi thứ quí báu,
    viên mãn tất cả
    phẩm chất Phật đà,
    cứu vớt chúng sinh
    vượt dòng sinh tử.

    (40) Đối với biển cả
    quả vị Phật đà,
    và với kho tàng
    công đức sâu xa,
    tuệ giác mầu nhiệm
    bất khả tư nghị,
    con nguyện thành tựu
    một cách đầy đủ.

    (41) Nguyện cầu mười phương
    chư vị Thế tôn
    hộ niệm cho con,
    đem tâm đại bi
    thương tưởng chấp nhận
    cho con sám hối.

    (42) Trong bao đời kiếp
    con tạo ác nghiệp,
    do ác nghiệp ấy
    mà sinh đau khổ,
    nguyện Phật thương tưởng
    cho con trừ diệt.

    (43) Con gây ác nghiệp
    nên thường lo sợ,
    trong mọi cử động
    đi đứng nằm ngồi,
    chưa hề có được
    một chút vui vẻ.

    (44) Thế tôn đại từ
    trừ cho chúng sinh
    bao nỗi sợ hãi,
    nguyện xin chấp nhận
    cho con sám hối
    thoát ly lo sợ.

    (45) Con có đủ cả
    hoặc chướng nghiệp hướng
    cùng với báo chướng,
    nguyện xin Thế tôn,
    đem nước đại bi
    rửa cho sạch sẽ.

    (46) Ác nghiệp quá khứ
    ác nghiệp hiện tại
    mà con tạo ra,
    con xin chí thành
    phát lộ tất cả
    nguyện tiêu diệt hết.

    (47) Và bao ác nghiệp
    trong thì vị lai,
    con xin giữ gìn
    không cho nổi dậy,
    giả sử vi phạm
    lời thệ nguyện này
    thì không bao giờ
    con dám che giấu.

    (48) Thân có ba nghiệp
    miệng có bốn nghiệp,
    ý có ba nghiệp
    trói buộc chúng sinh
    vô thỉ đến nay
    thường xuyên liên tục.

    (49) Do thân miệng ý
    mà tạo thập ác,
    tội ác như vậy
    rất nhiều sắc thái,
    ngày nay con xin
    sám hối tất cả.

    (50) Ác nghiệp con làm
    sẽ phải tự chịu
    ác báo đau khổ
    [nếu không sám hối] ;
    ngày nay đối trước
    chư vị Thế tôn
    con xin chí thành
    sám hối tất cả.

    (51) Đại lục Thiệm bộ
    và bao thế giới
    trong đó được có
    bao nhiêu thiện nghiệp,
    ngày nay con xin
    tùy hỷ tất cả.

    (50) Nguyện bỏ thập ác
    nguyện tu thập thiện
    an trú mười địa
    thường thấy Thế tôn.

    (53) Bao nhiêu những nghiệp
    phước đức trí tuệ
    mà thân miệng ý
    của con tu được,
    con xin vận dụng
    thiện nghiệp như vậy
    mau chóng đạt đến
    tuệ giác tối thượng.

    (54) Nay con đích thân
    đối trước Thế tôn
    chân thành phát lộ
    lắm cái ác nạn  :
    cái nạn ngu muội
    si mê ba cõi,
    cái nạn thường làm
    ác nghiệp cực nặng,

    (55) cái nạn tập hợp
    dục vọng, tà kiến,
    cái nạn tham ái
    thường xuyên chảy dài,
    cái nạn đam mê
    thế giới hiện hữu,
    cái nạn toàn là
    phiền não phàm phu,

    (56) cái nạn cuồng phóng
    náo động thác loạn,
    cái nạn thân gần
    bạn bè bất lương,
    cái nạn tham nhiễm
    trong chốn sinh tử,
    cái nạn sân si
    ngu độn làm ác,

    (57) cái nạn sinh nhằm
    tám nơi không rảnh ([32]),
    cái nạn chưa hề
    tập hợp công đức,
    nay con đối trước
    các đấng Tối thắng
    sám hối vô số
    ác nạn như vậy.

    (58) Nay con qui y
    các đấng Thiện thệ,
    kính lạy các đấng
    Biển đức vô thượng ;
    Ngài, núi vàng lớn
    chiếu sáng khắp cả,
    nguyện xin từ bi
    gia hộ cho con.

    (59) Thân Phật rực lên
    ánh sáng hoàng kim,
    mắt Phật tựa như
    lưu ly xanh biếc ;
    là đấng cát tường
    uy đức đặc tôn,
    Ngài đem mặt trời
    của lòng đại bi
    xua tan u ám
    cho bao chúng sinh.

    (60) Phật như mặt trời
    sáng soi khắp cả,
    sáng không vẩn đục,
    sáng sạch bụi dơ  ;
    Phật như mặt trăng
    sáng soi mát mẻ,
    sáng tan nhiệt lực
    của bao phiền não.

    (61) Ba hai tướng tốt
    châu thân uy nghiêm,
    tám mươi tướng phụ
    toàn hảo cả người,
    phước đức tuyệt bậc
    khó nghĩ khó bàn,
    như vầng thái dương
    chiếu soi thế giới.

    (62) Sắc thân tựa như
    lưu ly trong suốt
    lại như trăng đầy
    ở giữa không trung.
    Thân vàng như phủ
    mạng lưới pha lê
    rực rỡ bởi những
    ánh sáng đủ màu.

    (63) Trong cái thác nước
    sinh tử khổ não,
    già bịnh lo rầu
    trôi cuốn chúng sinh ;
    biển khổ như vậy
    khó mà chịu nổi,
    mặt trời Phật đà
    chiếu cho khô cạn.

    (64) Con xin lạy đấng
    Trí tuệ toàn giác,
    đấng Hiếm có nhất
    thế giới đại thiên,
    đấng mình vàng tía
    sáng lên rực rỡ,
    đấng trang sức mình
    với bao cái đẹp.

    (65) Ngài như đại dương
    mênh mông khó biết,
    Ngài như đại địa
    bụi nhỏ khó tính,
    Ngài như núi cao
    trọng lượng khó cân,
    Ngài như không gian
    giới hạn khó cùng.

    (66) Phật đức là vậy,
    chúng sinh khó biết ;
    càng nghĩ càng xét
    trong lắm đời kiếp,
    càng không biết nổi
    bờ biển Phật đức.

    (67) Nghiền nát đại địa
    toán biết cực vi,
    toán biết nước giọt
    của cả đại dương
    số lượng Phật đức
    vẫn không biết nổi.

    (68) Tất cả chúng sinh
    cùng nhau ca tụng
    phẩm chất danh tiếng
    tướng hảo thanh tịnh
    uy nghiêm nhiệm mầu
    của đức Thế tôn,
    cũng không khả năng
    hết được giới hạn.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 14]

    (69) Bao nhiêu thiện nghiệp
    mà con có được,
    con nguyện mau chóng
    thành đấng Vô thượng,
    thuyết pháp phong phú
    ích lợi sinh linh,
    làm cho tất cả
    giải thoát khổ đau.

    (70) Chiến thắng ma quân
    có sức mạnh lớn,
    chuyển đẩy bánh xe
    chánh pháp tối thượng,
    ở đời với những
    thì gian khó tính,
    con đem cam lộ
    sung mãn chúng sinh.

    (71) Y như quá khứ
    các đấng Tối thắng
    đã viên mãn cả
    sáu ba la mật,
    hủy diệt tham dục
    sân hận ngu si,
    loại trừ phiền não,
    triệt đoạn khổ lụy.

    (72) Con nguyện thường được
    trí biết đời trước
    nhớ được quá khứ
    cả trăm ngàn đời,
    nhất là thường nhớ
    đấng Đại mâu ni,
    được nghe diệu pháp
    rất sâu của Ngài.

    (73) Nguyện con biết đem
    thiển căn như vậy
    phụng sự vô biên
    các đấng Tối thắng,
    viễn ly hết thảy
    nghiệp nhân bất thiện,
    thường được tu hành
    Pháp mầu chân thật.

    (74) Làm cho chúng sinh
    trong mọi thế giới
    khổ não thoát ly
    yên vui thật hiện,
    bao kẻ giác quan
    không được toàn hảo
    thì làm cho được
    cơ thể đầy đủ.

    (75) Những ai gặp phải
    khổ vì bịnh tật,
    thân hình ốm yếu
    không nơi nương tựa,
    thì con làm cho
    hết cả bịnh khổ,
    sức khỏe tướng tốt
    cùng được đủ cả.

    (76) Những ai phạm pháp
    sắp bị hành hình,
    khổ sở hành hạ
    lo sợ dày vò  ;
    khi họ đau khổ
    cực độ như vậy,
    không biết nhờ ai
    thì con cứu giúp.

    (77) Ai bị đánh khảo
    gông cùm xiềng xích,
    đủ loại hình cụ
    hành hạ thân thể,
    trong khi vô số
    những nỗi lo sợ
    dày vò tâm trí
    không chút yên vui  ;

    (78) thì con làm cho
    thoát được giam cầm
    mà bao hình cụ
    đã làm khổ họ,
    sắp bị hành hình
    thì toàn tính mạng,
    bao khổ sở khác
    cũng hết vĩnh viễn.

    (79) Có những chúng sinh
    đói khát hoành hành,
    thì con làm cho
    hưởng đủ mỹ vị,
    làm mù được thấy
    làm điếc được nghe
    làm què được đi
    làm ngọng được nói.

    (80) Những kẻ nghèo nàn
    thì được kho báu,
    kho lẫm dẫy đầy
    không thiếu thốn chi.
    Con làm tất cả
    hưởng vui thượng thặng,
    không còn một ai
    chịu lấy đau khổ.

    (81) Người nào cũng được
    mọi người thích nhìn,
    dung nghi phong nhã
    mà lại nghiêm chỉnh,
    ai nấy cùng được
    hiện tại yên vui,
    đời sống phong phú
    phước đức đủ cả.

    (82) Tùy ý chúng sinh
    nghĩ đến âm nhạc,
    âm nhạc tuyệt hảo
    tức thì tấu lên  ;
    và nghĩ đến nước
    nước mát đầy hồ,
    sen màu hoàng kim
    nổi trên nước ấy.

    (83) Tùy ý chúng sinh
    nghĩ đến vật dụng,
    vật dụng đủ cả
    cơm áo ghế giường,
    đủ vàng đủ ngọc,
    đủ ngọc lưu ly,
    chuỗi ngọc vòng xuyến
    có đủ hết thảy.

    (84) Lại làm chúng sinh
    không nghe tiếng dữ,
    cũng không nhìn thấy
    những gì trái ý ;
    dung mạo có được
    toàn là đoan trang,
    và hướng về nhau
    toàn bằng lòng từ.

    (85) Lạc cụ để sống
    nghĩ là có đủ,
    vàng ngọc có được
    không hề tiếc nuối,
    phân cho tất cả
    những ai cần thiết.

    (86) Các loại hương liệu
    và các loại hoa
    từ cây rơi xuống
    mỗi ngày ba lần,
    tùy ý hưởng dụng
    lòng tràn hoan hỷ.

    (87) Con nguyện chúng sinh
    đều biết hiến cúng
    các đấng Tối thắng
    thế giới mười phương,
    hiến cúng Diệu pháp
    hoàn bị cả ba
    cỗ xe sáng sủa,
    hiến cúng Thánh chúng
    đủ cả Bồ tát
    Độc giác Thanh văn.

    (88) Con nguyện chúng sinh
    đừng ai ở vào
    những nơi hèn hạ
    những chỗ tám nạn,
    thường sinh làm người
    có thể tu hành,
    thường được phụng sự
    chư vị Thế tôn.

    (89) Con nguyện chúng sinh
    sinh nhà sang giàu
    tài sản bảo vật
    đầy kho đầy lẫm,
    tướng mạo, danh tiếng
    không ai sánh bằng,
    thọ lượng trải qua
    nhiều kiếp lâu dài.

    (90) Con nguyện chúng sinh
    nữ biến thành nam
    thông minh khỏe mạnh
    đa trí đa năng,
    và ai cũng đi
    đường đi bồ tát
    là siêng mà tu
    sáu ba la mật.

    (91) Con nguyện chúng sinh
    thường thấy chư Phật
    an tọa bảo tòa
    dưới những cây ngọc —
    bảo tòa sư tử
    bằng chất lưu ly,
    thường được thân nghe
    Phật chuyển pháp luân.

    (92) Quá khứ hiện tại
    nếu con luân hồi
    ở trong ba cõi
    tạo các ác nghiệp
    khả năng rước lấy
    ác báo đáng ghét,
    thì nguyện diệt sạch
    không còn thừa sót.

    (93) Ở trong biển có ([33])
    bao nhiêu chúng sinh
    bị buộc thắt chặt
    trong lưới sinh tử,
    con nguyện vì họ
    cắt đứt lưới ấy
    bằng kiếm trí tuệ,
    làm cho mau chóng
    thoát khỏi sinh tử
    chứng đắc tuệ giác.

    (94) Đại lục Thiệm bộ
    hay thế giới khác,
    chúng sinh trong đó
    tạo bao thắng phước,
    nay con nguyện xin
    tùy hỷ tất cả.

    (95) Con nguyện vận dụng
    sự tùy hỷ này,
    và bao thiện hạnh
    của thân miệng ý,
    làm cho thắng nghiệp
    thường xuyên lớn lên,
    thực hiện mau chóng
    tuệ giác vĩ đại.

    (96) Bao nhiêu thắng phước
    lễ bái tán dương
    công đức chư Phật,
    với tâm sâu xa
    cực kỳ trong sáng
    không chút gợn bẩn,
    con đem hồi hướng,
    lại đem phát nguyện,
    thì sáu mươi kiếp
    vượt nẻo đường dữ.

    (97) Nếu có thiện nam
    hay thiện nữ nào,
    hoặc các vọng tộc
    như Bà la môn,
    chắp tay dốc lòng
    tán dương chư Phật,
    thì sinh ở đâu
    cũng nhớ đời trước,

    (98) giác quan toàn hảo
    cơ thể toàn mỹ
    và hoàn thành hết
    công đức siêu việt,
    thì trong vị lai
    sinh ra ở đâu
    chư thiên nhân loại
    cũng thường chiêm ngưỡng.

    (99) Người ấy không phải
    ở nơi một đức
    mười đức Phật đà
    tu tập thiện căn
    mà nay nghe được
    pháp sám hối này,
    mà phải ở nơi
    trăm ngàn Phật đà
    gieo trồng thiện căn,
    mới được nghe đến
    pháp mầu sám hối
    như thế này đây.

    Bấy giờ đức Thế tôn nghe những lời chỉnh cú ấy thì tán dương bồ tát Diệu tràng, rằng lành thay thiện nam tử, âm thanh xuất từ trống vàng mà ông mộng thấy, đã tán dương công đức Phật đà và diệu pháp sám hối. Ai nghe âm thanh như vậy cũng được rất nhiều phước đức. Âm thanh ấy lợi ích rộng lớn cho bao chúng sinh, loại trừ nghiệp chướng cho họ. Ông nên biết sự thể siêu việt này nguyên nhân là do tập quán quá khứ ông đã quen tán dương chư Phật và sám hối phát nguyện, lại do uy lực chư Phật da trì cho ông. Nguyên nhân ấy, rồi đây vì ông mà Như lai sẽ nói đến ([34]).

    Lúc ấy, cả đại hội nghe pháp thoại này, ai cũng hoan hỷ, tin chịu, phụng hành.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 15]

    Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim – cuốn 3

    Phẩm 5 – Diệt Trừ Nghiệp Chướng

    Vào lúc bấy giờ, đức Thế tôn ở nơi sự phân biệt chính xác, vào trong sự thiền định sâu xa, từ những lỗ chân lông của Ngài phóng ánh sáng lớn đầy những màu sắc. Thế giới chư Phật hiện cả trong ánh sáng ấy, nhiều đến bao nhiêu sự tính toán so sánh đều không có khả năng diễn đạt. Cái thế giới đang ở trong thời kỳ đầy cả năm sự vẩn đục này cũng được ánh sáng ấy chiếu đến. Chúng sinh trong đó, những kẻ làm mười ác nghiệp, năm tội vô gián, phỉ báng Tam bảo, bất hiếu cha mẹ, khinh dể sư trưởng và bà la môn, đáng lẽ phải sa vào địa ngục ngạ quỉ bàng sinh ; những kẻ ấy nhờ ơn ánh sáng của đức Thế tôn chiếu đến chỗ họ ở. Họ thấy ánh sáng ấy rồi thì, nhờ sức mạnh của ánh sáng ấy, họ được hoan hỷ, sắc tướng toàn hảo, phước trí trang nghiêm, thấy được chư Phật. Bấy giờ Đế thích, các chúng chư thiên, nữ thần sông Hằng, cùng các chúng khác, nhờ ánh sáng của đức Thế tôn chiếu đến một cách hiếm có, nên cùng đến chỗ Ngài, đi quanh Ngài ba vòng, rồi lùi lại, mỗi chúng ngồi một phía. Lúc này Đế thích, vâng theo uy thần của đức Thế tôn, đứng dậy khỏi chỗ mình ngồi, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay hướng về đức Thế tôn mà thưa, rằng bạch đức Thế tôn, thiện nam hay thiện nữ làm sao nguyện cầu vô thượng bồ đề, tu hành đại thừa, nhiếp hóa những kẻ tà kiến thác loạn  ? Những kẻ đã tạo nghiệp chướng thì làm sao sám hối để trừ diệt cho được  ?

    Đức Thế tôn dạy Đế thích, rằng lành thay thiện nam tử, ông hỏi như vậy chính là tu hành, muốn làm cho vô lượng chúng sinh thanh tịnh giải thoát. Ông thương xót thế giới, ích lợi hết thảy. Thiện nam tử, những người đã vì nghiệp chướng mà gây tội lỗi, thì phải thúc dục lấy mình, ngày đêm sáu buổi, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính, nhất cái tâm, chuyên cái niệm, miệng tự nói rằng, con xin qui mạng kính lạy chư vị Thế tôn hiện tại mười phương, những đấng đã chứng đắc vô thượng bồ đề, chuyển đẩy bánh xe chánh pháp nhiệm mầu, bánh xe chánh pháp chói sáng, mưa nước Pháp vĩ đại, gióng trống Pháp vĩ đại, thổi loa Pháp vĩ đại, dựng cờ Pháp vĩ đại, cầm đuốc Pháp vĩ đại, vì lợi ích yên vui cho chúng sinh mà thường thực thi pháp thí, dạy dỗ cho những kẻ mê mờ bước tới, làm cho họ được quả báo vĩ đại, thường lạc. Chư vị Thế tôn như vậy, con xin đem cả thân miệng ý mà cúi đầu qui mạng kính lạy. Chư vị Thế tôn như vậy đem tuệ giác chân thật, con mắt chân thật, sự chứng minh chân thật, sự bình đẳng chân thật, mà biết hết thấy hết thiện nghiệp ác nghiệp của chúng sinh. Từ vô thỉ đến giờ, con xuôi theo dòng nước tội ác mà cùng chúng sinh tạo ra nghiệp chướng, bị tham sân si buộc chặt. Khi chưa biết Phật, khi chưa biết Pháp, khi chưa biết Tăng, khi chưa biết thiện ác, thì con do thân miệng ý mà làm năm tội vô gián, là ác tâm làm chảy máu thân Phật, phỉ báng Phật pháp, phá Tăng hòa hợp, hại A la hán, hại cha hại mẹ ; con do thân ba miệng bốn ý ba mà làm mười ác nghiệp, bằng cách tự làm, bảo người làm, thấy người làm mà mừng theo ; đối với người hiền, con phỉ báng ngang ngược, dụng cụ cân lường thì dối trá, cho tà là chánh, đem ẩm thực phẩm xấu mà cho người ; đối với cha mẹ nhiều đời ở trong sáu đường thì con tàn hại ; đối với tài vật của Tháp, của Tăng bốn phương, của Tăng hiện diện, con trộm cướp, tự do sử dụng ; đối với giới pháp và giáo pháp của đức Thế tôn, con không thích tuân thủ phụng hành, sư trưởng huấn dụ cũng không thuận theo, thấy ai đi theo cỗ xe Thanh văn, cỗ xe Độc giác, cỗ xe vĩ đại, thì con nhục mạ, quấy phá  ; thấy ai hơn mình, con liền ganh ghét, pháp thí tài thí con tiếc lẫn cả, con để vô minh ngăn che, tà kiến mê hoặc, con không tu nhân lành mà lại tăng thêm nhân ác ; con phỉ báng đến cả chư vị Thế tôn, pháp thì con nói là phi pháp, phi pháp thì con nói là pháp. Bao nhiêu tội lỗi như vậy, chư vị Thế tôn đem tuệ giác chân thật, con mắt chân thật, sự chứng minh chân thật, sự bình đẳng chân thật, mà biết hết, thấy hết, nên ngày nay con xin qui mạng kính lạy. Đối trước chư vị Thế tôn, con không dám che giấu. Tội chưa làm thì con không dám làm, tội đã làm thì con xin sám hối. Những nghiệp chướng đáng sa vào sáu đường tám nạn mà con đã làm, những nghiệp chướng mà hiện con đang làm, con nguyện được tiêu diệt cả. Những báo chướng của những nghiệp chướng ấy, con nguyện vị lai khỏi phải lãnh chịu. Tựa như các vị đại bồ tát quá khứ tu hành bồ đề hạnh thì bao nhiêu nghiệp chướng đều đã sám hối, nghiệp chướng của con cũng vậy, ngày nay con xin sám hối cả. Con phát lộ hết, không dám che giấu. Tội đã làm, con nguyện được tiêu diệt, tội chưa làm, con nguyện không dám làm nữa. Tựa như các vị đại bồ tát vị lai tu hành bồ đề hạnh thì bao nhiêu nghiệp chướng đều sám hối cả, nghiệp chướng của con cũng vậy, ngày nay con xin sám hối cả. Con phát lộ hết, không dám che giấu. Tội đã làm, con nguyện được tiêu diệt cả, tội chưa làm, con nguyện không dám làm nữa. Tựa như các vị đại bồ tát hiện tại tu hành bồ đề hạnh thì bao nhiêu nghiệp chướng đều đã sám hối, nghiệp chướng của con cũng vậy, ngày nay con xin sám hối cả. Con phát lộ hết, không dám che giấu. Tội đã làm, con nguyện được tiêu diệt cả, tội chưa làm, con nguyện không dám làm nữa.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 16]

    Thiện nam tử, vì [như cách nói đã chỉ] trên đây, nên có lỗi thì trong một sát na đã không được che giấu, huống chi một ngày một đêm cho đến hơn nữa. Ai phạm tội mà muốn được trong sạch thì phải biết xấu hổ, tin chắc vị lai phải có ác báo, rất e sợ mà sám hối. Như bị lửa cháy tóc cháy áo thì phải lập tức dập tắt, lửa chưa tắt thì không thư tâm được ; người phạm tội cũng vậy, phải sám hối cho hết liền đi. Muốn sinh nhà giàu vui, nhiều tiền lắm của, hay hơn nữa muốn phát tâm tu tập đại thừa, thì cũng phải sám hối mà diệt trừ nghiệp chướng. Muốn sinh vào nhà hào quí của các giai cấp bà la môn hay sát đế lợi, vào nhà luân vương đủ cả bảy người vật quí báu, thì cũng phải sám hối mà diệt trừ nghiệp chướng. Thiện nam tử, muốn sinh Tứ thiên vương thiên, Tam thập tam thiên, Dạ ma thiên, Đỗ sử đa thiên, Lạc biến hóa thiên, Tha hóa tự tại thiên, thì cũng phải sám hối mà diệt trừ nghiệp chướng. Muốn sinh Phạn chúng thiên, Phạn phụ thiên, Đại phạn thiên ; Thiểu quang thiên, Vô lượng quang thiên, Cực tịnh quang thiên ; Thiểu tịnh thiên, Vô lượng tịnh thiên, Biến tịnh thiên ; Vô vân thiên, Phước sinh thiên, Quảng quả thiên ; Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, Thiện hiện thiên, Thiện kiến thiên, Sắc cứu cánh thiên, thì cũng phải sám hối mà trừ diệt nghiệp chướng. Thiện nam tử, muốn cầu Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất hoàn quả, A la hán quả, thì cũng phải sám hối mà diệt trừ nghiệp chướng. Muốn cầu ba minh, sáu thông, Thanh văn bồ đề, Độc giác bồ đề, Tự tại bồ đề, cho đến Cứu cánh địa ; muốn cầu Nhất thế trí trí, Tịnh trí, Bất tư nghị trí, Bất động trí, Chánh biến trí, thì cũng phải sám hối mà diệt trừ nghiệp chướng. Tại ([35]) sao như vậy  ? Vì, thiện nam tử, tất cả các pháp sinh từ yếu tố tương quan ([36]) ; Như lai đã nói sự thể này sinh thì sự thể khác diệt, vì yếu tố khác biệt với nhau, [nên sám hối sinh thì nghiệp chướng diệt]. Do vậy, ác pháp đã có thì diệt trừ [vì sự sám hối], nên nghiệp chướng không còn sót lại ; thiện pháp chưa sinh thì phát sinh [vì sự sám hối], nên nghiệp chướng không thể sinh nữa. Lý do là vì, thiện nam tử, tất cả các pháp toàn là Không ; Như lai đã nói không ngã nhân chúng sinh thọ giả, không sinh không diệt, không cả hành pháp [sám hối]. Thiện nam tử, tất cả các pháp toàn dựa vào căn bản [chân như], nên cũng không thể diễn tả — vì [căn bản chân như] thì siêu việt tất cả trạng thái [sinh diệt]. Thiện nam hay thiện nữ nào hội nhập diệu lý như vậy mà kính tin, thì thế là không chúng sinh mà có căn bản — Chính vì ý nghĩa này mà nói đến sự sám hối, diệt trừ nghiệp chướng ([37]).

    Thiện nam tử, người nào thành tựu bốn pháp này thì trừ diệt nghiệp chướng mà vĩnh viễn thanh tịnh. Một là không nổi tà tâm mà thành tựu chánh niệm. Hai là không phỉ báng diệu lý sâu xa. Ba là đối với các vị bồ tát mới tu cũng nổi dậy Nhất thế trí tâm ([38]). Bốn là đối với chúng sinh thì nổi dậy Tứ vô lượng tâm. Đó là bốn pháp. Đức Thế tôn nói lời chỉnh cú sau đây.

    Chuyên tâm giữ ba nghiệp
    không phỉ báng diệu pháp,
    nghĩ là Nhất thế trí ([39]),
    từ tâm : sạch nghiệp chướng.

    Thiện nam tử, có bốn nghiệp chướng khó thể diệt trừ. Một là phạm tội rất nặng của bồ tát giới. Hai là phỉ báng đại thừa. Ba là không tăng trưởng được thiện căn của mình. Bốn là tham vướng mà không có ý thoát ly ba cõi. Lại có bốn pháp đối trị được nghiệp chướng. Một là dốc lòng thân gần chư vị Như lai, phát lộ mọi sự tội lỗi. Hai là khuyến thỉnh chư vị Như lai nói diệu pháp sâu xa cho chúng sinh. Ba là tùy hỷ bao nhiêu công đức mà chúng sinh có. Bốn là hồi hướng bao nhiêu thiện căn mình có về nơi vô thượng bồ đề.

    Đế thích lại thưa, bạch đức Thế tôn, thế giới có bao nhiêu là nam tử nữ nhân, đối với pháp hạnh đại thừa, có kẻ làm được, có kẻ không làm, vậy làm sao tùy hỷ được công đức của hết thảy chúng sinh  ? Đức Thế tôn dạy, thiện nam tử, có người tuy chưa thể tu tập đại thừa, nhưng ngày đêm sáu thời, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chuyên tâm chú ý mà làm sự tùy hỷ thì được phước vô lượng– bằng cách tác bạch như vầy, mười phương thế giới, bao nhiêu chúng sinh hiện tại tu hành bố thí, trì giới, thiền định, trí tuệ, con nay tùy hỷ tất cả một cách sâu xa. Làm cái phước tùy hỷ như vậy thì quyết định đạt được kết quả cao trọng, siêu việt, không gì ở trên, không thể sánh bằng, cùng cực mầu nhiệm. Cũng một cung cách như vậy mà tùy hỷ tất cả đối với công đức của hết thảy chúng sinh quá khứ và vị lai. Lại nữa, hiện tại các vị bồ tát mới tu, phát bồ đề tâm có bao nhiêu công đức ; các vị bồ tát đã trải qua trăm kiếp tu hành bồ tát hạnh có bao nhiêu công đức to lớn ; các vị bồ tát được vô sinh pháp nhẫn, được bất thoái chuyển, được nhất sinh bổ xứ, tất cả những khối công đức như vậy, con xin dốc lòng tùy hỷ tán thán tất cả. Quá khứ và vị lai, tất cả bồ tát có bao nhiêu công đức, con cũng xin tùy hỷ tán thán như vậy. Lại nữa, hiện tại mười phương thế giới, tất cả chư vị Phật đà, Ứng cúng, Chánh biến tri, chứng được tuệ giác bồ đề vi diệu, vì độ thoát vô biên chúng sinh mà chuyển đẩy pháp luân vô thượng, thi hành pháp thí vô ngại, đánh trống pháp, thổi loa pháp, dựng cờ pháp, mưa nước pháp, thương xót khuyến hóa tất cả chúng sinh, làm cho ai cũng tin chịu, nhờ ơn pháp thí, sung túc mọi nỗi an lạc vô tận ; các vị Bồ tát, Thanh văn, Độc giác tập hợp công đức, chúng sinh chưa có công đức ấy thì làm cho có cả — [tất cả công đức của chư vị Phật đà và chư vị Thánh giả hiện tại như vậy], con xin tùy hỷ hết thảy. Quá khứ và vị lai, chư vị Phật đà và chư vị Thánh giả, có bao nhiêu công đức, con cũng hết lòng tùy hỷ tán thán như vậy. Thiện nam tử, tùy hỷ như vậy thì sẽ được cái khối công đức vô lượng. Hằng sa đại thiên thế giới, chúng sinh trong đó đều dứt phiền não, đều thành La hán ; nếu có thiện nam hay thiện nữ nào suốt đời hiến cúng y phục, ẩm thực, ngọa cụ, dược phẩm, toàn loại thượng hạng, thì công đức ấy vẫn không bằng một phần ngàn của công đức tùy hỷ như trên, vì sao, vì công đức hiến cúng có số có lượng, không bao gồm mọi công đức, còn công đức tùy hỷ thì vô số vô lượng, bao gồm tất cả công đức quá khứ hiện tại vị lai. Ấy vậy, ai muốn tăng thêm công đức siêu việt thì phải tu cái công đức tùy hỷ như thế. Nữ nhân nào ước nguyện chuyển nữ thân thành nam tử, thì cũng phải tu tập công đức tùy hỷ, cái nguyện chuyển thành nam tử tất được tùy tâm.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 17]

    Bấy giờ Đế thích lại thưa, bạch đức Thế tôn, công đức tùy hỷ con đã được biết, còn công đức khuyến thỉnh thì con thỉnh cầu đức Thế tôn dạy cho, để cho vị lai các vị bồ tát sẽ chuyển đẩy pháp luân, các vị bồ tát hiện tại thì chính xác tu hành. Đức Thế tôn dạy, Đế thích, thiện nam hay thiện nữ nào nguyện cầu vô thượng bồ đề thì phải tu hành đạo hạnh của thanh văn độc giác và đại thừa, ngày đêm sáu thời cử động như trên đã nói, chuyên tâm chú ý mà tác bạch như vầy, con xin qui y kính lạy mười phương chư vị Thế tôn ; các Ngài đã thành tựu vô thượng bồ đề mà chưa chuyển đẩy bánh xe chánh pháp vô thượng, muốn xả bỏ sinh thân mà nhập niết bàn, thì con xin chí thành đảnh lễ, khuyến thỉnh các Ngài lăn xe pháp lớn, mưa nước pháp lớn, đốt đèn pháp lớn, soi sáng ý hướng của Pháp mà thực thi pháp thí vô ngại, đừng nhập niết bàn mà ở đời cho lâu, độ thoát an lạc tất cả chúng sinh, cho đến sung túc mọi nỗi an lạc vô tận như trên đã nói. Con lại đem công đức khuyến thỉnh này hồi hướng vô thượng bồ đề ; như quá khứ vị lai hiện tại các vị đại bồ tát đã đem công đức khuyến thỉnh hồi hướng vô thượng bồ đề, thì con cũng làm như vậy, đem công đức khuyến thỉnh mà hồi hướng vô thượng bồ đề. Thiện nam tử, giả sử có ai đem bảy chất liệu quí báu đầy cả đại thiên thế giới mà hiến cúng chư vị Như lai, và người khác, khuyến thỉnh chư vị Như lai chuyển đẩy bánh xe chánh pháp vĩ đại, thì công đức của người này phước hơn người trên. Vì sao, vì người trên là tài thí, người này là pháp thí. Thiện nam tử, hãy gác lại sự bố thí bảy chất liệu quí báu đầy cả đại thiên thế giới, mà nói nếu ai đem bảy chất liệu quí báu đầy cả hằng sa đại thiên thế giới, hiến cúng tất cả chư vị Như lai, thì công đức khuyến thỉnh vẫn hơn công đức hiến cúng ấy. Lý do là vì pháp thí thì có năm sự lợi ích siêu việt. Một là pháp thí lợi cả mình người, tài thí không được như vậy. Hai là pháp thí làm cho chúng sinh siêu thoát ba cõi, cái phước tài thí không siêu thoát ba cõi. Ba là pháp thí làm trong sáng pháp thân, tài thí chỉ tăng thêm sắc tướng. Bốn là pháp thí thì vô cùng, tài thí thì hữu tận. Năm là pháp thí đoạn trừ vô minh, tài thí chỉ tạm dẹp tham ái. Do vậy, thiện nam tử, công đức khuyến thỉnh thì vô lượng vô biên, khó có gì có thể đối chiếu. Như chính Như lai xưa kia, khi đi theo đường đi bồ tát, Như lai đã khuyến thỉnh chư vị Như lai chuyển đẩy bánh xe chánh pháp vĩ đại, do công đức này mà ngày nay tất cả Phạn vương Đế thích đã khuyến thỉnh Như lai chuyển đẩy bánh xe chánh pháp vĩ đại. Thiện nam tử, khuyến thỉnh chuyển đẩy bánh xe chánh pháp là muốn độ thoát an lạc cho chúng sinh. Như lai xưa kia, khi tu bồ đề hạnh, đã khuyến thỉnh chư vị Như lai ở đời lâu dài, đừng nhập niết bàn ; do công đức này mà nay Như lai đạt được mười lực, bốn vô úy, bốn vô ngại biện, đại từ đại bi, thực hiện vô số phẩm chất bất cọng, nên dẫu Như lai nhập niết bàn đi nữa, chánh pháp của Như lai vẫn tồn tại lâu dài. Còn pháp thân của Như lai thì trong sáng tuyệt đối, tướng tốt đủ dạng, trí tuệ vô lượng, tự tại vô lượng, công đức vô lượng, khó thể tư duy, khó thể thảo luận, các loại chúng sinh đều nhờ lợi ích, trăm ngàn vạn kiếp nói cũng không cùng. Pháp thân bao quát các pháp, các pháp không thể bao quát pháp thân. Pháp thân thường trú mà không sa vào quan điểm thường, pháp thân đoạn diệt mà không sa vào quan điểm đoạn. Pháp thân phá được cho chúng sinh đủ loại quan điểm đối nghịch, sinh được cho chúng sinh đủ loại quan điểm chính xác. Pháp thân cởi mở được cho chúng sinh mọi thứ ràng buộc, mặc dầu không thật có mọi thứ ràng buộc được cởi mở. Pháp thân gieo trồng cho chúng sinh những gốc rễ công đức, ai chưa thành thục thì làm cho thành thục, ai đã thành thục thì làm cho giải thoát. Pháp thân bất tác bất động, rời xa ồn náo, vắng lặng vô vi, tự tại an lạc, siêu việt thì gian mà vẫn thị hiện theo thì gian. Pháp thân siêu việt lĩnh vực Thanh văn Độc giác, làm đối tượng tu hành của các vị đại bồ tát. Pháp thân thì chư vị Như lai không có khác biệt thể tánh. Tất cả phẩm chất trên đây toàn là do sức mạnh của công đức khuyến thỉnh mà có. Pháp thân như vậy Như lai đã chứng đắc. Thế nên ai muốn đạt được vô thượng bồ đề, thì đối với một câu một kệ trong kinh cũng nói cho người, và công đức đã vô hạn, huống chi khuyến thỉnh Như lai chuyển đẩy bánh xe chánh pháp vĩ đại, ở lâu trong đời chứ đừng nhập niết bàn.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 18]

    Bấy giờ Đế thích lại thưa, bạch đức Thế tôn, thiện nam thiện nữ vì cầu vô thượng bồ đề mà tu tập đạo hạnh của cả tam thừa, thì công đức họ có được làm sao hồi hướng về trí Nhất thế trí  ? Phật dạy Đế thích, thiện nam tử, ai cầu vô thượng bồ đề, tu tập đạo hạnh tam thừa, có bao công đức mà nguyện hồi hướng, thì ngày đêm sáu thời, thiết tha chí thành, tác bạch như vầy, con từ vô thỉ đến nay, nơi Tam bảo con tu hành được bao công đức, cho đến cho loài bàng sinh một chút thực phẩm, hoặc khéo lời hòa giải tranh chấp, hoặc lãnh thọ ba pháp qui y và các giới pháp, hoặc sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỷ, tất cả công đức trên đây, nay con tác ý, thu góp lại hết, xoay về hiến cho hết thảy chúng sinh, không có tâm lý tiếc lẫn, và đó là công đức thống thuộc phần giải thoát. Như chư vị Thế tôn thấy biết thì không thể cân lường, trong sáng vô ngại, có bao nhiêu công đức đều đem xoay lại hiến cho tất cả chúng sinh, không trú tướng cũng không xả tướng ([40]), thì con cũng làm như vậy, đem công đức mà hồi hướng hiến cho chúng sinh, nguyện cho chúng sinh được cái tay như ý, chỉ trong không gian cũng xuất ra vàng ngọc, thỏa nguyện của họ, giàu vui vô tận, trí tuệ vô cùng, diệu pháp và biện tài đều không trì trệ, cùng chúng sinh cùng chứng vô thượng bồ đề, được Nhất thế trí. Rồi do công đức này mà xuất sinh ra nữa vô lượng công đức, và cũng hồi hướng vô thượng bồ đề. Lại như quá khứ các vị đại bồ tát tu hành công đức thì xoay lại cả mà hồi hướng Nhất thế chủng trí, các vị bồ tát hiện tại vị lai cũng làm như vậy ; [con nay cũng làm như vậy], bao nhiêu công đức có được, con hồi hướng vô thượng bồ đề, và đem công đức này nguyện cùng chúng sinh cùng thành chánh giác. Y như chư vị Thế tôn khi ngồi dưới bồ đề thọ trong bồ đề tràng, thì thanh tịnh đến bất khả tư nghị và không còn chướng ngại, an trú trong tổng trì vô tận pháp tạng, trong định Thủ lăng nghiêm, phá tan quân đội đông đảo của ma vương Ba tuần, những gì phải thấy biết và phải thông suốt thì, trong một sát na, chư vị Thế tôn đã soi sáng tất cả, và phần sau của đêm ấy các Ngài được pháp cam lộ, chứng nghĩa cam lộ. Thì con và chúng sinh cũng nguyện cùng chứng diệu giác như vậy. Y như chư vị.

    Vô lượng thọ như lai,
    Thắng quang như lai,
    Diệu quang như lai,
    A súc như lai,
    Công đức thiện quang như lai,
    Sư tử quang minh như lai,
    Nhật quang minh như lai,
    Võng quang minh như lai,
    Bảo tướng như lai,
    Bảo diệm như lai,
    Diệm minh như lai,
    Diệm thịnh quang minh như lai,
    Cát tường thượng vương như lai,
    Vi diệu thanh như lai,
    Diệu trang nghiêm như lai,
    Pháp tràng như lai,
    Thượng thắng thân như lai,
    Khả ái sắc thân như lai,
    Quang minh biến chiếu như lai,
    Phạn tịnh vương như lai,
    Thượng tánh như lai.

    Đồng đẳng như vậy, trong quá khứ vị lai và hiện tại, chư vị Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, vì hóa độ chúng sinh mà thị hiện ứng hóa thân, chứng vô thượng bồ đề, chuyển vô thượng pháp luân, nay con cũng nguyện được như vậy, như trước đã nói rõ.

    Thiện nam tử, thiện nam hay thiện nữ có đức tin trong sáng, đối với phẩm Diệt trừ nghiệp chướng này của kinh Ánh sáng hoàng kim mà tiếp nhận, ghi nhớ, nghiên cứu, tụng thuộc, nhớ kỹ không quên, đem nói cho người một cách phong phú, thì được khối công đức vĩ đại, vô lượng vô biên. Ví như bao nhiêu chúng sinh trong đại thiên thế giới một lúc cùng được thân người, được thân người rồi thành Độc giác ; thiện nam thiện nữ nào suốt đời kính trọng, hiến cúng bốn sự, lại hiến cúng mỗi vị Độc giác một khối bảy chất liệu quí báu bằng núi Tu di, các vị Độc giác này nhập diệt thì đối với vị nào cũng đem ngọc quí xây tháp mà hiến cúng, tháp ấy cao rộng đến mười hai du thiện na, hiến cúng thường xuyên bằng hoa hương, bảo cái, tràng phan, thì thiện nam tử, ý ông nghĩ thế nào, người hiến cúng ấy được công đức nhiều không  ? Đế thích thưa, rất nhiều, bạch đức Thế tôn. Thiện nam tử, mặt khác, có ai đối với phẩm Diệt trừ nghiệp chướng này của kinh Ánh sáng hoàng kim, bản kinh nhiệm mầu, vua của các kinh, mà biết tiếp nhận, ghi nhớ, nghiên cứu, tụng thuộc, nhớ kỹ không quên, đem nói cho người một cách phong phú, thì công đức người này có được, công đức hiến cúng của người trước không bằng một phần trăm, một phần ngàn, mười ngàn, trăm ngàn, cho đến toán số ví dụ cũng không thể diễn tả. Tại sao, vì người này đứng trong chánh hạnh, khuyến thỉnh chư vị Như lai chuyển đẩy pháp luân vô thượng và được các Ngài hoan hỷ tán thán. Thiện nam tử, Như lai đã nói rồi, trong mọi sự bố thí, pháp thí hơn hết. Do vậy, thiện nam tử, hiến cúng Tam bảo cũng không thể sánh bằng. Khuyến khích thọ ba qui y, giữ các giới pháp, không có vi phạm, ba nghiệp không trống rỗng, cũng không thể sánh bằng. Mọi chúng sinh trong mọi thế giới, tùy sức lực, tùy khả năng, tùy nguyện ước, mà đối với tam thừa khuyên người phát bồ đề tâm, cũng không thể sánh bằng. Trong mọi thế giới quá khứ hiện tại và vị lai, bao nhiêu chúng sinh đều được vô ngại, mau chóng làm cho thành đạt vô lượng công đức, cũng không thể sánh bằng. Tất cả chúng sinh trong các quốc độ quá khứ hiện tại vị lai đều làm cho không chướng ngại, thực hiện ba tuệ giác bồ đề, cũng không thể sánh bằng. Tất cả chúng sinh trong các quốc độ quá khứ hiện tại vị lai, khuyến khích cho họ mau chóng thoát ly cái khổ bốn nẻo đường dữ, cũng không thể sánh bằng. Tất cả chúng sinh trong các quốc độ quá khứ hiện tại vị lai, khuyến khích cho họ diệt trừ ác nghiệp rất nặng, cũng không thể sánh bằng. Tất cả chúng sinh khổ não, khuyến khích làm cho họ giải thoát cả, cũng không thể sánh bằng. Tất cả chúng sinh sợ hãi, khổ não bức bách, làm cho họ thoát cả, cũng không thể sánh bằng. Trước chư vị Như lai trong quá khứ hiện tại và vị lai, bao chúng sinh có bao công đức, khuyến khích cho họ tùy hỷ, phát bồ đề tâm, cũng không thể sánh bằng. Khuyến khích cho họ trừ khử hành vi độc ác, nhục mạ, mọi công đức đều mong họ thành tựu, và sinh ra ở đâu cũng khuyến khích cho họ hiến cúng, tôn trọng, tán thán tất cả Tam bảo, khuyến khích cho họ tịnh tu công đức, thành tựu bồ đề, cũng không thể sánh bằng. Thế nên phải nhận thức rằng, khuyến thỉnh Tam bảo quá khứ hiện tại vị lai trong mọi thế giới, khuyến thỉnh hoàn bị sáu ba la mật, khuyến thỉnh chuyển đẩy pháp luân vô thượng, khuyến thỉnh ở đời lâu đến vô lượng kiếp, diễn nói vô lượng diệu pháp rất sâu, công đức rất sâu như vậy thì không thể sánh bằng ([41]).

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 19]

    Bấy giờ Đế thích, nữ thần sông Hằng, vô lượng Phạn vương, thiên chúng của bốn Đại thiên vương, cùng từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay đảnh lễ rồi thưa rằng, bạch đức Thế tôn, chúng con được nghe kinh Ánh sáng hoàng kim này, nay xin tiếp nhận, ghi nhớ, nghiên cứu, tụng thuộc, một cách thông suốt, đem nói phong phú cho người, và y theo pháp của kinh ấy mà sống. Tại sao, bạch đức Thế tôn, vì chúng con muốn cầu vô thượng bồ đề, nên tùy thuận những sắc thái siêu việt của nghĩa lý kinh này mà thực hành đúng cách. Phạn vương, Đế thích, những vị đồng đẳng, ngay nơi chỗ đức Thế tôn thuyết pháp mà cùng nhau đem hoa mạn đà la rải trên Ngài. Đại thiên thế giới tức thì đại động. Thiên cổ và thiên nhạc không gióng mà tự kêu. Ánh sáng hoàng kim được phóng ra, trải đầy thế giới, xuất ra âm thanh tuyệt diệu. Đế thích lại thưa, bạch đức Thế tôn, tất cả cảnh tượng trên đây toàn là sức mạnh uy thần của kinh Ánh sáng hoàng kim, từ bi phổ độ, lợi ích đa dạng, đa dạng tăng trưởng công đức bồ tát, diệt trừ nghiệp chướng. Phật dạy Đế thích, đúng như vậy, đúng như ông nói. Tại sao, thiện nam tử, Như lai nhớ xưa kia, lâu hơn vô lượng trăm ngàn vô số kiếp, có đức Như lai danh hiệu là Bảo vương đại quang chiếu, bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp, xuất hiện thế giới, tồn tại sáu trăm tám mươi ức kiếp. Lúc ấy đức Bảo vương đại quang chiếu như lai vì muốn độ thoát nhân loại, chư thiên, Đế thích, Phạn vương, sa môn, bà la môn, và hết thảy chúng sinh, làm cho họ yên vui, nên khi xuất hiện, thuyết pháp đại hội đầu tiên, Ngài hóa độ trăm ngàn vạn ức người đều thành A la hán, sạch hết mọi sự sơ hở, ba minh sáu thông đều tự tại vô ngại ; thuyết pháp đại hội thứ hai, Ngài hóa độ chín mươi ngàn vạn ức người đều thành A la hán, sạch hết mọi sự sơ hở, ba minh sáu thông đều tự tại vô ngại ; thuyết pháp đại hội thứ ba, Ngài hóa độ cho chín mươi tám ngàn vạn ức người, đều thành A la hán, viên mãn những phẩm chất đã nói như trên. Thiện nam tử, bấy giờ Như lai làm thân nữ nhân, tên là Phước bảo quang minh. Trong đại hội thứ ba, được thân gần đức Bảo vương đại quang chiếu như lai, vì cầu vô thượng bồ đề nên tiếp nhận, ghi nhớ, nghiên cứu, tụng thuộc kinh Ánh sáng hoàng kim, nói rộng rãi cho người. Nên bấy giờ đức Bảo vương đại quang chiếu như lai thọ ký cho, rằng thiện nữ Phước bảo quang minh này vị lai sẽ được trở thành Phật đà, danh hiệu là Thích ca mâu ni, bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp, bậc Hoàn hảo sự sáng, bậc Khéo qua niết bàn, bậc Lý giải vũ trụ, bậc Không ai trên nữa, bậc Thuần hóa mọi người, bậc Thầy cả trời người, bậc Tuệ giác hoàn toàn, bậc Tôn cao nhất đời. Thế rồi Như lai xả bỏ nữ thân, và từ đó đến nay vượt qua bốn nẻo đường dữ, sinh trong nhân loại và chư thiên, hưởng thụ sự yên vui thượng diệu, tám mươi bốn trăm ngàn đời làm chuyển luân vương, và ngày nay thành bậc Chánh giác, danh tiếng vang khắp thế giới. Vào lúc bấy giờ cả đại hội đột nhiên ai cũng nhìn thấy đức Bảo vương đại quang chiếu như lai đang chuyển đẩy pháp luân vô thượng, diễn nói chánh pháp nhiệm mầu– [dầu cả đại hội vẫn chưa biết đức Thế tôn mình thấy là ai]. [Đức Thế tôn nói với Đế thích], thiện nam tử, cách thế giới Sách ha này, về hướng đông, qua trăm ngàn hằng sa cõi Phật, thì có thế giới tên là Bảo trang nghiêm, đức Bảo vương đại quang chiếu như lai hiện còn ở đó, chưa nhập niết bàn, nói pháp nhiệm mầu quảng hóa chúng sinh. Đấng mà đại hội các người nhìn thấy, chính là đức Như lai ấy. Thiện nam tử, thiện nam hay thiện nữ nào nghe được danh hiệu của đức Bảo vương đại quang chiếu như lai thì không còn thoái chuyển vị trí bồ tát, đạt đến đại niết bàn. Nữ nhân nào nghe danh hiệu của đức Bảo vương đại quang chiếu như lai, thì khi lâm chung được thấy Ngài đến chỗ mình. Thấy Ngài rồi tuyệt đối không còn làm nữ thân nữa. Thiện nam tử, Ánh sáng hoàng kim, bản kinh nhiệm mầu này lắm cách lợi ích, lắm cách tăng thêm công đức bồ tát, diệt trừ nghiệp chướng.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 20]

    [Ghi chú: phần này và phần trên cùng một đoạn, không xuống hàng]

    Thiện nam tử, bí sô, bí sô ni, ô ba sách ca, ô ba tư ca, những vị này ở chỗ nào giảng nói cho người bản kinh nhiệm mầu Ánh sáng hoàng kim này, thì quốc gia ấy được bốn sự phước lợi. Một là quốc vương vô bịnh, không mọi tai ách. Hai là thọ lượng lâu dài, không bị trở ngại. Ba là không có thù nghịch, quân đội hùng cường. Bốn là yên ổn sung túc, Phật pháp lưu thông. Tại sao được như vậy, vì vị nhân vương này thường được Đế thích, Phạn vương, bốn vị Thiên vương, bộ chúng Dược xoa, cùng nhau hộ vệ. Đức Thế tôn hỏi chúng chư thiên ấy, các thiện nam tử, có đúng như vậy không  ? Đế thích, Phạn vương, bốn vị Thiên vương, bộ chúng Dược xoa, đồng thanh trả lời đức Thế tôn, rằng đúng như vậy, đúng như vậy, bạch đức Thế tôn. Quốc gia nào mà có tuyên giảng hay đọc tụng bản kinh vua của các kinh này, thì quốc vương của quốc gia ấy thường được chúng con hộ vệ, cùng chung đi đứng. Quốc vương ấy nếu có mọi sự tai nạn và thù nghịch, thì chúng con làm cho tan biến, sự ưu sầu và bịnh truyền nhiễm cũng được trừ khử cho lành mạnh, thọ lượng tăng thêm, cảm ứng điềm lành, ước nguyện toại ý, luôn luôn vui vẻ. Chúng con cũng làm cho quốc gia ấy có quân đội hùng cường. Đức Thế tôn nói, lành thay các thiện nam tử, đúng như lời các người đã nói, các người hãy thực hiện như vậy. Bởi vì vị quốc vương ấy khi làm đúng Phật pháp thì toàn thể dân chúng đều theo quốc vương mà làm đúng Phật pháp. Các người cũng nhờ [hộ vệ cho họ] mà sắc tướng và sức lực đều hơn lên, cung điện sáng hơn lên, thân thuộc thịnh hơn lên. Đế thích, Phạn vương, cùng các vị đồng đẳng, thưa rằng đúng như vậy, bạch đức Thế tôn. Đức thế tôn nói, chỗ nào có giảng đọc và lưu hành kinh pháp mầu nhiệm này, thì trong quốc gia ấy các vị đại thần cùng quan thuộc có bốn cái lợi. Một là thân nhau, hòa nhau, tôn trọng và thương nhớ đến nhau. Hai là thường được quốc vương mến trọng, lại được sa môn, bà la môn, đại quốc, tiểu quốc, đều kính mến. Ba là khinh của trọng đạo, không cầu lợi lộc, tiếng tốt vang khắp, ai cũng kính ngưỡng. Bốn là thọ lượng lâu dài, yên ổn thích thú. Đó là bốn cái lợi. Quốc gia nào tuyên thuyết kinh này, thì sa môn, bà la môn ở đó có bốn cái lợi. Một là đồ mặc, đồ ăn, đồ nằm, thuốc men, không thiếu gì cả. Hai là yên tâm mà tư duy đọc tụng. Ba là ở núi rừng, sống yên vui. Bốn là tùy ý muốn gì cũng thỏa nguyện cả. Đó là bốn cái lợi. Quốc gia nào tuyên thuyết kinh này thì dân chúng ai cũng sung túc, hạnh phúc, không mọi thứ bịnh tật và truyền nhiễm, thương khách qua lại, được lắm bảo vật và hàng hóa, tràn đầy thắng phước. Đó là cái lợi đa dạng.

    Lúc ấy Phạn vương, Đế thích, bốn vị Thiên vương, và cả đại hội, cùng thưa, bạch đức Thế tôn, kinh điển như thế này nghĩa lý rất sâu xa, nếu còn thì ba mươi bảy giác phần còn cả, chưa mất ; nếu mất thì chánh pháp cũng mất. Đức Thế tôn nói, đúng như vậy, các thiện nam tử. Do vậy, đối với kinh Ánh sáng hoàng kim này, dầu một câu hay một bài chỉnh cú, dầu một phẩm hay trọn bộ, các người phải nhất tâm mà chính xác đọc tụng, chính xác nghe nhớ, chính xác suy nghĩ, chính xác tu tập, vì chúng sinh mà quảng bá rộng rãi, thì luôn luôn yên vui, phước lợi vô cùng. Bấy giờ đại hội nghe đức Thế tôn nói rồi, ai cũng được lợi ích siêu việt, hoan hỷ mà thọ trì.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 21]

    Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim – cuốn 4

    Phẩm 6 – Minh Chú Tịnh Địa

    Bấy giờ bồ tát Sư tử tướng vô ngại quang diệm, cùng với bộ chúng vô lượng, từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính, đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, đem các loại hoa hương và tràng phan bảo cái mà hiến cúng, rồi thưa rằng, bạch đức Thế tôn, có mấy nhân tố được tâm bồ đề  ? tâm bồ đề là gì  ? Bạch đức Thế tôn, nơi bồ đề thì tâm hiện tại không thể có, tâm vị lai không thể có, tâm quá khứ không thể có ; rời bồ đề thì tâm bồ đề cũng không thể có. Bồ đề thì không thể diễn tả, tâm cũng phi sắc tướng, phi sự nghiệp ([42]), phi tạo tác ; chúng sinh cũng không thể có, cũng không thể biết. Bạch đức Thế tôn, cái nghĩa rất sâu xa như vậy của các pháp thì làm sao biết được  ? Đức Thế tôn dạy, thiện nam tử, đúng như vậy, đúng như vậy, bồ đề nhiệm mầu, sự nghiệp và tạo tác toàn là phi cả. Rời bồ đề thì tâm bồ đề cũng không thể có. Bồ đề không thể diễn tả, tâm cũng không thể diễn tả, phi sắc tướng, phi sự nghiệp. Chúng sinh cũng là không thể có. Tại sao, vì bồ đề với tâm đều là chân như, năng chứng sở chứng đều bình đẳng. Nhưng, thiện nam tử, không phải không các pháp mà có thấu hiểu. Bồ tát đại sĩ thấu hiểu như vậy thì mới gọi là thông suốt các pháp, là khéo nói về bồ đề và tâm bồ đề. Tâm bồ đề là phi quá khứ, phi vị lai, phi hiện tại. Tâm cũng vậy. Chúng sinh cũng vậy. Và trong đó nhị biên thật không thể có được. Tại sao, vì các pháp toàn là vô sinh. Nên bồ đề không thể có, cái tên bồ đề cũng không thể có, chúng sinh và cái tên chúng sinh không thể có, Thanh văn và cái tên Thanh văn không thể có, Độc giác và cái tên Độc giác không thể có, Bồ tát và cái tên Bồ tát không thể có, Phật đà và cái tên Phật đà không thể có, tu hành với không phải tu hành ([43]) không thể có, cái tên tu hành với không phải tu hành cũng không thể có. Vì không thể có, nên trong sự vắng lặng mà được đứng yên, và đó là do công đức mà được.

    Thiện nam tử, như núi ngọc Tu di lợi ích tất cả, tâm bồ đề lợi ích tất cả chúng sinh, đó là nhân tố của sự bố thí, ba la mật thứ nhất. Như đại địa giữ mọi sự vật, đó là nhân tố của sự trì giới, ba la mật thứ hai. Như sư tử oai sức rất lớn, đi một mình mà không sợ hãi gì, đó là nhân tố của sự nhẫn nhục, ba la mật thứ ba. Như tốc lực cực mạnh của gió, dũng cảm và mau chóng, tâm không thoái lui, đó là nhân tố của sự cần sách, ba la mật thứ tư. Như lầu đài bằng bảy chất liệu quí, có bốn đường cấp, gió mát thổi đến bốn cửa làm cho thích thú, kho tàng tịnh lự cũng vậy, thỏa mãn đầy đủ cho mọi sở cầu, đó là nhân tố của sự tịnh lự, ba la mật thứ năm. Như vầng thái dương sáng chói rực rỡ, tâm này mau chóng phá tan vô minh ám chướng, đó là nhân tố của sự trí tuệ, ba la mật thứ sáu. Như thương trưởng làm cho mọi tâm nguyện thỏa mãn, tâm này vượt được đường hiểm sinh tử, thu hoạch vàng ngọc công đức, đó là nhân tố của sự phương tiện, ba la mật thứ bảy. Như vầng trăng tròn sáng, tâm ấy trong sạch đầy đủ đối với mọi đối cảnh, đó là nhân tố của sự thệ nguyện, ba la mật thứ tám. Như tổng tư lịnh quân đội của luân vương tự do tùy ý, tâm này khéo trang hoàng thế giới, vô số công đức quảng lợi chúng sinh, đó là nhân tố của sự năng lực, ba la mật thứ chín. Như không gian và luân vương, tâm này đối với mọi đối cảnh không có chướng ngại, đối với mọi vị trí đều được tự tại, đạt đến địa vị quán đảnh, đó là nhân tố của sự trí giác, ba la mật thứ mười. Đó là mười nhân tố của tâm bồ đề. Mười nhân tố như vậy các người phải tu học.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 22]

    Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu bố thí ba la mật : một là tín căn, hai là từ bi, ba là không có tâm lý cầu mong dục vọng, bốn là thu nhận hết thảy chúng sinh, năm là nguyện cầu trí nhất thế trí. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu bố thí ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu trì giới ba la mật : một là thân miệng ý trong sáng, hai là không làm yếu tố gây ra phiền não cho chúng sinh, ba là đóng cửa đường dữ mở cửa đường lành, bốn là vượt qua vị trí thanh văn độc giác, năm là hoàn thiện đủ hết mọi thứ công đức. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu trì giới ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu nhẫn nhục ba la mật : một là dẹp được phiền não tham lam tức giận, hai là không tiếc tính mạng, không cầu an, ba là nghĩ đến nghiệp cũ, gặp khổ nhẫn được, bốn là vì phát tâm từ bi thành thục thiện căn cho chúng sinh, năm là để được vô sinh pháp nhẫn cực kỳ sâu xa. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu nhẫn nhục ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu cần sách ba la mật : một là không thích sống chung với mọi thứ phiền não, hai là công đức chưa đủ thì không hưởng yên vui, ba là không chán những sự khổ hạnh khó làm, bốn là đem đại từ bi lợi ích chúng sinh, phương tiện thành thục cho tất cả, năm là nguyện cầu vị trí không còn thoái chuyển. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu cần sách ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu tịnh lự ba la mật : một là nắm giữ thiện pháp không cho tản mác, hai là thường mong giải thoát, không vướng nhị biên, ba là nguyện được thần thông để thành tựu thiện căn cho chúng sinh, bốn là vì làm trong sáng pháp giới, trừ khử dơ bẩn của tâm, năm là vì diệt trừ gốc rễ phiền não cho chúng sinh. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu tịnh lự ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu trí tuệ ba la mật : một là phụng sự thân gần mà không chán bỏ đối với chư vị Như lai Bồ tát và những bậc minh trí, hai là tâm thường thích nghe mà không biết chán biết đủ đối với diệu pháp sâu xa của chư vị Như lai, ba là thích khéo phân biệt về thắng trí chân đế và thắng trí tục đế, bốn là cấp tốc diệt trừ tất cả kiến hoặc tu hoặc, năm là tinh thông tất cả năm minh xứ, trong đó có mọi kỹ thuật thế gian. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu trí tuệ ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu phương tiện ba la mật : một là thông suốt hết thảy các dạng ý thích, phiền não và tâm hạnh của chúng sinh, hai là hiểu rõ vô lượng pháp môn đối trị, ba là tự do xuất và nhập định Đại từ bi, bốn là nguyện tu hành thành tựu đầy đủ các pháp ba la mật, năm là nguyện thấu suốt hết thảy Phật pháp, thu giữ không sót. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu phương tiện ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu thệ nguyện ba la mật : một là tâm ở yên được nơi đạo lý các pháp xưa nay bất sinh diệt, phi hữu vô, hai là tách rời dơ bẩn, thể hiện trong sáng, tâm ở yên được mà quan sát ý nghĩa cực kỳ nhiệm mầu của các pháp, ba là siêu việt tất cả ý tưởng, tâm ở yên được nơi chân như của tâm không thi vi, không chuyển biến, không dị biệt, không dao động, bốn là vì muốn lợi ích chúng sinh nên tâm ở yên được nơi tục đế, năm là tâm ở yên được nơi sự song hành của chỉ quán. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu thệ nguyện ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu năng lực ba la mật : một là đem năng lực của chánh trí mà thấu triệt tâm hạnh thiện ác của chúng sinh, hai là làm cho chúng sinh hội nhập diệu pháp cực kỳ sâu xa, ba là biết rõ chính xác chúng sinh tùy nghiệp mà sinh tử luân hồi, bốn là đem năng lực của chánh trí mà phân biệt biết rành ba loại căn tánh của chúng sinh, năm là do trí lực mà thuyết pháp hợp lý cho chúng sinh, làm cho họ gieo trồng thiện căn, thành thục và giải thoát. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu năng lực ba la mật. Thiện nam tử, do năm sự mà bồ tát đại sĩ thành tựu trí giác ba la mật : một là phân biệt thiện ác đối với các pháp, hai là rời xa pháp đen mà thu nhận pháp trắng, ba là không chán sinh tử không ưa niết bàn, bốn là đầy đủ phước đức và trí tuệ mà đạt đến vị trí cứu cánh, năm là tiếp nhận sự quán đảnh siêu việt, thực hiện mọi pháp bất cọng và trí nhất thế trí của chư vị Như lai. Đó là bồ tát đại sĩ thành tựu trí giác ba la mật.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 23]

    Thiện nam tử, ba la mật nghĩa là gì  ? Tu tập đạt được lợi ích siêu việt là nghĩa ba la mật. Hoàn hảo tuệ giác vô lượng, vĩ đại và rất sâu, là nghĩa ba la mật. Tâm không chấp trước pháp tu hành với pháp không phải tu hành, là nghĩa ba la mật. Tỉnh ngộ chính xác và quan sát chính xác tội lỗi của sinh tử với công đức của niết bàn, là nghĩa ba la mật. Người ngu người trí thu nhận tất cả, là nghĩa ba la mật. Hoạt hiện diệu pháp đủ hết các dạng quí báu nhiệm mầu, là nghĩa ba la mật. Đầy đủ trí tuệ vô ngại giải thoát là nghĩa ba la mật. Phân biệt biết chính xác pháp giới và chúng sinh giới, là nghĩa ba la mật. Bố thí cho đến trí giác đều làm cho đạt đến vị trí bất thoái chuyển, là nghĩa ba la mật. Hoàn thiện được vô sinh pháp nhẫn là nghĩa ba la mật. Làm cho chúng sinh thành thục thiện căn công đức là nghĩa ba la mật. Nơi tuệ giác vô thượng bồ đề, thành tựu được tất cả các pháp bất cọng của chư vị Như lai, là nghĩa ba la mật. Sinh tử với niết bàn rõ ràng bất nhị là nghĩa ba la mật. Cứu vớt tất cả là nghĩa ba la mật. Ngoại đạo chất vấn, khéo giải thích cho họ phục tùng, là nghĩa ba la mật. Chuyển được pháp luân đủ cả mười hai hành tướng là nghĩa ba la mật. Không vướng mắc, không quan điểm, không hệ lụy, là nghĩa ba la mật.

    Thiện nam tử, bồ tát địa thứ nhất thì sự trạng này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là vô số kho báu ([44]) trong đại thiên thế giới đều tràn đầy. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ hai thì sự trạng này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là đại thiên thế giới đất bằng như bàn tay, với vô số vẻ đẹp của các loại ngọc quí và những đồ trang sức. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ ba thì sự trạng này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là bản thân hùng mạnh, áo giáp và vũ khí uy nghiêm, làm cho mọi kẻ thù nghịch đều khuất phục. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ tư thì sự trạng này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là có gió bốn hướng đưa những loại hoa tuyệt diệu đến rải đầy mặt đất. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ năm thì sự trạng này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là có những bảo nữ tuyệt diệu, trang sức những chuỗi ngọc và những hoa miện. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ sáu thì sự trạng này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là có hồ thất bảo lớn, với đường cấp bốn phía, cát vàng rải khắp, sạch sẽ không dơ, nước tám đặc tính quí tràn đầy trong hồ, các loại hoa sen mọc lên thích hợp vị trí, và nơi hồ đầy hoa sen này dạo đi thích thú, mát mẻ bậc nhất. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ bảy thì sự trạng này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là trước mặt bồ tát có những kẻ đáng đọa địa ngục, nhưng vì năng lực của bồ tát mà không đọa nữa, không thương tổn, không sợ hãi. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ tám thì sự trạng này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là hai bên thân mình có sư tử chúa hộ vệ, các loại thú vật đều khiếp sợ. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ chín thì sự trạng này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là làm luân vương, với vô số người bao quanh phụng sự, trên đỉnh có bảo cái trắng, được trang hoàng bởi vô số ngọc quí. Thiện nam tử, bồ tát địa thứ mười thì sự trạng này biểu hiện trước hết, và bồ tát thấy rõ, đó là thân thể Như lai màu vàng rực rỡ, đủ cả vô số ánh sáng trong suốt, với sô số Phạn vương bao quanh cung kính hiến cúng, chuyển đẩy pháp luân nhiệm mầu và tối thượng.

    Thiện nam tử, tại sao địa thứ nhất tên là hoan hỷ, [cho đến địa thứ mười tên là pháp vân]  ? Thiện nam tử, địa thứ nhất là đầu tiên chứng được tâm trí siêu việt thế gian, xưa chưa được mà nay mới được, đại dụng tùy nguyện mà thành tựu cả, sinh ra nỗi vui mừng cùng cực, nên địa thứ nhất tên là hoan hỷ. Lỗi lầm phạm giới nhỏ nhiệm nhất đều sạch sẽ cả, nên địa thứ hai tên là vô cấu. Vô số ánh sáng của trí tuệ và chánh định đều không thể bị khuynh động, không thể làm cho khuất phục, lấy tổng trì Nghe nhớ làm căn bản, nên địa thứ ba tên là minh. Đem lửa trí tuệ đốt các phiền não, tăng thêm ánh sáng, tu hành giác phần, nên địa thứ tư tên là diệm. Tu hành phương tiện nên thắng trí tự tại, đó là điều rất khó có, kiến hoặc tu hoặc khó dẹp mà dẹp được, nên địa thứ năm tên là nan thắng. Rất mực tỏ rõ về sự liên tục của các hành ([45]), vô tướng tư duy hiện hành tất cả, nên địa thứ sáu tên là hiện tiền. Vô tướng tư duy đã vô lậu và liên tục, giải thoát và tam muội đều tu hành đã xa, sự trong sáng không có chướng ngại, nên địa thứ bảy tên là viễn hành. Vô tướng tư duy đã tu tự tại, mọi phiền não không thể khuynh động, nên địa thứ tám tên là bất động. Thuyết pháp đủ mọi dạng thức sai biệt mà được tự tại cả, không có hệ lụy, tăng trưởng trí tuệ đến tự tại vô ngại, nên địa thứ chín tên là thiện tuệ. Pháp thân như không gian, trí tuệ như mây lớn, bủa che khắp cả, nên địa thứ mười tên là pháp vân.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 24]

    Thiện nam tử, vô minh chấp trước ngã pháp, vô minh sợ hãi đường dữ, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ nhất. Vô minh phạm giới nhỏ nhiệm, vô minh phát khởi hành nghiệp, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ hai. Vô minh say đắm được cái chưa được, vô minh chướng ngại cho tổng trì thù thắng, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ ba. Vô minh say đắm sự vui thích thiền định, vô minh say đắm diệu pháp trong sáng, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ tư. Vô minh muốn bỏ sinh tử, vô minh mong đến niết bàn, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ năm. Vô minh quán sát các hành lưu chuyển, vô minh hiện hành thô tướng, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ sáu. Vô minh tế tướng hiện hành, vô minh tác ý ưa thích vô tướng, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ bảy. Vô minh vô tướng quán có dụng công, vô minh chấp tướng tự tại, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ tám. Vô minh chưa khéo léo về ý nghĩa và ngữ văn, vô minh chưa tự do về hùng biện, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ chín. Vô minh chưa tự tại về đại thần thông, vô minh chưa thấu triệt về tối vi mật, hai thứ vô minh này chướng ngại cho địa thứ mười. Vô minh về sở tri chướng nhỏ nhất, vô minh về phiền não chướng nhỏ nhất, hai thứ vô minh này chướng ngại cho Phật địa.

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ trong địa thứ nhất tu hành thí ba la mật, trong địa thứ hai tu hành giới ba la mật, trong địa thứ ba tu hành nhẫn ba la mật, trong địa thứ tư tu hành cần ba la mật, trong địa thứ năm tu hành định ba la mật, trong địa thứ sáu tu hành tuệ ba la mật, trong địa thứ bảy tu hành phương tiện ba la mật, trong địa thứ tám tu hành nguyện ba la mật, trong địa thứ chín tu hành lực ba la mật, trong địa thứ mười tu hành trí ba la mật.

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ địa thứ nhất phát tâm thì tu định Sinh ra vàng ngọc tuyệt diệu, địa thứ hai phát tâm thì tu định Sinh ra cái vui khả ái, địa thứ ba phát tâm thì tu định Sinh ra sự khó lay động, địa thứ tư phát tâm thì tu định Sinh ra sự không thoái chuyển, địa thứ năm phát tâm thì tu định Sinh ra bông hoa ngọc ngà, địa thứ sáu phát tâm thì tu định Sinh ra ánh sáng thái dương, địa thứ bảy phát tâm thì tu định Sinh ra thỏa nguyện như ý, địa thứ tám phát tâm thì tu định Sinh ra hiện tiền chứng ngộ, địa thứ chín phát tâm thì tu định Sinh ra kho tàng trí tuệ, địa thứ mười phát tâm thì tu định Sinh ra tinh tiến dũng mãnh. Thiện nam tử, như thế ấy là mười sự phát tâm tu định của bồ tát đại sĩ.

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ nhất được minh chú tên là Dựa sức công đức. Minh chú này do hơn một hằng sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa thứ nhất. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự sợ hãi, như cọp sói, sư tử, các ác thú khác, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù, giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng nạn như vậy ([46]), không quên nhớ đến địa thứ nhất. Bấy giờ đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy ([47]) : Tát da tha, pua ni, măn tra tê, tu hu, tu hu, tu hu, da va, sua da, a va ba sa ti, da va, chăn dra, chu ku ti, ta va ta, rát sa, măng, chăn đa, pa ri ha răm, ku ru, soa ha. (Tadyatha purni mantrate tuhu tuhu tuhu yava surya avabhasati yava candra cukuti tavata raksa mam canda pariharam kuru svaha).

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ hai được minh chú tên là Khéo sống yên vui. Minh chú này do hơn hai hằng sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa thứ hai. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù, giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ hai. Bấy giờ đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy : Tát da tha, un ta li, si ri, si ri, un ta li, tăn năng, jăn tu, jăn tu, un ta li, hu ru, hu ru, soa ha. (Tadyatha untali siri siri untali tannam jantu jantu untali huru huru svaha).

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ ba được minh chú tên là Sức mạnh khó thắng. Minh chú này do hơn ba hằng sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa thứ ba. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù, giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ ba. Bấy giờ đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy : Tát da tha, tăn ta ki, pau ta ki, ka ra ti, kau ra ti, kê du ri, tăn ti li, soa ha. (Tadyatha tantaki pautaki karati kaurati keyuri tantili svaha).

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 25]

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ tư được minh chú tên là Sự ích lợi lớn. Minh chú này do hơn bốn hằng sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa thứ tư. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù, giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ tư. Bấy giờ đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy : Tát da tha, si ri, si ri, đa mi ni, đa mi ni, đa ri i, Si đa ri ni ri, si ri ni, vi cha ra, pa chi, pa chi na, păn đa mi tê, soa ha. (Tadyatha siri siri damini damini darii Sdariniri sirini vicara paci pacina pandamite svaha).

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ năm được minh chú tên là Công đức trang nghiêm. Minh chú này do hơn năm hằng sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa thứ năm. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù, giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm thứ chướng nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ năm. Bấy giờ đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy : Tát da tha, ha ri, ha ri ni, cha ri, cha ri ni, ka ra ma ni, săm ra ma ni, sáp, su ni, chăm ba ni, si tau va ni, mo ha ni, si ja bu hê, soa ha. (Tadyatha hari harini cari carini karamani samkramani samb suni cambani stauvani mohani sijabuhe svaha).

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ sáu được minh chú tên là Trí giác viên mãn. Minh chú này do hơn sáu hằng sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa thứ sáu. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù, giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ sáu. Bây giờ đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy : Tát da tha, vi tô ri, vi tô rim, a ri ni, ma ri ni, ki ri, ki ri, vi tô hăn ti, ru ru, ru ru, chu ru, chu ru, đua va, đu ru va, sá sa, sắc cha, va ri sá, soát ti, sát va sát toa năm, sít đi dăn tu, ma da, măn tra, pa đa ni, soa ha. (Tadyatha vitori vitorim arini marini kiri kiri vitohanti ruru ruru curu curu durva duruva sasa saccha varisa svasti sasvasattvanam siddhyantu maya mantra padani svaha).

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ bảy được minh chú tên là Thắng hạnh của Pháp. Minh chú này do hơn bảy hằng sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa thứ bảy. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù, giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ bảy. Bấy giờ đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy : Tát da tha, ja ha, ja ha ru, ja ha, ja ha ru, vi đu kê, vi đu kê, ăm ri ta, kha ni, vri sa ni, vai ru, cha ni, vai ru chi kê, va ru vát ti, vi đi bi kê, băn đin, va ri ni, ăm ri ti kê, ba hu ja ja, ba hu ja du, soa ha (Tadyatha jaha jaharu jaha jaharu viduke viduke amrta khani vrsani vairu cani vairucike varuvatti vidhibike bhandin varini amrtike babujaja babujayu svaha).

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ tám được minh chú tên là Kho tàng vô tận. Minh chú này do hơn tám hằng sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa thứ tám. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù, giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ tám. Bấy giờ đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy : Tát da tha, si ri, si ri, si ri ni, mi tê, mi tê, ka ri, ka ri, hê ru, hê ru, hê ru, chu ru, chu ru, văn da ni, soa ha. (Tadyatha siri siri sirini mite mite kari kari heru heru heru curu curu vandani svaha).

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ chín được minh chú tên là Pháp môn vô lượng. Minh chú này do hơn chín hằng sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa thứ chín. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù, giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm chướng nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ chín. Bấy giờ đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy : Tát da tha, ha ri, chăn đa ri kê, ku la ma ba tê, tô ri si, ba ta, ba ta si, si ri, si ri, ka si ri, ka pi si ri, soát ti, sa va, soát ta năng, soa ha. (Tadyatha hari candarike kulamabhate torisi bata batasi siri siri kasiri kapisiri svasti sarva sattvanam svaha).

    Thiện nam tử, bồ tát đại sĩ nơi địa thứ mười được minh chú tên là Phá núi kim cương. Minh chú với những câu và chữ cát tường đưa đến vị trí Quán đảnh như thế này là do hơn mười hằng sa Như lai tuyên thuyết để hộ trì cho bồ tát đại sĩ địa thứ mười. Ai tụng trì minh chú này thì thoát được mọi sự sợ hãi như ác thú, quỉ ác, người ác, thần ác, oán thù, giặc giã, tai họa, mọi sự khổ não, thoát cả năm thứ chướng nạn như vậy, không quên nhớ đến địa thứ mười. Bây giờ đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú ấy : Tát da tha, si đi, su si đê, mô cha ni, mốc sa ni, vi múc ti, a ma lê, vi ma lê, nia ma lê, mô ga lê, hi răn da ga bê, rát na ga bê, sa măn ta ba rê, sa văn tê, si tha ni, ma na si, ăm bu ti, ăn ti bu ti, a cha rê, vi ra sê, ăn ti, ăm ri ta, a ra sê, vi ra sê, brắt mê, brắt ma nê, pua ni, pu ra na, nao tra tê, soa ha. (Tadyatha sidhi susidhe mocani moksani vimukti amale vimale nirmale mogalehiranyagarbhe ratnagarbhe samantabhadre sarvante sthani manasi ambuti antibuti acare virase annti amrta arase virase brahme brahmane purni purana nautrate svaha).

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 26]

    Vào lúc bấy giờ bồ tát Sư tử tướng vô ngại quang diệm nghe đức Thế tôn tuyên thuyết những minh chú bất khả tư nghị như vậy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính, đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, dùng những lời chỉnh cú mà tán dương Ngài.

    (1) Con kính lạy đấng
    Không thể ví dụ,
    và kính lạy pháp
    Ly tướng sâu xa.
    Chúng sinh bỏ mất
    cái biết chính xác,
    chỉ đức Thế tôn
    mới cứu vớt được.

    (2) Mắt tuệ sáng tỏ
    của đức Thế tôn
    thì không thấy có
    một pháp tướng nào,
    nhưng Ngài lại dùng
    mắt pháp chính xác
    chiếu soi khắp cả
    bất khả tư nghị.

    (3) Không hề thấy có
    một pháp sinh ra
    không hề thấy có
    một pháp diệt mất,
    do sự nhìn thấy
    bình đẳng như vậy
    mà được đạt đến
    vị trí vô thượng.

    (4) Không hề phá hoại
    đối với sinh tử,
    không hề trú ở
    đối với niết bàn ;
    vì không vướng mắc
    nhị biên như vậy,
    nên đức Thế tôn
    thật chứng niết bàn.

    (5) Đối với thanh tịnh
    đối với tạp nhiễm
    thì đức Thế tôn
    biết là nhất vị,
    vì không phân biệt
    các pháp như vậy
    nên đức Thế tôn
    được tối thanh tịnh.

    (6) Thân không biên cương
    của đức Thế tôn
    không hề nói đến
    một chữ nào cả,
    thế mới làm cho
    các chúng đệ tử
    được sung mãn cả
    nước mưa chánh pháp.

    (7) Đức Thế tôn nhìn
    thì tướng chúng sinh
    tất cả chủng loại
    đều là không cả,
    thế nhưng đối với
    những người khổ não
    Ngài thường nổi dậy
    mọi sự cứu hộ.

    (8) Khổ não yên vui
    thường còn vô thường
    hữu ngã vô ngã
    những quan điểm ấy
    không là đồng nhất
    cũng không dị biệt
    không là phát sinh
    cũng không diệt mất.

    (9) Những nghĩa như vậy
    thật nhiều rất nhiều,
    chỉ do nói phô
    mà có sai biệt  ;
    ví như tiếng vang
    dội từ hang trống,
    chỉ đức Thế tôn
    thấu rõ như vậy.

    (10) Thể tánh các pháp
    vốn không phân biệt,
    vì thế không có
    các thừa khác nhau ;
    nhưng vì cứu độ
    cho bao chúng sinh,
    Thế tôn phân ra
    nói có tam thừa.

    Đại tự tại phạn thiên vương, lúc ấy, cũng từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính, đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn mà thưa, bạch đức Thế tôn, kinh Ánh sáng hoàng kim này hiếm có, khó lường, phần đầu phần giữa phần cuối đều khéo léo, văn và nghĩa đều trọn vẹn, hoàn thành được toàn bộ Phật pháp. Ai thọ trì thì thế là người ấy báo đáp ơn đức của chư vị Thế tôn. Đức Thế tôn dạy, thiện nam tử, đúng như vậy, đúng như ông nói. Thiện nam tử, những ai được nghe kinh này thì toàn là những người không còn thoái chuyển vô thượng bồ đề, vì sao, thiện nam tử, vì những người ấy năng lực thành thục được thiện căn thù thắng của bồ tát ở địa vị không còn thoái chuyển. Kinh này là ấn tín bậc nhất của Phật pháp, là vua của các kinh, nên phải lắng nghe, tiếp nhận, ghi nhớ, cứu xét, tụng thuộc. Vì sao, thiện nam tử, vì nếu ai chưa gieo trồng thiện căn, chưa thành thục thiện căn, chưa thân cận chư vị Như lai, thì không thể lắng nghe diệu pháp như vầy. Nên thiện nam hay thiện nữ nào lắng nghe được thì diệt trừ nghiệp chướng, thực hiện thanh tịnh ; thường được nhìn thấy chư vị Như lai, không rời xa các Ngài và những bậc thiện tri thức, những bậc thắng hạnh ; thường nghe diệu pháp, đứng vững nơi vị trí không còn thoái chuyển, đạt được các pháp tổng trì thù thắng bất tận bất giảm — là tổng trì Hải ấn xuất sinh công đức vi diệu, tổng trì Thông suốt tâm ý và ngôn ngữ của chúng sinh, tổng trì Thái dương tròn đầy phát xuất ánh sáng không gợn bẩn, tổng trì Vầng trăng tròn đầy phát xuất ánh sáng, tổng trì Dẹp được mê hoặc mà diễn ra dòng nước công đức, tổng trì Phá nát núi kim cương, tổng trì Nói về kho tàng duyên khởi là nghĩa lý không thể diễn nói, tổng trì Thông suốt nguyên tắc và âm thanh của ngôn ngữ chân thật, tổng trì Không gian trong sáng làm ấn tín của tâm, tổng trì Phật thân vô biên biến thể khắp cả. Thiện nam tử, thành tựu được các pháp tổng trì bất tận bất giảm như vậy, thì vị bồ tát đại sĩ này năng lực hóa hiện được Phật thân khắp trong mười phương quốc độ, diễn nói chánh pháp vô thượng, đủ mọi dạng thức ; đối với chân như của các pháp thì không chuyển không trụ, không đến không đi ; thành thục thiện căn cho chúng sinh mà không thấy một chúng sinh nào là người được thành thục ; diễn nói các hành mà chính trong ngôn ngữ vẫn không chuyển không trụ, không đi không đến, chính nơi sinh diệt mà chứng bất sinh diệt. Tại sao nói các hành không có đi đến  ? Vì thể tánh các pháp không có dị biệt. Khi đức Thế tôn tuyên thuyết pháp thoại này thì ba mươi ngàn bồ tát đại sĩ được vô sinh pháp nhẫn, vô số bồ tát không còn thoái chuyển tâm bồ đề, vô số bí sô và bí sô ni được sự trong sáng của mắt pháp, vô số chúng sinh phát tâm bồ đề, và đức Thế tôn nói lời chỉnh cú sau đây.

    Thắng pháp ngược được
    dòng nước sinh tử,
    cùng cực nhiệm mầu
    khó mà thấy được.
    Chúng sinh đui mù
    tham ái che khuất,
    do không thấy được
    nên chịu khổ não.

    Bấy giờ cả đại hội đều đứng dậy, đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, cùng thưa rằng, bạch đức Thế tôn, chỗ nào giảng nói đọc tụng kinh Ánh sáng hoàng kim này thì chúng con đến đó để làm thính giả. Chúng con làm cho vị pháp sư tuyên thuyết kinh này được lợi ích, được yên vui, được không chướng ngại, thân thể và tâm ý đều thư thái. Chúng con thường tận tâm hiến cúng vị pháp sư ấy. Chúng con cũng làm cho những người nghe kinh này được yên ổn, vui thích ; làm cho quốc gia của họ cư trú không oán thù, không giặc giã, không kinh hoàng, không ách nạn, không đói khát, không tất cả cái khổ như vậy, và dân chúng thì đông đảo, thịnh vượng. Chỗ tuyên thuyết kinh này chúng con làm cho thành nơi đạo tràng, chư thiên, nhân loại, loài khác, không ai nên giẫm đạp trên đó với sự dơ bẩn, vì sao, vì chỗ tuyên thuyết kinh này tức là bảo tháp tôn thờ đức Thế tôn, hãy hiến cúng bằng hoa hương, bằng lọng dù bằng lụa, và chúng con thường bảo vệ chỗ ấy, không cho suy tổn. Đức Thế tôn dạy đại hội, chư thiện nam thiện nữ, các người nên siêng năng tu tập bản kinh nhiệm mầu này, thì thế là chánh pháp tồn tại lâu dài trong thế giới này.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 27]

    Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim – cuốn 5

    Phẩm 7 – Hoa Sen Ca Tụng ([48])

    Bấy giờ đức Thế tôn bảo thọ thần của bồ đề đại thọ, rằng thiện nữ thiên, thiện nữ nên biết cái lý do bồ tát Diệu tràng mộng thấy trống hoàng kim xuất âm thanh lớn, ca tụng công đức Như lai và diệu pháp sám hối. Như lai sẽ nói cho các người về lý do ấy. Các người hãy nghe kỹ, hãy khéo nghĩ khéo nhớ. Quá khứ có một đế vương tên Kim long chủ, thường đem hoa sen làm ví dụ mà ca tụng chư vị Như lai. Đức Thế tôn liền thuật lại cho đại hội nghe những lời ca tụng này.

    (1) Chư Phật quá khứ
    vị lai hiện tại,
    ở trong thế giới
    khắp cả mười phương,
    con nay chí thành
    cúi đầu kính lạy,
    nhất tâm ca tụng
    các đấng Tối thắng.

    (2) Đấng Đại mâu ni
    tối thượng thanh tịnh,
    ánh sáng thân thể
    rực như hoàng kim.
    Trong các thứ tiếng
    tiếng Ngài tối thượng,
    như tiếng Đại phạn
    như sấm rền vang.

    (3) Tóc Ngài thì như
    ong chúa đen huyền,
    đường nét uốn xoay
    ngời lên xanh biếc.
    Răng đều và sít
    trắng như tuyết, ngọc,
    rất bằng và thẳng
    và ngời sáng lên.

    (4) Mắt trong không gợn,
    cực đẹp, uy nghiêm,
    to lớn tựa như
    cánh hoa sen xanh.
    Tướng lưỡi rộng dài,
    cùng cực nhu nhuyến,
    đỏ như sen hồng
    từ nước trồi lên.

    (5) Giữa mày thường có
    ánh sáng bạch hào
    uốn xoay chiều phải
    với màu pha lê.
    Lông mày dài, mịn,
    sáng như trăng mới,
    ngời lên lóng lánh
    như thân ong chúa.

    (6) Mũi cao, dài, thẳng,
    tựa như đĩnh vàng,
    sạch sẽ, tươi sáng,
    không thiếu vẻ đẹp ;
    mọi thứ hơi thơm
    trong thế giới này,
    mũi này ngửi thấy
    là biết ở đâu.

    (7) Thân màu hoàng kim
    siêu tuyệt bậc nhất,
    mỗi một đầu lông
    đẹp đẽ đồng đẳng,
    xanh biếc, mềm mại,
    uốn theo chiều phải,
    tinh tế ánh ngời
    khó có gì bằng.

    (8) Thân ấy mới sinh
    đã có ánh sáng,
    trải ra khắp cả
    thế giới mười phương,
    trừ được khổ não
    ba cõi chúng sinh,
    làm cho tất cả
    đều được yên vui.

    (9) Bất kể địa ngục,
    bàng sinh, ngạ quỉ,
    tô la, chư thiên,
    cùng với nhân loại,
    làm cho loại trừ
    các dạng khổ não,
    thường xuyên hưởng thụ
    cái vui tự nhiên.

    (10) Ánh sáng thân ấy
    thường chiếu khắp cả,
    tựa như vàng ròng
    tinh tế bậc nhất.
    Mặt thì sáng ngời
    tựa như trăng tròn.
    Môi thì đỏ tươi
    như trái tần bà.

    (11) Bước đi uy nghiêm
    như sư tử đi.
    Mình sáng in như
    mặt trời mới mọc
    Cánh tay thì dài,
    đứng quá đầu gối,
    thường buông thẳng xuống
    như nhánh sa la.

    (12) Vầng ánh sáng tròn
    một tầm, tỏa chiếu,
    rực rỡ tựa như
    trăm ngàn mặt trời,
    trải đến khắp cả
    quốc độ của Phật,
    tùy kẻ hữu duyên
    mà được thức tỉnh.

    (13) Ánh sáng trong suốt
    không chi sánh bằng,
    trải ra khắp cả
    trăm ngàn thế giới,
    và khắp mười phương,
    không gì trở ngại,
    mọi sự mờ tối
    đều tan biến cả.

    (14) Từ quang Thiện thệ
    ban cho yên vui,
    màu sắc trong suốt
    như núi vàng ròng,
    ánh sáng trải khắp
    trăm ngàn quốc độ,
    những ai gặp được
    cùng siêu thoát cả.

    (15) Vô biên thắng phước
    hoàn thành thân Phật,
    tất cả công đức
    trang sức Phật thân,
    vượt quá ba cõi,
    độc xưng Thế tôn,
    hơn hết thế giới
    thành bậc Vô đẳng.

    (16) Chư vị Thế tôn
    thuộc thì quá khứ
    nhiều như vi trần
    của cả đại địa,
    chư vị Thế tôn
    vị lại hiện tại
    cũng bằng vi trần
    của cả đại địa.

    (17) Đem thân miệng ý
    cùng cực chân thành
    con xin kính lạy
    tam thế Thế tôn,
    ca tụng biển cả
    công đức vô biên,
    hiến cúng đủ loại
    những hương và hoa.

    (18) Giả sử miệng con
    có cả ngàn lưỡi,
    ca tụng Thế tôn
    trong vô lượng kiếp,
    thì công đức Ngài
    là bất tư nghị,
    tối thắng, cực sâu,
    vẫn khó diễn tả.

    (19) Giả sử lưỡi con
    có cả trăm ngàn
    khen một công đức
    của một đức Phật
    cũng vẫn khó được
    một phần chút ít,
    huống chi vô biên
    công đức chư Phật.

    (20) Giả sử đại địa
    cho đến chư thiên
    đến trời Hữu đảnh
    toàn là biển nước,
    đầu lông nhỏ giọt
    đếm biết hết cả,
    một đức một Phật
    cũng khó lường biết.

    (21) Đem thân miệng ý
    cực kỳ chân thành
    mà con lễ bái
    cùng với tán dương
    công đức vô biên
    của chư Phật đà,
    sự lễ tán ấy
    được bao thắng phước
    quả báo siêu việt,
    con xin hồi hướng
    cho cả chúng sinh
    chóng thành Phật đà.

    (22) Kim long chủ vương
    tán thán Phật rồi,
    tâm càng thâm thiết
    phát ra đại nguyện :
    nguyện con sau này
    trong thì vị lai
    sinh ra đến mấy
    đời kiếp đi nữa,

    (23) thường xuyên mộng thấy
    trống hoàng kim lớn,
    được nghe âm thanh
    diệu pháp sám hối.
    Công đức tán Phật
    thì như liên hoa,
    nguyện chứng Vô sinh
    thành bậc Chánh giác.

    (24) Thế tôn xuất thế
    lâu thay một lần,
    trăm ngàn đời kiếp
    cũng khó gặp được.
    Nên đêm thường mộng
    nghe tiếng trống vàng,
    ngày thì theo đó
    tu hành sám hối.

    (25) Con nguyện viên tu
    sáu ba la mật,
    cứu vớt chúng sinh
    ra khỏi biển khổ,
    sau con mới thành
    đấng Vô thượng giác,
    với một tịnh độ
    bất khả tư nghị.

    (26) Con đem trống vàng
    hiến lên chư Phật,
    tán thán chư Phật
    công đức chân thật,
    nguyện nhờ việc này
    sẽ gặp Thích tôn
    thọ ký cho con
    nối ngôi Pháp vương.

    (27) Kim long, Kim quang,
    là con của con,
    quá khứ đã làm
    bậc thiện tri thức ;
    nguyện rằng đời đời
    vẫn sinh nhà con,
    cùng con tiếp nhận
    thọ ký bồ đề.

    (28) Với những chúng sinh
    không ai cứu giúp,
    trường kỳ luân hồi
    lãnh chịu khổ não,
    nguyện con đời sau
    làm nơi nương tựa
    cho họ thường được
    yên vui thích thú.

    (29) Cái khổ ba cõi
    con nguyện diệt trừ,
    làm cho tùy tâm
    ở nơi an lạc.
    Nguyện những đời sau
    tu hành bồ đề
    cũng như quá khứ
    các vị thành Phật.

    (30) Nguyện cầu cái phước
    trống vàng sám hối
    làm khô biển khổ
    loại trừ nghiệp chướng ;
    nghiệp chướng hoặc chướng
    tan biến cả rồi,
    nguyện con chóng đạt
    quả báo trong sáng.

    (31) Biển cả phước trí
    giới hạn vô biên,
    trong suốt rất mực
    và sâu không cùng.
    Nguyện con thực hiện
    biển phước trí ấy,
    mau chóng thành đạt
    vô thượng bồ đề.

    (32) Sức mạnh sám hối
    của trống vàng này
    sẽ thể hiện được
    ánh sáng phước đức.
    Thể hiện ánh sáng
    nhiệm mầu như vậy,
    rồi đem trí quang
    chiếu soi khắp cả.

    (33) Nguyện cầu cho con
    thân thể, ánh sáng,
    phước đức, trí tuệ.
    đều như chư Phật,
    trong mọi thế giới
    độc xưng Thế tôn,
    uy lực tự tại
    không ai sánh bằng.

    (34) Nguyện cầu vượt qua
    biển khổ hữu lậu,
    nguyện thường du ngoạn
    biển vui vô vi,
    biển phước hiện tại
    nguyện thường dẫy đầy,
    biển trí tương lai
    nguyện được viên mãn.

    (35) Nguyện cõi của con
    siêu việt ba cõi,
    phẩm chất thù thắng
    không có số lượng,
    những ai liên hệ
    cùng sinh cõi ấy,
    cùng mau thành đạt
    trí giác thanh tịnh.

    (36) Diệu tràng nên biết
    Kim long chủ vương
    đã phát nguyện ấy
    là bản thân ông.

    (37) Và hai người con
    Kim long, Kim quang
    thì nay chính là
    Ngân tướng, Ngân quang,
    sẽ cùng tiếp nhận
    Như lai thọ ký.

    Toàn thể đại hội nghe những lời này của đức Thế tôn, thì ai cũng phát tâm bồ đề, nguyện rằng hiện tại và vị lai thường y theo những lời ấy mà tu hành diệu pháp sám hối.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 28]

    Phẩm 8 – Minh Chú Kim Thắng

    Bấy giờ đức Thế tôn nói với bồ tát đại sĩ Thiện trú ở trong đại hội, rằng thiện nam tử, có một minh chú danh hiệu Kim thắng. Thiện nam hay thiện nữ nào muốn cầu đích thân nhìn thấy chư vị Như lai trong quá khứ hiện tại vị lai để tôn kính hiến cúng, thì phải thọ trì minh chú này. Minh chú này là mẹ của chư vị Như lai trong ba thì gian. Do vậy, nên nhận thức rằng thọ trì minh chú này thì có đủ phước đức to lớn. Gieo trồng thiện căn nơi vô lượng chư vị Như lai quá khứ thì nay mới được thọ trì, được thanh tịnh giới pháp, không vi phạm, không thiếu sót, không có chướng ngại, quyết định thể nhập pháp môn sâu xa. Phép trì minh chú này là trước hết xưng niệm hồng danh mà chí thành kính lạy chư vị Như lai và chư vị Bồ tát sau đây, rồi mới trì tụng minh chú.

    Kính lạy chư vị Như lai,
    Kính lạy chư vị Bồ tát đại sĩ,
    Kính lạy chư vị Thanh văn Duyên giác.
    Kính lạy đức Thích ca mâu ni như lai,
    Kính lạy đức Bất động như lai ở hướng đông,
    Kính lạy đức Bảo tràng như lai ở hướng nam,
    Kính lạy đức A di đà như lai ở hướng tây,
    Kính lạy đức Thiên cổ âm vương như lai ở hướng bắc,
    Kính lạy đức Quảng chúng đức như lai ở hướng trên,
    Kính lạy đức Minh đức như lai ở hướng dưới,
    Kính lạy đức Bảo tạng như lai,
    Kính lạy đức Phổ quang như lai,
    Kính lạy đức Phổ minh như lai,
    Kính lạy đức Hương tích vương như lai,
    Kính lạy đức Liên hoa thắng như lai,
    Kính lạy đức Bình đẳng kiến như lai,
    Kính lạy đức Bảo kế như lai,
    Kính lạy đức Bảo thượng như lai,
    Kính lạy đức Bảo quang như lai,
    Kính lạy đức Vô cấu quang minh như lai,
    Kính lạy đức Biện tài trang nghiêm tư duy như lai,
    Kính lạy đức Tịnh nguyệt quang xưng tướng vương như lai,
    Kính lạy đức Hoa nghiêm quang như lai,
    Kính lạy đức Quang minh vương như lai,
    Kính lạy đức Thiện quang vô cấu xưng vương như lai,
    Kính lạy đức Quan sát vô úy tự tại vương như lai,
    Kính lạy đức Vô úy danh xưng như lai,
    Kính lạy đức Tối thắng vương như lai,
    Kính lạy đức Quan tự tại bồ tát đại sĩ,
    Kính lạy đức Địa tạng bồ tát đại sĩ,
    Kính lạy đức Hư không tạng bồ tát đại sĩ,
    Kính lạy đức Diệu cát tường bồ tát đại sĩ,
    Kính lạy đức Kim cang thủ bồ tát đại sĩ,
    Kính lạy đức Phổ hiền bồ tát đại sĩ,
    Kính lạy đức Vô tận ý bồ tát đại sĩ,
    Kính lạy đức Đại thế chí bồ tát đại sĩ,
    Kính lạy đức Từ thị bồ tát đại sĩ,
    Kính lạy đức Thiện tuệ bồ tát đại sĩ.

    Rồi trì tụng minh chú Kim thắng như sau : Nam mô, rát na, tra da da, tát da tha, kun tê, kun tê, ku sá tê, ku sá lê, ku sá lê, ích chi li, mi ti li, soa ha (Namo ratna trayaya tadyatha kunte kunte kusate kusale kusale icchili mitili svaha).

    Đức Thế tôn dạy bồ tát Thiện trú, minh chú này là mẹ của tam thế Như lai. Thiện nam hay thiện nữ nào trì minh chú này thì xuất sinh cái khối phước đức vô lượng vô biên, thì tức là hiến cúng, cung kính, tôn trọng, tán dương đối với vô số chư vị Như lai, thì chư vị Như lai ấy cùng thọ ký cho người ấy về vô thượng bồ đề. Thiện trú, ai trì minh chú này thì [hiện tại] tùy theo ý muốn mà cơm áo, tài sản, đa văn, thông minh, vô bịnh, sống lâu, đều được lắm phước trong đó, ước nguyện toại ý. Thiện trú, trì minh chú này thì, cho đến lúc thực chứng vô thượng bồ đề, thường xuyên được ở chung với đại bồ tát Kim thành sơn, đại bồ tát Từ thị, đại bồ tát Đại hải, đại bồ tát Quan tự tại, đại bồ tát Diêu cát tường, đại bồ tát Đại băng di la, và các vị đồng đẳng ; được các vị đại bồ tát này hộ trì.

    Thiện trú, trì minh chú này thì theo cách thức sau đây. Trước hết phải trì tụng cho được mười ngàn lẻ tám biến, làm tiền phương tiện. Kế đó, trang hoàng đạo tràng ở trong phòng kín ([49]), lấy ngày mồng một của tháng trăng tối mà tắm rửa sạch sẽ, mặc đồ sạch sẽ, rồi đốt hương rải hoa, hiến cúng như vậy, lại hiến cúng ẩm thực. Khi bước vào đạo tràng thì trước hết, như trước đã chỉ, xướng lạy chư vị Như lai và chư vị Bồ tát ; tiếp theo, chí thành và thiết tha mà sám hối nghiệp chướng đã qua ; sau đó, đầu gối bên phải quì xuống chấm đất, trì tụng minh chú cho được một ngàn lẻ tám biến ; rồi ngồi ngay thẳng mà tư duy đến ước nguyện của mình. Mặt trời chưa mọc thì ở trong đạo tràng mà ăn thức ăn tịnh hắc ([50]), và chỉ ăn mỗi ngày một bữa. Phải mười lăm ngày mới ra khỏi đạo tràng. Như vậy thì người ấy uy lực phước đức thật bất khả tư nghị, ước nguyện gì cũng toại ý cả.

    Nếu không toại ý thì lại nhập đạo tràng. Toại ý rồi vẫn thường xuyên trì tụng, đừng quên.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 29]

    Phẩm 9 – Trùng Tuyên Về Không

    Đức Thế tôn nói về minh chú Kim thắng rồi, để lợi ích cho bồ tát đại sĩ, cho đại hội nhân loại chư thiên, làm cho ai cũng nhận thức đạo lý bậc nhất, thậm thâm chân thật, nên Ngài nói lại về Không, bằng những chỉnh cú sau đây.

    (1) Như lai ở trong
    các kinh sâu xa
    đã nói phong phú
    về diệu lý Không.
    Nay trong bản kinh
    vua các kinh này
    lược nói về Không
    siêu việt tư nghị.

    (2) Với diệu lý Không
    quảng đại sâu xa,
    chúng sinh vô trí
    không thể ý thức,
    thế nên Như lai
    trùng tuyên nơi đây
    về diệu lý ấy
    cho họ tỉnh ngộ.

    (3) Những bậc đại bi
    thương xót chúng sinh,
    đem thiện phương tiện
    làm thắng nhân duyên ([51]) ;
    thế nên Như lai
    trong đại hội này
    trùng tuyên cho họ
    thể nhận Không lý.

    (4) Không thì thân này
    tựa như xóm vắng,
    lục tặc ở đó
    mà không biết nhau ;
    nhóm giặc sáu cảnh
    dựa riêng sáu căn
    mà không biết nhau
    cũng y như vậy.

    (5) Nhãn căn thường nhìn
    vào nơi sắc cảnh,
    nhĩ căn liên tục
    nghe vào thanh cảnh,
    tỷ căn thường ngửi
    vào nơi hương cảnh,
    thiệt căn vị giác
    vào nơi mỹ vị,

    (6) thân căn tiếp nhận
    xúc giác mềm dịu,
    ý căn biết pháp
    có chán bao giờ :
    như vậy sáu căn
    khởi theo yếu tố,
    cùng nơi cảnh riêng
    mà sinh phân biệt.

    (7) Thức như ảo hóa
    đâu phải chắc thật,
    nó dựa vào cảnh
    mà vọng tham cầu.
    Như người bôn ba
    trong xóm trống vắng,
    sáu thức cũng vậy
    dựa vào sáu căn.

    (8) Thức dông khắp cả
    chuyển theo vị trí,
    dựa căn vin cảnh
    mà biết mọi sự :
    đắm sắc thanh hương
    say vị xúc pháp,
    và riêng với pháp
    tầm tư không ngừng.

    (9) Thức theo duyên tố
    đi khắp sáu căn,
    tựa như con chim
    bay trong không gian.
    Nhưng phải nhờ căn
    làm chỗ y cứ
    thức mới nhận thức
    đối với các cảnh.

    (10) Không là tri giả,
    không là tác giả ([52])
    thân không bền chắc,
    có do yếu tố.
    Tất cả là sinh
    từ vọng phân biệt,
    chỉ như bộ máy :
    chuyển động vì Nghiệp.

    (11) Đất nước lửa gió
    chung thành thân thể,
    và tùy yếu tố
    kết quả khác nhau.
    Nhưng ở một chỗ
    mà chúng hại nhau,
    như bốn rắn độc
    ở trong một hộp.

    (12) Bốn rắn tứ đại
    bản tính khác nhau,
    cùng trong một thân
    vẫn có thăng trầm,
    hoặc lên hoặc xuống
    khắp cả châu thân,
    thế nên chung cục
    qui về diệt vong.

    (13) Bốn con rắn độc
    tứ đại như vậy,
    đất nước hai loại
    đa số trầm xuống,
    gió lửa hai loại
    tính lại nhẹ bổng,
    do mâu thuẫn ấy
    bịnh hoạn phát sinh.

    (14) Tâm thức dựa vào
    cái thân như vậy,
    tạo nghiệp lành dữ
    đủ mọi dạng thức.
    Rồi trong trời người
    hay ba đường dữ
    tùy theo nghiệp lực
    mà nhận thân hình.

    (15) Thân hình ấy bịnh,
    rồi thân hình chết ;
    bịnh thì đại tiểu
    từ thân thoát ra,
    chết thì thối rã
    giòi bọ ghê tởm,
    vất ở rừng thây ([53])
    như vất gỗ mục.

    (16) Đại hội hãy xét
    thân là như vậy,
    tại sao chấp là
    bản ngã, sinh thể  ?
    Phải xét các pháp
    toàn là vô thường,
    toàn do năng lực
    vô minh khởi động.

    (17) Bốn thứ đại chủng
    toàn bộ hư vọng,
    bản chất không thật
    thật thể không sinh,
    nên Như lai nói
    đại chủng toàn không,
    thì biết phù hư
    không phải thật có.

    (18) Và chính vô minh
    tự tánh vốn không,
    có ra chỉ vì
    yếu tố hóa hợp,
    làm cho lúc nào
    cũng mất tuệ giác,
    nên Như lai nói
    đó là vô minh.

    (19) Do hành với thức
    mà có danh sắc,
    lục nhập và xúc
    cũng sinh từ đó,
    do ái thủ hữu
    có sinh già chết,
    lo buồn khổ não
    theo mãi chúng sinh.

    (20) Khổ não ác nghiệp
    ràng buộc bức bách,
    sinh tử luân hồi
    vì vậy không nghỉ.
    Bản lai phi hữu,
    thể tánh là không ;
    vì không như lý,
    phân biệt sinh ra.

    (21) Như lai đã diệt
    mọi thứ phiền não,
    thường do chánh trí
    hiện hành mà sống :
    biết nhà ngũ uẩn
    toàn là trống rỗng,
    tiến chứng bồ đề
    nơi thật chân thật.

    (22) Như lai mở cửa
    đại thành cam lộ,
    chỉ cho đồ chứa
    cam lộ vi diệu.
    Tự mình đã được
    chân cam lộ vị,
    lại đem cho người
    cam lộ vị ấy.

    (23) Như lai gióng lên
    trống pháp tối thắng,
    Như lai thổi lên
    loa pháp tối thắng,
    Như lai đốt lên
    đèn pháp tối thắng,
    Như lai mưa xuống
    nước pháp tối thắng.

    (24) Chiến thắng phiền não
    cùng bao oán kết,
    Như lai dựng lên
    cờ pháp tối thượng.
    Từ biển sinh tử
    cứu vớt chúng sinh,
    Như lai đóng cửa
    ba nẻo đường dữ.

    (25) Phiền não lửa dữ
    thiêu đốt chúng sinh,
    không ai cứu cho
    không nơi nương tựa.
    Cam lộ mát ngọt
    làm cho sung mãn,
    thân tâm nóng bức
    đều loại trừ cả.

    (26) Do vậy Như lai
    trong vô số kiếp
    tôn kính hiến cúng
    chư vị Như lai,
    kiên trì giới pháp
    bước tới bồ đề,
    mong chứng pháp thân
    thể hiện an lạc.

    (27) Như lai đem cho
    tai mắt chân tay,
    vợ con tôi tớ
    cũng không tiếc lẫn,
    tài sản vàng ngọc
    cả đồ trang sức,
    tùy ai cầu gì
    Như lai cho cả.

    (28) Tu hành khắp cả
    sáu ba la mật,
    viên mãn mười địa
    mà thành chánh giác,
    thế nên được tôn
    bậc Nhất thế trí,
    không một ai khác
    lường nổi Như lai.

    (29) Giả sử đất đai
    đại thiên thế giới
    tất cả mọi nơi
    đều mọc cây cối,
    cây lùm cây rừng
    lúa mè tre lau
    cùng với bao nhiêu
    chủng loại cây khác.

    (30) Cây cối như vậy
    đều đốn chặt hết,
    và đem nghiền nhỏ
    thành vi trần cả  ;
    tụ vi trần ấy
    thành khối thành đống,
    cho đến tụ lại
    đầy cả không gian.

    (31) Tất cả quốc độ
    khắp cả mười phương
    có được bao nhiêu
    đại thiên thế giới,
    đất đai trong đó
    cũng nghiền thành bụi,
    số lượng bụi ấy
    hết cách tính toán.

    (32) Giả sử trí tuệ
    của cả chúng sinh
    gom lại thành ra
    trí tuệ một người,
    và người như vậy
    nhiều đến vô số,
    có thể biết được
    số bụi nói trên.

    (33) Nhưng chỉ một thoáng
    tuệ giác Như lai,
    mà những người trên
    chung nhau suy lường
    trong những đời kiếp
    nhiều đến vô số,
    cũng không tính toán
    biết được phần ít.

    Bấy giờ đại hội nghe đức Thế tôn trùng tuyên về cái Không sâu xa, thì có vô lượng chúng sinh thấu triệt bốn đại năm uẩn thể tánh toàn không, sáu căn sáu cảnh chỉ ràng buộc một cách giả dối. Ai cũng nguyện bỏ luân hồi, chính xác tu tập giải thoát, thâm tâm vui mừng, phụng trì đúng lời đức Thế tôn chỉ dạy.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 30]

    Phẩm 10 – Mãn Nguyện Vì Không

    Trong đại hội có thiên nữ Như ý bảo quang diệu, nghe đức Thế tôn tuyên thuyết diệu pháp sâu xa, thì hoan hỷ, phấn chấn, từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính mà thưa, bạch đức Thế tôn, xin đức Thế tôn dạy cho chúng con cách tu hành về diệu pháp sâu xa. Thiên nữ nói lời chỉnh cú sau đây.

    Đấng Soi thế giới !
    đấng Lưỡng túc tôn !
    đấng Tối thắng nhất !
    con xin hỏi Ngài
    về cách bồ tát
    tu hành chính xác.
    Xin Ngài từ bi
    cho phép con hỏi.

    Đức Thế tôn dạy, thiện nữ thiên, có điều gì nghi hoặc thì tùy ý mà hỏi. Như lai sẽ giảng giải cho. Thiện nữ thiên liền thỉnh vấn đức Thế tôn, rằng

    Các vị bồ tát
    làm sao tu hành
    bồ đề chánh hạnh,
    rời cả sinh tử
    cùng với niết bàn
    mà lợi mình người  ?

    Đức Thế tôn dạy, thiện nữ thiên, hãy dựa pháp tánh mà hành bồ đề, tu bình đẳng hạnh. Dựa pháp tánh mà hành bồ đề, tu bình đẳng hạnh là thế nào  ? Là chính nơi ngũ uẩn mà phát hiện pháp tánh. Pháp tánh là ngũ uẩn. Nhưng ngũ uẩn với pháp tánh không thể nói tức, cũng không thể nói rời. Nếu nói pháp tánh tức ngũ uẩn thì thế là đoạn kiến, nếu nói pháp tánh rời ngũ uẩn thì thế là thường kiến. Phải rời cả hai khái niệm, không vướng hai cực đoan, không thể thấy, vượt trên sự thấy, không danh từ, không ấn tượng, như thế mới là nói về pháp tánh.

    Thiện nữ thiên, chính nơi ngũ uẩn mà phát hiện pháp tánh là thế nào  ? Là xét ngũ uẩn không do yếu tố tương quan mà phát sinh. Nếu nói do yếu tố mà phát sinh, thì đã sinh mà sinh, hay chưa sinh mà sinh  ? Nếu nói đã sinh mà sinh thì cần gì yếu tố  ? Nếu nói chưa sinh mà sinh thì sự sinh ấy không thể có được. Chưa sinh là không có, không có danh từ, không có khái niệm, không phải tính toán hay ví dụ mà diễn tả được, vì đâu phải là cái do yếu tố tương quan mà sinh ra. Thiện nữ thiên, hãy nói như tiếng trống : do gỗ, do da, do dùi, do tay, do đủ thứ mới có tiếng phát ra. Tiếng ấy quá khứ đã không có, vị lai sẽ không có, hiện tại cũng không có. Tại sao, vì tiếng ấy không do gỗ mà có, không do da mà có, không do dùi do tay mà có, không có cả trong ba thì gian, thì thế là không sinh. Không sinh thì không diệt. Không diệt thì không đến từ đâu. Không đến từ đâu thì không đi đến đâu. Không đi đến đâu thì phi thường phi đoạn. Phi thường phi đoạn thì phi nhất phi dị. Nếu là nhất thì không khác pháp tánh, mà nếu thế thì phàm phu đáng lẽ thấy được pháp tánh, được niết bàn tối thượng an lạc ; nhưng đã không phải như vậy thì biết phi nhất. Nếu là dị thì chư vị Như lai và chư vị Bồ tát thi hành toàn là chấp trước, chưa được giải thoát, không chứng bồ đề ; nhưng đối với thánh giả thì cái ngũ uẩn chuyển biến với cái pháp tánh phi chuyển biến đồng là thật tánh, thế nên phi dị. Do vậy mà biết ngũ uẩn phi hữu phi vô, phi do yếu tố phát sinh, phi không do yếu tố phát sinh, và là cái thánh trí biết đến, không phải lĩnh vực của người khác ; lại là cái không phải ngôn ngữ diễn tả, không danh từ, không khái niệm, không nhân tố, không duyên tố, không thể ví dụ, đầu cuối vắng lặng, xưa nay tự không. Như thế đó gọi là chính nơi ngũ uẩn mà phát hiện pháp tánh. Thiện nữ thiên, thiện nam hay thiện nữ nào muốn cầu vô thượng bồ đề thì phải phi chân phi tục, vượt quá suy lường, phàm cảnh thánh cảnh phi nhất phi dị, [nói tóm], không bỏ tục, không rời chân, thì đó là dựa pháp tánh mà hành bồ đề.

    Đức Thế tôn dạy như vậy rồi, thiện nữ thiên phấn chấn hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính, nhất tâm đảnh lễ, mà thưa, bạch đức Thế tôn, đúng như lời Ngài đã huấn dụ về bồ đề hạnh, con nguyện xin tu học.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 31]

    Bấy giờ đại phạn thiên vương chủ của thế giới hệ Sách ha, ở trong đại hội, hỏi thiện nữ thiên Như ý bảo quang diệu, rằng bồ đề hạnh như vậy thật khó tu tập, thiện nữ làm sao tự tại được với bồ đề hạnh ấy  ? Thiện nữ thiên nói, đại phạn vương, như lời Thế tôn huấn dụ thì thật sâu xa, chúng sinh khó mà nhận thức, vì đó là lĩnh vực của thánh giả, nhiệm mầu, khó biết. Nhưng, đối với diệu pháp ấy tôi sống được yên vui trong đó, nếu lời này mà thật thì ước nguyện toàn thể chúng sinh trong cái thời kỳ đầy cả năm thứ dơ bẩn này đều thành màu hoàng kim, đủ ba mươi hai tướng tốt, phi nam phi nữ, ngồi tòa sen ngọc, hưởng vô lượng yên vui, thiên hoa tự mưa xuống, thiên nhạc tự tấu lên, mọi cách hiến cúng đầy đủ tất cả. Thiện nữ thiên nói rồi, tất cả chúng sinh trong thời kỳ đầy cả năm thứ vẩn đục này đều thành màu hoàng kim, đủ tướng đại trượng phu, phi nam phi nữ, ngồi tòa sen ngọc, hưởng vô lượng yên vui y như Tha hóa tự tại thiên cung, không mọi đường dữ, cây ngọc có hàng có lối, hoa sen bảy chất liệu quí đầy cả thế giới, lại mưa xuống thiên hoa bảy chất liệu quý rất đẹp, thiên nhạc tấu lên. Và thiện nữ thiên Như ý bảo quang diệu thì biến thể nữ thân thành thân đại phạn vương. Bấy giờ đại phạn vương hỏi thiện nữ thiên Như ý bảo quang diệu, ngài hành bồ đề hạnh như thế nào  ? Thiện nữ thiên nói, đại phạn vương, như trăng dưới nước hành bồ đề hạnh thì tôi cũng hành bồ đề hạnh, như chiêm bao hành bồ đề hạnh thì tôi cũng hành bồ đề hạnh, như sóng nắng hành bồ đề hạnh thì tôi cũng hành bồ đề hạnh, như tiếng vang hành bồ đề hạnh thì tôi cũng hành bồ đề hạnh. Đại phạn vương nghe nói như vậy thì thưa rằng, kính bạch bồ tát, ngài dựa vào ý nghĩa nào mà nói như vậy  ? Thiện nữ thiên trả lời, đại phạn vương, không một pháp nào là thực tại, toàn do yếu tố tương quan mà thành. Đại phạn vương nói, nói như ngài thì phàm phu lẽ đáng được vô thượng bồ đề cả ! Thiện nữ thiên nói, ngài nói như vậy là với ý gì  ? [Ngài nên biết, phàm phu thì cho] người ngu khác, người trí khác, bồ đề khác, phi bồ đề khác, giải thoát khác, phi giải thoát khác ; nhưng, đại phạn vương, [thánh giả thì thấy] các pháp như vậy bình đẳng không khác, biết pháp tánh chân như phi nhất phi dị, cũng không có cái trung tính để mà chấp trước, bất tăng bất giảm. Đại phạn vương, như nhà ảo thuật và đồ đệ của mình, rất rành ảo thuật, đến chỗ ngã tư, dùng những vật liệu cát đất cỏ cây vân vân, gom lại một chỗ mà làm ảo thuật. Làm cho người ta thấy những voi, những ngựa, những xe, vân vân, thấy đống bảy loại quí báu, thấy kho lẫm tràn đầy. Rồi kẻ khờ khạo không biết suy xét, không hiểu ảo thuật, nên thấy hay nghe gì cũng cho là thật, voi thật ngựa thật vân vân, và chỉ thế là thật, ngoài ra là dối cả, sau đó không còn suy xét gì nữa. Còn người hiểu biết thì trái lại, biết cái gốc ảo thuật, nên thấy hay nghe gì cũng nghĩ, những thứ ta thấy, thấy voi thấy ngựa vân vân, toàn là giả cả, chỉ do ảo thuật mê hoặc mắt người, vọng cho là voi, là lẫm, nhưng chỉ có tên, không có thật, nên cái ta thấy nghe không nên chấp là thật, sau đó càng xét biết là dối trá. Do vậy, trí giả thì biết các pháp không thật, chỉ do thế nhân thấy gì nghe gì thì nói ra như thế, chứ xét cho kỹ thì không phải như thế. Và như thế thì cũng do nói giả mà xét ra nghĩa thật. Đại phạn vương, chúng sinh chưa có mắt tuệ của các vị thánh giả, chưa biết chân như của các pháp là không thể nói, nên thấy hay nghe cái pháp hữu vi chuyển biến với cái pháp vô vi phi chuyển biến thì tư duy y theo thấy nghe và chấp cho là thật ; trong chân đế, họ không thể thấu hiểu chân như các pháp là không thể nói. Còn các vị thánh giả thấy hay nghe cái pháp hữu vi chuyển biến với cái pháp vô vi phi chuyển biến, thì tùy trí lực mà không chấp là thật có, thấu hiểu tất cả không có gì là hữu vi chuyển biến, không có gì là vô vi phi chuyển biến, chỉ vọng tưởng là chuyển biến phi chuyển biến, chỉ có tên không có thật. Thế rồi các vị thánh giả ấy tùy tục đế mà nói cho người khác biết sự thật là như vậy. Đại phạn vương, các vị thánh giả sử dụng sự thấy biết của bậc thánh, thấu hiểu chân như là không thể nói, chuyển biến phi chuyển biến cũng như vậy, nhưng vì làm cho người khác cũng biết như vậy nên nói ra bao nhiêu dạng thức của danh ngôn tục đế. Bấy giờ đại phạn vương lại hỏi bồ tát Như ý bảo quang diệu, rằng có bao nhiêu chúng sinh hiểu được cái pháp sâu xa như thế này  ? Bồ tát nói, đại phạn vương, có tâm vương và tâm sở của những người được ảo thuật tạo ra biết được cái pháp sâu xa này. Đại phạn vương nói, người ảo thuật thì không thật có, vậy tâm vương tâm sở có từ đâu  ? Bồ tát nói, [lời tôi nói có nghĩa] nếu biết pháp tánh phi hữu phi vô, thì người ấy biết được nghĩa lý sâu xa này.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 32]

    Đại phạn vương thưa đức Thế tôn, bạch Ngài, vị bồ tát Như ý bảo quang diệu này thật bất khả tư nghị, thông suốt đến như vậy đối với nghĩa lý cực kỳ sâu xa. Đức Thế tôn dạy, đúng như vậy, đại phạn vương, đúng như ông nói. Thiện nữ thiên Như ý bảo quang diệu đã từ lâu giáo huấn cho các người phát tâm tu học vô sinh pháp nhẫn. Đại phạn vương cùng với phạn chúng, liền đứng dậy khỏi chỗ họ ngồi, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính, lạy ngang chân bồ tát Như ý bảo quang diệu mà nói như vầy, thật là hiếm có, ngày nay chúng tôi hạnh ngộ đại sĩ, được nghe pháp nghĩa đại sĩ nói. Đức Thế tôn bảo đại phạn vương, vị thiện nữ thiên Như ý bảo quang diệu này, trong thì vị lai sẽ thành Phật đà, danh hiệu là Bảo diệm cát tường tạng, bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp, bậc Hoàn hảo sự sáng, bậc Khéo qua niết bàn, bậc Lý giải vũ trụ, bậc Không ai trên nữa, bậc Thuần hóa mọi người, bậc Thầy cả trời người, bậc Tuệ giác hoàn toàn, bậc Tôn cao nhất đời.

    Khi đức Thế tôn tuyên thuyết pháp thoại này thì có ba ngàn ức bồ tát không còn thoái chuyển vô thượng bồ đề, tám ngàn ức thiên tử và vô số quốc vương cùng thần dân đều xa bụi bặm, rời dơ bẩn, được sự trong sáng của mắt pháp.

    Bấy giờ trong đại hội có năm mươi ức Bí sô hành bồ tát hạnh mà muốn thoái chuyển bồ đề tâm, nhưng khi nghe bồ tát Như ý bảo quang diệu thuyết pháp như trên thì ai cũng được sự kiên định bất khả tư nghị, thỏa mãn ước nguyện tối thượng, phát lại bồ đề tâm, và cởi pháp y mà hiến lên bồ tát, phát lại cái chí thắng tiến tối thượng, và nguyện rằng bao nhiêu thiện căn của chúng tôi đều được không còn thoái chuyển, hồi hướng về vô thượng bồ đề. Đức Thế tôn nói với đại phạn vương, các vị Bí sô này do công đức này mà tu hành đúng như huấn dụ, qua chín mươi đại kiếp thì sẽ được chứng ngộ, thoát ly sinh tử. Đức Thế tôn liền thọ ký cho, rằng chư vị Bí sô, qua ba mươi vô số kiếp, chư vị sẽ được thành Phật đà, với thời kỳ tên Nan thắng quang vương, quốc độ tên Vô cấu quang. Chư vị đồng thời chứng đắc vô thượng bồ đề, đồng một danh hiệu Nguyện trang nghiêm gián sức vương, đủ mười đức hiệu.

    Đại phạn vương, bản kinh nhiệm mầu Ánh sáng hoàng kim này ai chính xác nghe nhớ thì có uy lực rất lớn. Giả sử có ai tu hành sáu ba la mật trong trăm ngàn đại kiếp mà không có [sự nhận thức về Không làm] phương tiện, mặt khác, nếu có thiện nam hay thiện nữ nào sao chép kinh Ánh sáng hoàng kim này, cứ mỗi nửa tháng đọc tụng chuyên chú, thì cái khối công đức này, công đức trước không bằng một phần trăm, đến nỗi toán số hay ví dụ cũng không đối chiếu được. Đại phạn vương, do vậy mà Như lai khuyến khích các người tu học, chánh niệm, thọ trì, tuyên thuyết phong phú. Tại sao, vì xưa kia, khi Như lai đi trên đường đi bồ tát thì, như dũng sĩ xung trận, Như lai không tiếc tính mạng mà lưu thông bản kinh vua chúa và nhiệm mầu này, tiếp nhận, ghi nhớ, nghiên cứu, tụng thuộc, giải thích cho người. Đại phạn vương, luân vương còn thì thất bảo còn, luân vương mất thì thất bảo cũng tự nhiên mất theo. Cũng y như vậy, Đại phạn vương, kinh vua Ánh sáng hoàng kim này nếu còn thì pháp bảo tối thượng còn cả, nếu không còn thì pháp bảo cũng ẩn mất hết. Do vậy, đối với kinh vua này, các người phải chuyên tâm mà lắng nghe, mà ghi nhớ, nghiên cứu, tụng thuộc, giải thích phong phú cho bao người khác, khuyến khích họ cũng sao chép và tu hành bằng sự tinh tiến ba la mật, không tiếc tính mạng, không nài mệt nhọc. Đó là công đức siêu việt trong các công đức. Là đệ tử của Như lai thì các người phải siêng năng tu học như vậy. Đại phạn vương với vô số phạn chúng, Đế thích cùng bốn vị Thiên vương với bộ chúng Dược xoa, tất cả đều từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính mà thưa, bạch đức Thế tôn, chúng con cùng nhau nguyện giữ gìn và quảng bá kinh Ánh sáng hoàng kim này, nguyện giữ gìn cho các vị pháp sư giảng nói kinh này. Có tai nạn gì chúng con cũng trừ khử, làm cho có đủ mọi sự cát tường, sắc tướng và sức lực sung túc, hùng biện vô ngại, cơ thể và tâm trí đều thư thái cả. Và cả thính giả nữa cũng yên vui hết thảy. Quốc gia họ ở nếu bị đói khát, giặc giã, kẻ thù, quỉ thần, quấy rối và tác hại thì chư thiên chúng con sẽ hộ trì cho. Dân chúng mà yên ổn, sung túc, không oan khuất, không tai họa, là do sức của chư thiên chúng con. Ai hiến cúng kinh này thì chúng con tôn kính hiến cúng y như đối với đức Thế tôn, không khác gì cả. Đức Thế tôn bảo đại phạn vương, phạn chúng, cho đến bốn vị Thiên vương, cùng bộ chúng Dược xoa, lành thay, các người đã được nghe diệu pháp sâu xa, đối với kinh vua của diệu pháp ấy lại phát tâm hộ trì, hộ trì những ai thọ trì kinh ấy, thì các người đã đạt được cái phước thù thắng và vô biên, mau chóng thành tựu vô thượng bồ đề. Đại phạn vương, và mọi người đồng đẳng, nghe những lời đức Thế tôn huấn dụ thì hoan hỷ, cung kính mà tiếp nhận.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 33]

    Phẩm 11 -Thiên Vương Quan Sát

    Vào lúc bấy giờ, thiên vương Đa văn, thiên vương Trì quốc, thiên vương Tăng trưởng, thiên vương Quảng mục, bốn vị cùng từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay hướng về đức Thế tôn, đảnh lễ ngang chân của Ngài, thưa rằng, bạch đức Thế tôn, bản kinh Ánh sáng hoàng kim này chư vị Thế tôn thường quan tâm, chư vị Bồ tát thường tôn kính, các bộ thiên long thường hiến cúng, tất cả chư thiên thường vui mừng, tất cả hộ thế thường ca tụng. Kinh này chư vị Thanh văn và chư vị Độc giác cùng nhau thọ trì. Kinh này có năng lực chiếu sáng cung điện chư thiên, có năng lực ban cho chúng sinh sự yên vui thượng thặng, có năng lực làm ngưng sự khổ sở trong các đường dữ, có năng lực loại trừ mọi sự sợ hãi, giải tỏa mọi sự thù địch, làm no những lúc đói khát, làm lành những bịnh truyền nhiễm, mọi tai biến với hàng trăm hàng ngàn khổ não đều tiêu tan cả. Bạch đức Thế tôn, kinh Ánh sáng hoàng kim năng lực làm được những lợi lạc như vậy, lợi ích cho chính chúng con. Kính xin đức Thế tôn, trong đại hội này, tuyên thuyết phong phú thêm nữa cho chúng con. Bốn thiên vương chúng con, cùng tùy thuộc của mình, được nghe pháp vị cam lộ tối thượng như thế này, thì khí lực sung mãn, uy quang tăng thêm, tinh tiến sẽ dũng mãnh hơn, thần lực sẽ phát triển hơn.

    Bạch đức Thế tôn, bốn thiên vương chúng con làm theo chánh pháp, nói theo chánh pháp, thường đem chánh pháp mà phục vụ thế giới. Chúng con lại làm cho tám bộ thiên long, cùng các vị quốc vương, cũng thường đem chánh pháp mà phục vụ thế giới, ngăn chận và hủy diệt những điều ác. Bao nhiêu quỉ thần không có từ tâm, hấp tinh khí của người, thì chúng con làm họ phải đi thật xa. Bạch đức Thế tôn, bốn thiên vương chúng con, cùng đại tướng của hai mươi tám bộ chúng Dược xoa, với vô số trăm ngàn Dược xoa tùy thuộc, dùng thiên nhãn trong suốt hơn thị lực của nhân loại mà quan sát và hộ trì cho đại lục Thiệm bộ này. Do vậy mà, bạch đức Thế tôn, chúng con được gọi là những người hộ vệ thế giới.

    Trong đại lục Thiệm bộ này, nếu có quốc vương nào quốc gia bị giặc thù xâm phạm luôn, quốc dân bị đói khát và tật dịch ([54]) hoành hành, bị hàng trăm hàng ngàn tai ách, thì, bạch đức Thế tôn, chúng con [vì họ mà] cung kính hiến cúng kinh Ánh sáng hoàng kim. Và nếu có vị pháp sư Bí sô nào thọ trì đọc tụng kinh này thì chúng con cùng đến mà thức tỉnh, khuyến thỉnh vị ấy ; vị ấy, do thần lực của chúng con thức tỉnh khuyến thỉnh, nên đến quốc gia nói trên, tuyên thuyết rộng rãi bản kinh nhiệm mầu Ánh sáng hoàng kim. Do thần lực của kinh này mà hàng trăm hàng ngàn những sự tai ách đều bị loại trừ. Bạch đức Thế tôn, các vị quốc vương, khi có vị pháp sư Bí sô thọ trì kinh này đi đến quốc gia của họ, thì họ phải biết kinh này cũng đến quốc gia của họ. Do vậy, bạch đức Thế tôn, các vị quốc vương ấy hãy đến chỗ vị pháp sư mà lắng nghe vị ấy diễn giảng kinh này. Nghe rồi hoan hỷ, cung kính hiến cúng vị pháp sư, thâm tâm hộ trì cho vị ấy khỏi lo lắng để tuyên thuyết kinh này, lợi ích tất cả. Bạch đức Thế tôn, chính vì kinh này mà bốn thiên vương chúng con cùng nhau nhất tâm hộ trì vị quốc vương kia, cùng quốc dân của ông, làm cho xa rời tai họa, thường thường yên ổn. Bạch đức Thế tôn, nếu có vị Bí sô, Bí sô ni, ô ba sách ca, ô ba tư ca nào thọ trì kinh này, vị quốc vương kia nên hiến cúng, cung cấp những thứ cần dùng, không để thiếu thốn, thì bốn thiên vương chúng con làm cho vị quốc vương kia, và quốc dân của ông, ai cũng yên ổn, tách xa tai họa. Bạch đức Thế tôn, có ai thọ trì đọc tụng kinh này mà vị quốc vương cung kính, hiến cúng, tôn trọng, tán dương, thì chúng con làm cho vị quốc vương ấy được cung kính tôn trọng nhất trong các vị quốc vương, các vị quốc vương ai cũng tán dương ca tụng.

    Đại hội nghe nói như vậy, ai cũng hoan hỷ, tiếp nhận và ghi nhớ.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 34]

    Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim – cuốn 6

    Phẩm 12 – Thiên Vương Hộ Quốc

    Vào lúc bấy giờ, đức Thế tôn nghe bốn vị thiên vương cung kính hiến cúng kinh Ánh sáng hoàng kim và hộ trì cho người thọ trì kinh ấy, thì tán dương rằng lành thay, bốn thiên vương, các người đã ở nơi vô số chư vị Như lai quá khứ cung kính hiến cúng tôn trọng tán dương, gieo trồng thiện căn, làm theo chánh pháp, nói theo chánh pháp, đem chánh pháp phục vụ thế giới. Đối với chúng sinh, các người trường kỳ nghĩ cách lợi ích, khởi tâm đại bi, nguyện đem yên vui lại cho họ. Chính vì lý do này mà làm các người hiện được hưởng thụ quả báo thù thắng. Nếu có quốc vương nào cung kính hiến cúng kinh Ánh sáng hoàng kim, thì các người phải siêng năng hộ trì cho [ông và quốc dân của ông] được yên ổn. Bốn thiên vương các người, và vô số dược xoa tùy thuộc, hộ trì kinh này, thì thế là hộ trì chánh pháp của chư vị Như lai quá khứ hiện tại vị lai, nên các người, với chư thiên và dược xoa, chiến đấu với tô la thì thường đắc thắng. Các người hộ trì kinh này thì do thần lực của kinh này mà loại trừ được mọi sự khổ não, giặc thù, đói khát, tật dịch. Do vậy, nếu thấy bốn chúng có ai thọ trì kinh vua này thì các người cũng nên siêng năng chung sức hộ trì, loại trừ suy tổn và đem lại yên vui cho họ.

    Bốn vị thiên vương, lúc ấy, từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính mà thưa, bạch đức Thế tôn, trong thì vị lai, nơi đất nước, thành thị, làng xóm, núi rừng, đồng nội, chỗ nào và lúc nào bản kinh vua Ánh sáng hoàng kim này lưu hành đến, thì quốc vương chỗ ấy và lúc ấy nên hết lòng lắng nghe, tán dương, hiến cúng, lại cung phụng cho những người trong bốn chúng thọ trì kinh này, thâm tâm hộ trì cho họ tách rời suy não. Vì lý do này, chúng con hộ trì cho quốc vương ấy, và cho quốc dân của ông, ai cũng yên ổn, rời xa lo buồn, thọ lượng tăng thêm, uy đức toàn hảo. Bạch đức Thế tôn, nếu quốc vương ấy thấy những người trong bốn chúng thọ trì kinh này mà cung kính hộ vệ như cha như mẹ, cung cấp những thứ nhu cầu, thì bốn thiên vương chúng con thường hộ vệ cho, làm cho ai cũng tôn kính. Chúng con và vô số các thần dược xoa, kinh vua này ở đâu cũng ẩn mình hộ vệ, không để bị cản trở. Chúng con cũng hộ vệ cho những thính giả, và quốc vương lắng nghe kinh này, loại trừ suy tổn và đem lại yên ổn cho họ, giặc thù từ xứ khác cũng được làm cho thoái tán. Thế nên nếu có quốc vương nào khi lắng nghe kinh này mà lân bang thù địch, động binh xâm lăng phá hoại thì, bạch đức Thế tôn, do thần lực của kinh này mà chúng con sẽ cùng vô số dược xoa tùy thuộc, ai cũng ẩn mình hỗ trợ, làm cho lân bang thù địch kia phải tự đầu hàng, không dám bước đến cương giới của quốc gia ấy, có đâu dám sử dụng vũ khí mà sát phạt ([55]).

    Đức Thế tôn dạy bốn vị thiên vương rằng tốt lắm, các người có thể hộ vệ như vậy đối với kinh này. Vô số kiếp quá khứ, Như lai đã tu đủ loại khổ hạnh, được vô thượng bồ đề, chứng nhất thế chủng trí, nên ngày nay mới tuyên thuyết kinh này. Nếu có quốc vương nào thọ trì kinh này, cung kính hiến cúng, thì [uy lực kinh này] sẽ làm cho quốc vương ấy hết suy tổn, được yên ổn, lại làm cho tất cả đất nước của quốc vương ấy đến nỗi giặc thù cũng phải thoái tán. Uy lực kinh này cũng làm cho tất cả quốc vương trong đại lục Thiệm bộ không có suy tổn, chinh chiến. Mà, các người nên biết, đại lục Thiệm bộ có tám mươi bốn ngàn quốc gia và quốc vương, quốc vương nào cũng thích thú, tự do, tài sản sung túc, hưởng thụ đầy đủ, không xâm lăng chiếm đoạt lẫn nhau. Ai cũng tùy phước nhân đời trước mà thụ hưởng phước quả đời này, không ai nghĩ xấu, ham chiếm nước khác. Ai cũng giảm thiểu ham muốn, muốn lợi kẻ khác, không gây cái khổ chinh chiến, đày ải. Dân chúng của các quốc vương ấy thì thương nhau, trên dưới hòa thuận như nước với sữa, mến trọng lẫn nhau, hoan hỷ thư nhàn, hiền lành khiêm tốn, tăng tiến thiện căn. Do vậy mà đại lục Thiệm bộ này yên vui, sung túc, dân chúng đông đảo, đất đai màu mỡ, lạnh nóng điều hòa, thời tiết thích hợp, nhật nguyệt tinh tú vận hành bình thường, gió mưa đúng lúc, không có tai ương, tài sản phong phú, tâm tính hào phóng, thường hành huệ thí, đủ mười thiện nghiệp, và chết thì đa số sinh chư thiên, thiên chúng tăng lên. Bốn thiên vương, trong thì vị lai, có quốc vương nào lắng nghe kinh này, cung kính hiến cúng và thọ trì kinh này, thì được bốn chúng ca tụng, lại lợi ích cho chính các người và tùy thuộc của các người là vô số dược xoa. Vì vậy mà các quốc vương thường nên lắng nghe bản kinh vua này. Chính cái nước chánh pháp cái vị cam lộ này tăng thêm sức mạnh và tư thế cho thân tâm các người, làm cho các người tinh tiến mạnh mẽ, đầy đủ phước đức uy quang. Các quốc vương ấy nếu hết lòng lắng nghe kinh này thì thế là đã đem sự hiến cúng lớn lao và hiếm có mà hiến cúng cho ta, Thích ca như lai. Hiến cúng Như lai là hiến cúng vô số chư vị Như lai trong quá khứ hiện tại vị lai. Hiến cúng tam thế Như lai thì được cái khối công đức bất khả tư nghị. Vì lý do ấy, các người nên hộ trì [cho các quốc vương ấy], cho hoàng gia của họ, cho thần trấn hoàng cung, ai cũng khỏi suy tổn, được an lạc, thiện căn khó lường. Quốc dân của các quốc vương ấy cũng hưởng thụ đủ loại lạc thú ngũ dục, mọi sự xấu ác tiêu tan tất cả.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 35]

    Bốn thiên vương lại thưa, bạch đức Thế tôn, trong thì vị lại, có quốc vương nào ưa thích lắng nghe kinh vua Ánh sáng hoàng kim để cầu mong bản thân và hoàng gia được sự yên vui bậc nhất ; để làm cho ngôi vua hiện tại được thịnh đạt ; để thu hoạch cái khối phước đức vô lượng ; để làm cho quốc dân và quốc gia của mình không bị thù địch, không lo buồn, không tai họa, thì, bạch đức Thế tôn, quốc vương ấy không nên phóng túng, nghĩ tưởng mông lung, mà phải cung kính, chân thành, thiết tha, muốn được lắng nghe tiếp nhận bản kinh vua tối thượng này. Muốn vậy thì trước hết quốc vương ấy phải trang hoàng một cung điện nào trong hoàng cung mà dễ thấy nhất và ông quí nhất, bằng cách đem nước thơm rưới đất, rải những bông hoa danh tiếng, đặt để pháp tòa sư tử đẹp nhất, trang khảm bằng ngọc quí, treo bảo cái tràng phan lên trên, rồi đốt hương liệu vô giá, tấu lên các loại âm nhạc. Bản thân quốc vương thì tắm rửa sạch sẽ, xoa hương thơm vào mình, mặc áo sạch và mới, đeo những chuỗi ngọc, nhưng ngồi trên cái ghế thấp nhỏ, không tự tôn, bỏ ngôi cao, rời ngạo mạn, đoan tâm chính niệm để chờ lắng nghe kinh vua này. Lại nữa, đối với vị pháp sư sẽ đến thì nghĩ tưởng là bậc đại sư ; đối với thân quyến thì sinh từ tâm, nhìn nhau vui vẻ, mặt hiền hòa, nói dịu ngọt, đối với bản thân thì tràn ngập một nỗi vui mừng lớn lao, nghĩ rằng tôi được lợi ích vĩ đại, ấy là được hiến cúng long trọng đối với bản kinh vua chúa. Quốc vương chuẩn bị như vậy rồi, thấy vị pháp sư đến thì lòng thành kính, khao khát, ngưỡng mộ.

    Đức Thế tôn dạy bốn thiên vương, quốc vương ấy không nên không đi rước vị pháp sư. Quốc vương ấy phải mặc đồ sạch sẽ, trang sức bằng những chuỗi ngọc, đích thân cầm lọng dù màu trắng và hương hoa, nghiêm chỉnh quân cách, dàn nhiều nhạc cụ, đi bộ mà ra khỏi cửa hoàng thành đón rước vị pháp sư, vận dụng tâm tưởng, hết lòng tôn kính mà làm cái việc cầu chúc cát tường. Bốn thiên vương, tại sao quốc vương phải đích thân làm việc tôn kính hiến cúng như vậy  ? Vì quốc vương lúc ấy cất chân lên, đặt chân xuống, mỗi bước đã là tôn kính hiến cúng vô lượng chư vị Như lai, đã là vượt qua ngần ấy nỗi khổ sinh tử, đã là tương lai được làm ngần ấy ngôi vị luân vương. Lại tùy mỗi bước mà hiện tại phước đức tăng trưởng, vương vị tự tại, cảm ứng khó lường, quần chúng kính trọng ; mà tương lai vô số kiếp được cung điện thất bảo trong nhân loại và trên chư thiên, sinh ra ở đâu cũng làm vua chúa, thọ lượng tăng thêm, nói năng thông suốt, người trời tin chịu, không e sợ gì, được tiếng khen lớn, ai cũng ngưỡng mộ, ở trong nhân thiên mà hưởng thụ hạnh phúc tuyệt diệu, được đại thế lực, có đại oai đức, thân tướng kỳ vĩ, uy nghiêm tột bậc, gặp được các đấng Nhân thiên sư, gặp được các bậc Thiêển tri thức, hoàn hảo cái khối phước đức vô lượng. Bốn thiên vương nên biết, quốc vương ấy thấy những lợi ích như vậy nên phải đích thân đi rước pháp sư từ một du thiện na cho đến hàng trăm hàng ngàn du thiện na. Hãy nghĩ tưởng vị pháp sư ấy là Như lai. Rước về hoàng thành rồi, nghĩ rằng thế là đức Thích ca thế tôn vào trong hoàng cung của tôi, nhận cho sự hiến cúng của tôi, nói cho tôi nghe về diệu pháp. Rằng nghe diệu pháp rồi tôi không còn thoái chuyển vô thượng bồ đề, được gặp vô lượng chư vị Thế tôn. Rằng ngày nay tôi đã tấu những nhạc cụ thượng thặng, và đem những cúng phẩm thù thắng, hiến lên tam thế Thế tôn. Rằng ngày nay tôi đã bạt nhổ vĩnh viễn cái khổ trong thế giới Diêm vương, đã gieo trồng hạt giống thiện căn của Phạn vương, Đế thích, Luân vương. Rằng việc tôi làm ngày nay sẽ làm cho vô số chúng sinh, thoát sinh tử được niết bàn, tích tụ cái khối phước đức bất khả tư nghị ; làm cho thân quyến và con dân của tôi yên ổn ; làm cho đất nước của tôi thanh bình, không tai họa, kẻ ác và giặc thù không thể quấy phá, xâm lược, rời xa mọi nỗi lo buồn. Bốn thiên vương, quốc vương ấy nên trân trọng như vậy đối với diệu pháp, lại nên hiến cúng cung kính tôn trọng tán dương đối với bốn bộ đệ tử Như lai. Rồi trước hết đem cái thắng phước của thiện căn này mà hồi hướng cho chính các người, và tùy thuộc của các người. Thì quốc vương ấy có cái phước đức rất lớn làm yếu tố, nên hiện tại được đại tự tại, tăng thêm uy quang, sự cát tường và tướng tốt đẹp đều trang nghiêm, và đối với mọi loại giặc thù ông có năng lực đem diệu pháp mà chiến thắng.

    Lúc ấy bốn thiên vương lại thưa, bạch đức Thế tôn, nếu quốc vương nào tôn kính diệu pháp, muốn nghe kinh vua được như vậy, lại tôn kính hiến cúng bốn bộ thọ trì kinh vua, [trong đó có vị pháp sư], và muốn làm cho chúng con hoan hỷ, thì gần một bên pháp tòa, hãy rưới nước thơm, rải bông hoa, đặt ghế bàn cho bốn thiên vương chúng con. Chúng con sẽ nghe pháp chung với quốc vương. Quốc vương được thiện căn thì cũng đem một phần cái phước của thiện căn ấy hồi hướng cho chúng con. Bạch đức Thế tôn, khi quốc vương thỉnh mời vị pháp sư bước lên pháp tòa, thì cũng có một phần vì chúng con mà đốt các danh hương hiến cúng kinh vua này. Bạch đức Thế tôn, khói hương ấy, trong khoảnh khắc, bay lên không gian, bay đến cung điện của chúng con, và biến thành hương cái ở trong không gian. Chư thiên chúng con liền nghe được hơi thơm của danh hương, và thấy khói hương có ánh sáng màu hoàng kim, chiếu rực cung điện của chúng con, chiếu đến cung điện của Phạn vương, của Đế thích, của Đại biện tài thiên, của Đại cát tường thiên, của Kiên lao địa thần, của Chánh liễu tri đại tướng, của chư thần hai mươi tám bộ dược xoa, của Đại tự tại thiên, của Kim cang mật chủ, của Bảo hiền đại tướng, của quỉ mẫu Ha lị để và năm trăm quỉ tử, của long vương hồ Vô nhiệt não, của long vương Đại dương. Bạch đức Thế tôn, chư thiên chư thần như vậy, nơi cung điện của mình, ai cũng thấy khói hương ấy trong khoảnh khắc biến thành hương cái, nghe hơi thơm của khói hương và thấy ánh sáng của khói hương đến khắp tất cả cung điện của chư thiên chư thần.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 36]

    Đức Thế tôn bảo bốn thiên vương, khói hương ấy, với hơi thơm và ánh sáng, không phải chỉ bay đến, biến thành hương vân hương cái và phóng ánh sáng lớn ở những cung điện [mà các người thấy được]. Khói hương do chính tay quốc vương tự bưng lò hương mà đốt lên để hiến cúng kinh vua ấy, trong khoảnh khắc, còn bay đến khắp đại thiên thế giới này với trăm ức nhật nguyệt, trăm ức núi Diệu cao, trăm ức bốn đại lục. Tại cung điện của tất cả tám bộ trong đại thiên thế giới này, khói hương ấy tràn đầy không gian, biến thành hương vân và hương cái, ánh sáng màu hoàng kim của vân cái này chiếu khắp cung điện chư thiên [và chư thần]. Tất cả hương vân và hương cái trong đại thiên thế giới này toàn là do cái lực của uy thần kinh vua Ánh sáng hoàng kim. Nhưng không phải khói hương do chính tay quốc vương bưng lò đốt lên hiến cúng kinh vua này chỉ bay đến khắp đại thiên thế giới này, mà, trong khoảnh khắc, cũng bay đến khắp vô lượng quốc độ của chư vị Như lai. Ở trên các Ngài, trong không gian, khói hương cũng [kết thành hương vân và] biến thành hương cái, chiếu ra ánh sáng hoàng kim. Đức Như lai nào cũng nghe hơi thơm của khói hương nhiệm mầu ấy, cũng nhìn thấy hương vân hương cái và ánh sáng hoàng kim ấy hiện ra khắp nơi vô lượng chư vị Như lai, thì chư vị Như lai cùng quan sát, và khác miệng cùng tiếng mà tán dương vị pháp sư, rằng lành thay bậc đại trượng phu, ông có năng lực quảng bá bản kinh sâu xa mầu nhiệm ! Như thế là ông đã thành tựu cái khối phước đức bất khả tư nghị. Ai lắng nghe ông giảng kinh này thì cái lượng công đức có được thật quá nhiều, huống chi sao chép, tiếp nhận, ghi nhớ, nghiên cứu, tụng thuộc, diễn nói cho người, làm đúng kinh dạy. Tại sao, vì, thiện nam tử, ai nghe bản kinh Ánh sáng hoàng kim này thì không còn thoái chuyển nữa đối với vô thượng bồ đề. Chư vị Như lai trong vô lượng quốc độ còn khác miệng cùng tiếng, ngồi ngay trên pháp tòa mà tán dương vị pháp sư, rằng lành thay thiện nam tử, trong đời sau, ông do tinh tiến lực mà tu được vô số khổ hạnh, đầy đủ hai loại tư lương phước đức và trí tuệ, siêu việt trên hiền thánh, vượt ra quá ba cõi, làm bậc tối tôn tối thắng, sẽ ngồi dưới bồ đề thọ vương một cách trang nghiêm thù thắng, năng lực cứu được chúng sinh có liên hệ với mình ([56]) ở trong đại thiên thế giới, khéo léo thắng được ma quân hình nghi đáng sợ, thực hiện cái tuệ giác biết các pháp một cách hơn hết, trong sáng, rất sâu, không gì trên nữa, rất chính xác và cùng khắp. Thiện nam tử, ông sẽ ngồi trên kim cang tòa, chuyển cái pháp luân vô thượng, được chư vị Như lai tán dương, đủ cả mười hai hành tướng mầu nhiệm, cực kỳ sâu xa. Ông gióng trống pháp vô thượng rất lớn, thổi loa pháp vô thượng rất mầu, dựng cờ pháp vô thượng rất cao, đốt đuốc pháp vô thượng rất sáng, mưa nước pháp vô thượng rất ngọt, cắt đứt vô lượng phiền não kết thắt, làm cho vô lượng chúng sinh vượt qua biển cả đáng sợ mà không bến bờ, chấm dứt sự luân hồi bất tận của sinh tử, gặp được vô lượng chư vị Như lai.

    Bốn thiên vương lại thưa, bạch đức Thế tôn, kinh Ánh sáng hoàng kim này, trong hiện tại vị lai, thành tựu được vô lượng công đức như vậy. Thế nên quốc vương nào được nghe bản kinh mầu nhiệm này là vì đã gieo trồng thiện căn nơi vô lượng chư vị Thế tôn. Chúng con sẽ hộ trì cho quốc vương ấy. Lại vì nhìn thấy vô lượng phước đức, nên bốn thiên vương chúng con, cùng với vô lượng chư thần tùy thuộc, khi tại cung điện của mình thấy khói hương biến hiện hương vân hương cái, thì ẩn mình đi, vì để được nghe pháp nên đến chỗ thuyết pháp là cung điện bậc nhất của hoàng cung quốc vương. Các vị Phạn vương, Đế thích, Đại biện tài thiên, Đại cát tường thiên, Kiên lao địa thần, Chánh liễu tri đại tướng, chư thần hai mươi tám bộ dược xoa, Đại tự tại thiên, Kim cang mật chủ, Bảo hiền đại tướng, quỉ mẫu Ha lị để và năm trăm quỉ tử, long vương hồ Vô nhiệt não, long vương Đại dương, vô lượng chư thiên và dược xoa cũng vì để được nghe pháp nên ẩn mình mà đến chỗ đặt pháp tòa cao để thuyết pháp là cung điện bậc nhất của quốc vương. Bạch đức Thế tôn, bốn thiên vương chúng con, với chư thần dược xoa tùy thuộc, sẽ một lòng cùng quốc vương làm thiện tri thức cho nhau. Vì ông là đại thí chủ pháp thí, đem cam lộ vị mà sung mãn cho chúng con, nên chúng con sẽ hộ vệ cho ông, loại trừ tai họa cho ông, làm cho ông được yên ổn, lại làm cho hoàng cung, quốc gia và quốc dân của ông tiêu tan được mọi thứ tai biến.

    Bốn thiên vương lại cùng nhau chắp tay mà thưa, bạch đức Thế tôn, nếu quốc vương nào trong quốc gia của mình có kinh này mà chưa quảng bá bao giờ, muốn rời bỏ, không thích lắng nghe, không hiến cúng ca tụng, thấy người trong bốn bộ đệ tử Thế tôn thọ trì kinh này cũng không tôn trọng hiến cúng, làm cho chúng con cùng thân thuộc, và vô lượng chư thiên, không ai được nghe diệu pháp rất sâu xa, mất vị cam lộ, mất nước chánh pháp, không còn uy quang và thế lực, nẻo dữ thêm lên, người trời bớt đi, rơi sông sinh tử, mất đường niết bàn. Bạch đức Thế tôn, bốn thiên vương chúng con, và những dược xoa tùy thuộc của chúng con, thấy như vậy nên bỏ quốc gia ấy, không có lòng nào hộ vệ. Chẳng những chúng con bỏ quốc gia của quốc vương ấy, mà các đại thiện thần có thệ nguyện hộ vệ đất nước cũng bỏ mà đi. Bỏ đi rồi, quốc gia ấy có đủ loại tai họa. Vị thế quốc gia bị mất ([57]). Quốc dân không có thiện tâm. Chỉ có tù đày, tàn hại, hận thù, đấu đá, dèm pha, dua nịnh, cô thế oan khuất, tật dịch hoành hành, sao chổi thường xuất hiện, hai mặt trời cùng xuất hiện ([58]), nhật thực nguyệt thực bất thường, hai cầu vồng đen trắng xuất hiện, sao sa, địa chấn, lòng giếng phát tiếng, mưa bạo, gió dữ, thời tiết hổn loạn, đói, mất mùa, kẻ thù và giặc giã thường từ xứ khác đến cướp phá xâm lược, quốc dân khổ sở, đất nước không có chỗ nào bình yên. Bạch đức Thế tôn, khi bốn thiên vương chúng con, vô lượng chư thiên thiện thần, cùng với thiện thần cũ hộ vệ quốc gia ấy, đều xa lánh cả, thì quốc gia ấy sinh ra lắm sự tai quái dữ dằng như vậy.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 37]

    Bạch đức Thế tôn, quốc vương nào muốn quốc gia vui vẻ, muốn quốc dân yên ổn, muốn chiến thắng ngoại địch cho đất nước thịnh vượng, muốn lưu bố chánh pháp cho nỗi khổ điều dữ tan biến, thì, bạch đức Thế tôn, quốc vương ấy nên lắng nghe kinh vua nhiệm mầu này, nên hiến cúng những người thọ trì kinh này. Làm như vậy thì chúng con với vô lượng chư thiên thiện thần, do cái thiện căn lực lắng nghe chánh pháp và uống cam lộ vị mà gia tăng thắng ích cho chúng con, cho tùy thuộc của chúng con, cho chư thiên thiện thần, tại sao, vì quốc vương ấy hết lòng lắng nghe tiếp nhận kinh này.

    Bạch đức Thế tôn, vì chúng sinh mà Phạn vương thường nói những luận thuyết xuất thế, mà Đế thích nói những luận thuyết đa dạng, và các tiên nhân ngũ thông cũng nói mọi thứ luận thuyết. Phạn vương, Đế thích và tiên nhân ngũ thông tuy có vô số luận thuyết, nhưng đức Thế tôn vì thương nhân loại và chư thiên mà tuyên thuyết kinh Ánh sáng hoàng kim thì, so với những luận thuyết trên, phẩm chất hơn đến vô số bội số, không thể nào ví dụ được nữa. Tại sao  ? Vì kinh ấy có năng lực làm cho bao nhiêu quốc vương của đại lục Thiệm bộ đều đem chánh pháp mà phục vụ quốc gia, có năng lực ban cho chúng sinh mọi sự an lạc, làm cho bản thân các quốc vương, cho hoàng gia và quốc dân của các quốc vương ấy, đều không bị khổ não, không bị giặc thù xâm lăng tàn hại, mọi sự dữ dằng đều đi rất xa, đất nước trừ hết tai họa, hoán cải bằng chánh pháp mà không còn mọi sự tranh tụng. Do vậy, các quốc vương mỗi người nơi quốc gia của mình hãy đốt lên ngọn đuốc chánh pháp mà soi sáng vô tận, tăng thêm chư thiên và tùy thuộc của chư thiên. Bạch đức Thế tôn, bốn thiên vương chúng con với vô lượng chư thiên thiện thần, bộ chúng dược xoa, với bao nhiêu chư thiên thiện thần trong đại lục Thiệm bộ, do việc làm của quốc vương ấy mà được uống cam lộ vị tối thượng, được đại uy đức, thế lực và ánh sáng có đủ tất cả, và tất cả chúng sinh cũng được yên ổn ; vị lai thì vô số kiếp thường hưởng hạnh phúc ; được gặp chư vị Thế tôn, gieo trồng thiện căn, để rồi chứng được vô thượng bồ đề. Vô lượng thắng ích như vậy toàn là do đức Thế tôn đem đại từ bi quá hơn Phạn vương, đem đại trí tuệ quá hơn Đế thích, đem đại khổ hạnh quá hơn các tiên nhân ngũ thông, đem những sự trải qua vô số kiếp ấy, vì chúng sinh mà tuyên thuyết bản kinh nhiệm mầu này, làm cho tất cả quốc vương và dân chúng trong toàn cõi đại lục Thiệm bộ hiểu được, trong phạm vi thế gian, những phương thức quản trị quốc gia và cải hóa quốc dân. Nhờ kinh này quảng bá mà nơi nào cũng được yên vui. Cái phước như vậy toàn là do từ bi lực của đức Thích tôn, vị thầy cao cả của chúng con, quảng bá rộng rãi kinh này. Bạch đức Thế tôn, vì vậy mà các quốc vương hãy thọ trì, hiến cúng cung kính tôn trọng tán dương bản kinh vua nhiệm mầu này. Tại sao, vì bản kinh này đem những phước đức bất khả tư nghị như vậy mà lợi ích tất cả, nên còn mệnh danh là bản kinh Chúa tể tối thượng. Bấy giờ đức Thế tôn dạy bốn thiên vương, các người, và tùy thuộc của các người, cùng với vô lượng chư thiên, thấy quốc vương nào hết lòng lắng nghe, hiến cúng cung kính tôn trọng tán dương kinh này, thì hãy hộ trì cho quốc vương ấy hết mọi suy tổn, và như vậy cũng làm cho các người hưởng thụ yên vui. Trong bốn bộ đệ tử của Như lai, ai quảng bá được kinh vua này, thì thế là ngay trong nhân loại và chư thiên, những người ấy làm việc Phật làm một cách rộng lớn, đem lại thắng ích cho vô số chúng sinh. Những người như vậy, bốn thiên vương các người hãy thường xuyên hộ vệ, đừng để họ bị việc khác quấy nhiễu. Hãy làm cho thân tâm của những người như vậy được yên tĩnh để quảng bá kinh vua này tồn tại liên tục, lợi ích chúng sinh cho đến cùng tận thì gian vị lai.

    Bây giờ Đa văn thiên vương từ chỗ ngồi đứng dậy mà thưa, bạch đức Thế tôn, con có một minh chú tên là Ngọc như ý. Người nào ưa thích thọ trì minh chú ấy thì công đức vô lượng. Con luôn luôn hộ vệ cho người ấy rời khổ được vui, có năng lực hoàn thành hai loại tư lương phước đức và trí tuệ. Muốn thọ trì minh chú ấy thì trước hết phải trì tụng minh chú giữ gìn bản thân. Đa văn thiên vương liền nói minh chú giữ gìn bản thân : Nam mô, Vai sra va na da ma ha ra ja da, tát da tha, ra, ra, ra, ra, ku nu, ku nu, khu nu, khu nu, sa pa, sa pa, ma ha vi ka ra ma, ma ha vi ka ra ma, ma ha ra ja, rát sa, rát săn tu, năng, sa ra, sát toa năng, soa ha. (Namo Vaisravanayamaharajaya tadyatha ra ra ra ra kunu kunu khunu khunu sapa sapa mahavikarama mahavikarama maharaja raksa raksantu nam sarva sattvanam svaha).

    Bạch đức Thế tôn, trì tụng minh chú này thì phải lấy chỉ trắng mà trì tụng bảy biến, mỗi biến thắt một gút, rồi buộc vào sau khuỷu tay, thì việc giữ gìn bản thân được thành tựu. Kế đó, phải tắm rửa sạch sẽ, mặc đồ sạch sẽ, rồi đem các hương liệu như an tức, chiên đàn, long não, tô hạp, đa yết la, huân lục, mỗi phần bằng nhau, trộn chung lại, tự tay bưng lò hương mà đốt hương liệu ấy để hiến cúng. Rồi ở trong cái phòng yên tĩnh ([59]) mà trì tụng mình chú triệu thỉnh con, Đa văn thiên vương. Đa văn thiên vương liền nói minh chú triệu thỉnh : Nam mô, Vai sra va na da, nam mô, Đa na đa da, Đa nết va ra da, a ka sá, a pa ri mi ta, đa nết va ra, pa ra ma, ka ru ni ka, sa va, sát toa hi ta chin ta, ma ma, đa na, va đa pa dê, soa dăm, a ka sa, soa ha. (Namo Vaisravanya namo Danadaya Danesvaraya akarsa aparimita danesvara parama karunika sarva sattvahitacinta mama dana vardhaparye svayam akarsa svaha).

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 38]

    Trì tụng minh chú này bảy biến rồi mới trì tụng minh chú căn bản là minh chú Ngọc như ý. Muốn trì tụng minh chú Ngọc như ý thì trước hết phải xướng hồng danh mà kính lạy Tam bảo, rồi lạy con, [với lời này : kính lạy] Đa văn thiên vương, người có năng lực ban cho tiền tài bảo vật, làm cho sở cầu mãn nguyện, thành tựu an lạc. Xướng lạy như vậy rồi trì tụng minh chú Ngọc như ý của con, Đa văn thiên vương, minh chú có năng lực đem cho người sự vui vẻ tùy ý. Đa văn thiên vương liền đối trước đức Thế tôn mà nói minh chú Ngọc như ý : Nam mô, rát na tra da da, nam mô, Vai sra ma na da, ma ha ra ja da, tát da tha, si mi, si mi, su mu, su mu, chăn đa, chăn đa, cha rê, cha rê, sa ra, sa ra, ka ra, ka ra, ki ri, ki ri, ku ru, ku ru, mu ru, mu ru, chu ru, chu ru, sa đa da, át ma năm, nít dăm, ăn ta ra, đa tu, soa ha ; nam mô, Vai sra ma na da, soa ha, đa na đa da, soa ha, na mô ra tha, pa ri pu ri ka da, soa ha. (Namo ratnatrayaya namo Vaisramanaya maharajaya tadyatha simi simi sumu sumu canda canda care care sara sara kara kara kiri kiri kuru kuru muru muru curu curu sadaya atmanam nityam antara dhatu svaha ; namo Vaisramanaya svaha dhanadaya svaha namoratha paripurikaya svaha).

    [Bạch đức Thế tôn], thọ trì minh chú Ngọc như ý thì trước hết tụng một ngàn biến, sau đó, nơi trong tịnh thất ([60]) dùng cù ma ([61]) bôi đất, làm một đàn tràng nhỏ. Tùy thời mà đem ẩm thực nhất tâm hiến cúng. Thường xuyên đốt hương quí, sao cho khói hương không ngớt. Rồi tụng minh chú Ngọc như ý, ngày đêm tập trung tâm trí vào đó. Tụng sao chỉ tai mình tự nghe, đừng để ai biết. Thì bấy giờ sẽ có con của con, Đa văn thiên vương, tên là vương tử Thiền ni si, hiện thân đồng tử, đến chỗ người trì tụng, hỏi người cần gì mà kêu gọi phụ vương của tôi  ? Người trì tụng hãy trả lời, rằng tôi muốn hiến cúng Tam bảo nên cần tiền của, xin thiên vương ban cho. Vương tử Thiền ni si nghe lời ấy rồi, tức tốc trở về, tâu với con, rằng thưa phụ vương, nay có thiện nhân muốn chí thành hiến cúng Tam bảo mà thiếu tiền của, vì vậy mà triệu thỉnh phụ vương. Con bảo, con đi gấp đi, mỗi ngày đem cho thiện nhân ấy một trăm ca lị sa ba na ([62]). Người thọ trì minh chú thấy như vậy thì biết việc thành được. Hãy một mình ở trong tịnh thất ấy, đốt hương mà nằm. Đặt một cái hộp thơm bên giường. Mỗi sáng sớm nhìn vào sẽ được của mình cầu. Mỗi khi được của thì nội ngày ấy hãy hiến cúng Tam bảo bằng hương hoa ẩm thực, lại đem cho những người nghèo thiếu. Phải sử dụng như vậy cho hết, không được cất giữ. Đối với chúng sinh phải sinh tâm từ bi, không được sinh lòng giận dữ, dối trá, dua nịnh, tác hại. Giận dữ thì tức khắc mất linh nghiệm. Phải thường xuyên giữ cho tâm chớ có giận dữ. Lại nữa, thọ trì minh chú Ngọc như ý thì mỗi ngày tưởng nhớ đến con, Đa văn thiên vương, cùng với con trai con gái thân quyến của con, ca tụng, tán dương, và thường đem mười thiện nghiệp mà hỗ trợ cho nhau, làm cho chư thiên chúng con phước lực càng sáng, thiện nghiệp càng lớn, chứng được bồ đề. Chư thiên chúng con thấy như vậy thì ai cũng rất hoan hỷ, cùng đến hộ vệ cho người thọ trì minh chú. Người thọ trì minh chú ấy thọ lượng lâu dài, vĩnh ly ba nẻo đường dữ, thường xuyên tuyệt hết tai nạn. Người ấy cũng được làm cho được ngọc như ý, được kho tàng ẩn trong lòng đất, thần lực tự tại, sở nguyện thành cả. Cầu quan chức, vinh hoa, không có gì không vừa ý. Lại còn hiểu được tiếng nói của chim muông.

    Bạch đức Thế tôn, thọ trì minh chú Ngọc như ý mà muốn nhìn thấy con tự hiện thân, thì ngày tám hoặc ngày rằm mỗi tháng, lấy vải trắng vẽ tượng đức Thế tôn, bằng cách dùng nhựa cây và nhiều màu mà tô vẽ. Người vẽ tượng phải được truyền thọ cho giới Bát quan trai. Bên trái tượng đức Thế tôn thì vẽ tượng Cát tường thiên nữ, bên phải tượng đức Thế tôn thì vẽ con, Đa văn thiên vương. Lại vẽ con trai con gái thân quyến của con. Rồi đặt để cho đúng phép. Bày ra bông hoa đủ màu, đốt lên hương liệu danh tiếng. Thắp đèn sáng luôn, ngày đêm không tắt. Aẫm thực thượng hạng và tinh tế, những thứ quí lạ, đều đem lòng thiết tha mà hiến cúng theo lúc. Thọ trì minh chú Ngọc như ý thì không được với tâm trí dễ dãi. Và khi triệu thỉnh con thì tụng minh chú này : Na ma hơ, Sri, kăn na da, bút đa da, nam mô, Vai sra ma na da, dát sa ra ja da, ma ha ra ja, a đi ra ja da, na ma hơ, sri dê, ma ha đêv dê, tát da tha, ta ra, ta ra, tu ru, tu ru, ba la, ba la, su sút đi, ha na, ha na, ma ni ka na ka, va rát vai đu ry da, múc ti ka lăm kri ta, sa ra ra da, sar va sát toa, hi ta ka ma, Vai sra ma na sri da, đê vi pra đa ya, ê hi, ê hi, ma vi lăm ba, gu ri na, gu ri na, pra si da, pra si da, đa đa hi, ma ma, a na ka na ma da, đa sá na, ka ma si da, đa săn năn, ma ma, ma na, pa ri ha ra đa da, soa ha. (Namah Sri kannaya buddhaya namo Vaisramanaya yaksarajaya maharaja adhirajaya namah sriye mahadevye tadyatha tara tara turu turu bala bala susuddhi hana hana manikanaka vajravaidurya muktikalamkrsta sariraya sarvasattva hitakama Vaisramanasriya devipradhaya ehy ehi mavilamba ghurna ghurna prasya prasya dadhahi mama amakanamaya darsana kamasya darsanan mama mana pariharadhaya svaha).

    Bạch đức Thế tôn, nếu con thấy người ấy tụng trì minh chú, lại thấy hiến cúng trang trọng như vậy, thì thương mến và hoan hỷ. Con liền biến thể làm thân thiếu nhi, thân lão trượng, hay thân Bí sô, tay cầm ngọc như ý và túi vàng mà vào đạo tràng, thân thì thể hiện tôn kính, miệng thì niệm hồng danh của đức Thế tôn, rồi nói với người thọ trì minh chú Ngọc như ý, rằng tùy người cầu gì tôi cũng làm cho như nguyện. Muốn ẩn rừng rú, muốn chế tạo ngọc, muốn mọi người yêu mến, muốn những thứ bạc vàng, muốn trì minh chú nào cũng linh nghiệm, muốn thần thông, trường thọ, thắng diệu lạc, không có gì không vừa ý. Tôi nay chỉ nói mấy việc như vậy. Muốn cầu gì nữa thì cũng tùy ý thành tựu. Kho báu thì vô tận, phước đức thì vô cùng. Giả sử mặt trời mặt trăng sa xuống mặt đất, hoặc đại địa có lúc di chuyển vị trí, lời nói chắc thật của tôi cũng không bao giờ vô hiệu quả, yên vui thường có, hạnh phúc tùy tâm.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 39]

    Bạch đức Thế tôn, có ai thọ trì kinh vua Ánh sáng hoàng kim mà đọc tụng minh chú Ngọc như ý, thì không mượn sự mệt nhọc nhiều lắm mà linh nghiệm vẫn mau chóng thành tựu. Bạch đức Thế tôn, nay con vì bao kẻ nghèo nàn, khốn khó, khổ não, mà tuyên thuyết minh chú Ngọc như ý là để cho họ được lợi ích lớn lao, được giàu vui, tự tại, vô bịnh, cho đến suốt đời vẫn được con hộ vệ, theo dõi người thọ trì minh chú mà loại trừ cho họ bao nhiêu tai ách. Con lại làm cho những người quảng bá mà duy trì kinh vua Ánh sáng hoàng kim, và những người thọ trì minh chú Ngọc như ý, trong chu vi mỗi phía trăm bước, được ánh sáng chiếu đến. Cả ngàn thần dược xoa của con cũng thường hộ vệ, tùy ý sai sử, họ làm vừa lòng cả. Con nói chân thành, không rỗng, không dối, chỉ có đức Thế tôn chứng biết cho con.

    Bấy giờ, khi Đa văn thiên vương nói về minh chú Ngọc như ý rồi, đức Thế tôn dạy, rằng lành thay thiên vương, ông có năng lực xé nát mạng lưới nghèo khổ cho chúng sinh, làm cho họ giàu, vui, nên đã tuyên thuyết minh chú Ngọc như ý. Ông lại làm cho kinh vua này quảng bá cả thế giới.

    Bốn vị thiên vương cùng từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo một bên vai, đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, rồi gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay cung kính, đem chỉnh cú tuyệt diệu mà tán dương đức Thế tôn.

    (1) Khuôn mặt Thế tôn
    như trăng tròn sáng,
    như ngàn mặt trời
    phóng ánh quang minh.
    Mắt trong dài rộng
    như cánh sen xanh.
    Răng thì đều khít
    trắng như tuyết ngọc.

    (2) Đức tính Thế tôn
    vô biên như biển,
    bao phẩm chất quí
    dồn lại ở đây ;
    nước đại giác tuệ
    được giữ dẫy đầy,
    ngọc đại thắng định
    sung mãn trong đó.

    (3) Bàn chân chỉ tròn
    bố trí tuyệt đẹp,
    bằng phẳng vững vàng
    như bánh xe êm ([63]).
    Các ngón tay chân
    có mạng tuyệt đẹp,
    tựa như mạng chân
    của con nga vương.

    (4) Thân thể Thế tôn
    núi vàng sáng rực,
    trong sạch đặc thù
    không ai sánh bằng,
    lại đầy phước đức
    như núi Diệu cao :
    chúng con kính lạy
    Núi chúa như vậy.

    (5) Tướng hảo vô lượng
    tựa như không gian,
    phóng ra ánh sáng
    hơn ngàn mặt trời ;
    coi như huyễn ảo
    bất khả tư nghị :
    chúng con kính lạy
    đấng Không vướng mắc.

    Bốn thiên vương tán dương đức Thế tôn rồi, Ngài cũng nói lại bằng những chỉnh cú sau đây.

    (6) Ánh sáng hoàng kim
    kinh tối thượng này
    là được tuyên thuyết
    bởi đấng Vô thượng.
    Thiên vương các người
    hãy thường hộ vệ ;
    hãy có tâm chí
    dũng mãnh bất thoái.

    (7) Kinh này quí báu
    cùng cực sâu xa,
    năng lực làm cho
    chúng sinh yên vui.
    Bởi vì làm cho
    chúng sinh yên vui,
    nên thường lưu hành
    đại lục Thiệm bộ.

    (8) Nhưng làm cho cả
    đại thiên thế giới
    bao loại chúng sinh
    trong thế giới ấy,
    nhất là địa ngục
    ngạ quỉ bàng sinh,
    những nẻo khổ ấy
    đều được loại trừ.

    (9) Những vị quốc vương
    toàn cõi Thiệm bộ,
    cùng với bao nhiêu
    quốc dân của họ,
    cái lực kinh này
    làm cho hoan hỷ,
    và được hộ vệ
    giữ cho thanh bình.

    (10) Tất cả nhân loại
    trong đại lục này
    không bịnh không khổ
    không giặc không cướp ;
    nhờ trong quốc gia
    quảng bá kinh này,
    quốc dân yên ổn
    sung túc vui thỏa.

    (11) Những ai lắng nghe
    bản kinh vua này,
    muốn cầu cao sang
    cầu tài cầu lợi,
    cầu cho đất nước
    phong phú thái bình,
    tùy tâm cầu nguyện
    thỏa mãn tất cả.

    (12) Giặc từ xứ khác
    cũng làm lui mất,
    trong quốc gia mình
    thường sống yên ổn ;
    chính nhờ cái lực
    của kinh vua này
    mà thoát khổ não
    mà không lo sợ.

    (13) Tựa như cây ngọc
    ở chính trong nhà
    thì sinh tất cả
    công cụ hạnh phúc ;
    bản kinh tối thượng
    cũng là như vậy,
    ban cho quốc vương
    bao nhiêu thắng phước.

    (14) Như nước trong sạch
    mà lại mát ngọt,
    thì trừ được hết
    cái nóng đói khát ;
    bản kinh tối thượng
    cũng là như vậy,
    ai ưa phước lạc
    làm cho thỏa mãn.

    (15) Như kẻ trong nhà
    có hộp ngọc quí,
    thì sự hưởng dụng
    toàn theo ý muốn ;
    bản kinh tối thượng
    cũng là như vậy,
    phước lạc tùy tâm
    không thiếu thốn gì.

    (16) Thiên vương các người
    cùng với chư thiên
    hãy nên hiến cúng
    bản kinh vua này ;
    phụng trì kinh này
    theo lời Như lai,
    thì đủ tất cả
    trí tuệ uy thần.

    (17) Hiện tại mười phương
    chư vị Như lai
    cùng nhau hộ trì
    bản kinh vua này ;
    thấy ai đọc tụng
    thọ trì kinh này
    thì khen lành thay,
    rất là hiếm có !

    (18) Những ai lắng nghe
    bản kinh vua này,
    thân tâm phấn chấn
    hoan hỷ tràn ngập ;
    thường có trăm ngàn
    bộ chúng dược xoa
    ở đâu cũng theo
    mà hộ vệ cho.

    (19) Thế giới hệ này
    bộ chúng chư thiên
    số lượng vô lượng
    không thể nghĩ bàn,
    ai cũng lắng nghe
    bản kinh vua này
    hoan hỷ hộ vệ
    chứ không thoái chuyển.

    (20) Những ai lắng nghe
    bản kinh vua này,
    thì uy đức mạnh
    thì tự tại luôn ;
    làm cho tăng thêm
    nhân loại chư thiên,
    làm hết suy bại
    làm thêm ánh sáng.

    Bốn thiên vương nghe những lời chỉnh cú này rồi hoan hỷ phấn chấn, thưa rằng bạch đức Thế tôn, từ xưa đến nay chúng con chưa từng được nghe pháp âm thậm thâm vi diệu như thế này, trong lòng vừa mừng vừa tủi, mắt mũi trào nước, cả người chấn động, chứng được sự thể hiếm có, bất khả tư nghị. Các thiên vương liền lấy thiên hoa mạn đà và đại mạn đà tung rải trên đức Thế tôn. Họ hiến cúng một cách thù thắng như vậy rồi, lại thưa, bạch đức Thế tôn, bốn thiên vương chúng con ai cũng có năm trăm dược xoa tùy thuộc, sẽ thường xuyên hộ vệ kinh này, và vị pháp sư tuyên thuyết kinh này, đem ánh sáng trí tuệ mà hỗ trợ. Vị pháp sư ấy có quên chữ nghĩa nào trong kinh vua này, thì chúng con làm cho vị ấy nhớ lại, không quên. Chúng con cũng hiến cho vị pháp sự ấy minh chú thù thắng, để vị ấy được toàn hảo. Lại làm cho bản kinh vua tối thượng này ở đâu thì quảng bá cho người, không mau chóng ẩn mất.

    Khi ở trong đại hội, đức thế tôn tuyên thuyết pháp thoại này, thì vô lượng chúng sinh được sự hùng biện đầy trí lớn thông minh, thu thập cái khối phước đức vô số lượng, rời lo buồn, phát hoan hỷ, khéo hiểu mọi thứ luận thuyết, bước lên trên đường thoát ly, không còn thoái chuyển mà mau chóng chứng được vô thượng bồ đề.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 40]

    Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim – cuốn 7

    Phẩm 13 – Minh Chú Ly Nhiễm

    Khi ấy đức Thế tôn bảo trưởng lão Xá lợi tử, có một pháp tên là minh chú Ly nhiễm. Đó là pháp bồ tát tu. Bồ tát quá khứ đã thọ trì pháp ấy. Pháp ấy là mẹ của bồ tát. Đức Thế tôn nói như vậy rồi, trưởng lão Xá lợi tử thưa, bạch đức Thế tôn, minh chú là chữ nghĩa gì  ? Bạch đức Thế tôn, minh chú thì phi vị trí, phi siêu vị trí. Trưởng lão Xá lợi tử nói như vậy rồi, đức Thế tôn bảo, lành thay trưởng lão Xá lợi tử, nay trưởng lão đã đi đến đại thừa, đã tin hiểu đại thừa, đã tôn trọng đại thừa. Đúng như trưởng lão nói, minh chú thì phi vị trí phi siêu vị trí, phi pháp môn phi siêu pháp môn, phi quá khứ phi vị lai phi hiện tại, phi sự thể phi siêu sự thể, phi tương quan phi siêu tương quan, phi chuyển biến phi siêu chuyển biến, không có gì là sinh, không có gì là diệt. Thế nhưng vì lợi ích cho bồ tát mà Như lai nói. Bằng cách do năng lực, đường chính, lý thể, sức mạnh ([64]), do bốn mặt như vậy mà Như lai lập ra minh chú, và rằng đó là thành quả của chư vị Như lai, giới điều của chư vị Như lai, sở học của chư vị Như lai, bí mật của chư vị Như lai, sinh xứ của chư vị Như lai, nên mệnh danh là minh chú Ly nhiễm, pháp tối nhiệm mầu. Đức Thế tôn nói như vậy rồi, trưởng lão Xá lợi tử thưa Ngài, bạch đức Thế tôn, xin đức Thế tôn dạy cho con về minh chú ấy. Bồ tát đứng vững nơi minh chú ấy thì không thoái chuyển vô thượng bồ đề. Thành tựu chánh nguyện, được sự ly nhiễm, tự tánh hùng biện, đạt được hiếm có, an trú thánh đạo, tất cả toàn là do được có minh chú Ly nhiễm. Đức Thế tôn dạy trưởng lão Xá lợi tử, lành thay, đúng như vậy, đúng như trưởng lão nói. Nếu bồ tát nào chứng đắc minh chú Ly nhiễm thì không khác gì Như lai. Ai hiến cúng vị bồ tát ấy thì trưởng lão hãy nhận thức rằng đó là hiến cúng Như lai. Trưởng lão Xá lợi tử, ngoài bồ tát ra, những người khác nếu nghe được minh chú này, thọ trì, đọc tụng, và sinh ra tin hiểu, thì cũng nên cung kính hiến cúng như đối với Như lai. Bởi vì nhờ nhân tố này mà được đạo quả tối thượng. Bấy giờ đức Thế tôn liền tuyên thuyết cho đại hội về minh chú Ly nhiễm : Tát da tha, sa đa ra ni, a pa đa ra ni, su săm pra tít thi ta, su na ma, su pra tít thi ta, vi ja da ba la, sát da, pra ti sin ja, su rô ha, sin ja na ma ti, u pa đa ni, a ba na ma ni, a bi sích ni, a biv da ka ra, sú ba pa ti, su ni sí ta, ba hum, gun ja, a bi pa đa, soa ha. (Tadyatha sandharani apadharani susampratisthita sunama supratisthita vijayabala satya pratisinja suroha sinjanamati upadhani ubanamani abhisigni abhivyakara subhapati sunisita bahum gunja abhipada svaha).

    Đức Thế tôn bảo trưởng lão Xá lợi tử, câu minh chú Ly nhiễm này bồ tát nào khéo léo an trú và chính xác thọ trì thì phải nhận thức rằng bồ tát ấy một kiếp cho đến trăm ngàn kiếp đã phát chánh nguyện không có cùng tận, thân thể đã không bị thương tổn vì khí giới, vì độc tố, vì nước lửa, vì mãnh thú. Tại sao, trưởng lão Xá lợi tử, vì minh chú Ly nhiễm là mẹ sinh chư vị Như lai quá khứ, mẹ sinh chư vị Như lai vị lai, mẹ sinh chư vị Như lai hiện tại. Trưởng lão Xá lợi tử, nếu có người nào, trong mười vô số kiếp, đem bảy loại quí báu chất đầy đại thiên thế giới mà phụng hiến chư vị Như lai, lại đem y phục ẩm thực thượng hạng và tinh tế mà hiến cúng với nhiều dạng thức và trải qua vô số kiếp ; mặt khác, nếu có người nào thọ trì đến nỗi chỉ một chữ của minh chú Ly nhiễm mà thôi, mà cái phước phát sinh từ sự thọ trì ấy cũng bội phần nhiều hơn người kia, tại sao, vì Xá lợi tử, minh chú Ly nhiễm là pháp cực kỳ sâu xa, là mẹ sinh chư vị Như lai.

    Bấy giờ trưởng lão Xá lợi tử, cùng cả đại hội, nghe được minh chú Ly nhiễm thì ai cũng đại hoan hỷ, cùng nhau phát nguyện thọ trì.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 41]

    Phẩm 14 –Ngọc Báu Như Ý

    Bấy giờ, ở trong đại hội, đức Thế tôn bảo tôn giả A nan đà, rằng các người nên biết có một minh chú danh hiệu minh chú Như ý, làm rời xa mọi sự tai ách, lại ngăn chận những thứ sấm sét dữ dội, và được tuyên thuyết bởi chư vị Như lai quá khứ. Và nay, trong kinh này, Như lai cũng tuyên thuyết minh chú này cho đại hội. Minh chú này làm đại lợi ích cho nhân loại chư thiên, xót thương thế giới mà hộ vệ cho tất cả yên vui. Bấy giờ đại hội cùng với tôn giả A nan đà nghe lời đức Thế tôn nói như vậy, ai cũng chí thành chiêm ngưỡng Ngài để lắng nghe minh chú Như ý. Đức Thế tôn nói, đại hội hãy lắng nghe. Hướng đông vị trí này có chúa sấm sét tên A ga ta, hướng nam vị trí này có chúa sấm sét tên Sa tát ru, hướng tây vị trí này có chúa sấm sét tên Chu ta ba, hướng bắc vị trí này có chúa sấm sét tên Su ta ma ni ([65]). Thiện nam hay thiện nữ nào nghe được tên những chúa sấm sét này, và biết vị trí của họ, thì người ấy hết mọi sợ hãi và tai họa. Nơi chỗ ở mà viết tên của họ thì chỗ ở ấy không còn phải sợ sấm sét, không tai ách và chướng nạn, không cả chết phi thời, chết oan uổng. Bấy giờ đức Thế tôn tuyên thuyết minh chú Như ý : Tát da tha, ni mi ni, ni mi ni, ni min đa ri, tri lô ka, lô ka ni, tri su ra pa ni, rát sa, rát sa, soa ha ; cầu nguyện cho con và chỗ ở này rời xa sự sợ hãi, sự khổ não, sự sấm sét, sự uổng tử. (Tadyatha nimini nimini nimindhari triloka lokani trisurapani raksa raksa svaha).

    Bấy giờ đại bồ tát Quan tự tại ([66]) ở trong đại hội, từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo của vai bên phải, chắp tay cung kính mà thưa, bạch đức Thế tôn, nay con cũng đối trước đức Thế tôn tuyên thuyết vắn tắt về minh chú Như ý. Minh chú này làm đại lợi ích cho nhân loại và chư thiên, xót thương thế giới mà hộ vệ cho tất cả yên vui. Minh chú này có uy lực cực lớn, cầu gì cũng như ý. Đại bồ tát Quan tự tại liền tuyên thuyết minh chú ấy : Tát da tha, ga tê, vi ga tê, ni ga tê, prát da tha kê, pra ti mi trê, sút đê, mút tê, vi ma lê, pra ba soa rê, ăn đa rê, păn đa rê, suê tê, Păn đa ra va si ni, Ha ri, Kăn ta ri, Ka pi li, Pin ga lát si, Đa đi mu khi, rát sa, rát sa, soa ha ; cầu nguyện cho con và chỗ này rời xa mọi nỗi sợ hãi, đau khổ, cho đến uổng tử ; cầu nguyện cho con đừng thấy những sự tội ác, thường được đại bồ tát Quan tự tại hộ trì cho con bằng ánh sáng đại bi của Ngài. (Tadyatha gate vigate nigate pratyarthake pratimitre sudhe mukte vimale prabhasvare andare pandare svete Pandaravasini Hari Kantari Kapili Pingalaksi Dadhimukhi raksa raksa svaha).

    Bấy giờ bồ tát bí mật chủ Chấp kim cang cũng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính mà thưa, bạch đức Thế tôn, nay con cũng xin nói minh chú danh hiệu Không gì hơn. Minh chú này cũng làm đại lợi ích cho nhân loại và chư thiên, xót thương thế giới mà hộ vệ cho tất cả. Minh chú này cũng có uy lực cực lớn, cầu gì cũng như ý cả. Bồ tát bí mật chủ Chấp kim cang liền tuyên thuyết minh chú Không gì hơn : Tát da tha, mu ni, mu ni, mu ni nê, ha rê, ma ti, ma ti, su ma ti, ma ha ma ti, ha, ha, ha, ha, ma ba, i na si thi tê, pa pa, va jrắt pa ni, a hăn, chi ri, cha, soa ha. (Tadyatha muni muni munine hare mati mati sumati mahamati ha ha ha ha mabha inasthite papa vajrapani aham ciri ca svaha).

    Bạch đức Thế tôn, minh chú của con đây gọi là sự hộ vệ không gì hơn. Nam tử hay nữ nhân nào nhất tâm thọ trì, sao chép, đọc tụng, ghi nhớ không quên, thì cả ngày liền đêm con thường hộ vệ người ấy, rời xa mọi sự sợ hãi cho đến uổng tử.

    Bấy giờ Phạn vương chủ thế giới hệ Sách ha cũng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính mà thưa, bạch đức Thế tôn, con cũng có minh chú nhiệm mầu, làm đại lợi ích cho nhân loại và chư thiên, xót thương thế giới mà hộ vệ cho tất cả. Minh chú này cũng có uy lực cực lớn, cầu gì cũng như ý cả. Phạn vương liền tuyên thuyết minh chú ấy : Tát da tha, hi li, mi li, đi li, soa ha, Brắt ma pu rê, Brắt ma ma ni, Brắt ma gar bê, pút pa săm si thi rê, soa ha. (Tadyatha hili mili dhili svaha Brahmapure Brahmamani Brahmagarbhe puspasamsthire svaha).

    Bạch đức Thế tôn, minh chú của con đây danh hiệu là Phạn vương đối trị, hộ vệ tất cả những ai thọ trì, làm cho họ xa rời lo buồn, ác nghiệp, cho đến uổng tử.

    Bấy giờ Đế thích, chủ chư thiên Đao lợi, cũng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính mà thưa, bạch đức thế tôn, con cũng có minh chú tên Va ja xá ni. Đó là minh chú rất sáng chói, trừ được mọi sự sợ hãi cho đến uổng tử, cứu khổ cho vui, lợi ích chư thiên nhân loại. Đế thích liền tuyên thuyết minh chú Va ja xá ni : Tát da tha, vi ni, va ri ni, van đa ma đăn đê, ma ni nê ti ni, Gau ri, Chăn đa li, Ma tăn gi, Pút ka si, sa ra pra ba, hi na mát da, ta ma, út ta ra ni, ma ha ra ni, đa ra ni ku, chắt ra va kê, sá va ri, sá va ri, soa ha. (Tadyatha vini varini vandhamadande maninetini Gauri Candali Matangi Pukkasi saraprabha hinamatya tama uttarani maharani dharaniku cakravake savari savari svaha).

    Bấy giờ Đa văn thiên vương, Trì quốc thiên vương, Tăng trưởng thiên vương, Quảng mục thiên vương, bốn thiên vương ấy cũng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính mà thưa, bạch đức Thế tôn, ở đây chúng con cũng có minh chú tên là Ban cho chúng sinh sự không sợ hãi. Minh chú này thường hộ vệ mọi sự đau khổ, làm cho yên vui, tăng thêm thọ lượng, không mọi tai họa, cho đến uổng tử cũng không còn. Bốn thiên vương liền tuyên thuyết minh chú ấy : Tát da tha, pút pê, su pút pê, đu ma, pa ri ha rê, a ry da pa ri sá sít đê, săn ti ni, mút tê, măm găn dê, si tu tê, sít đa vi tê, soa ha. (Tadyatha puspe supuspe duma parihare aryaparisasidhe santini mukte mamgalye stute sidhavite svaha).

    Bấy giờ lại có các đại long vương, như long vương Ma na si, long vương Điện quang, long vương hồ Vô nhiệt, long vương Điện thiệt, long vương Diệu quang, cùng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay cung kính mà thưa, bạch đức Thế tôn, chúng con cũng có minh chú Như ý, ngăn được điện khí dữ dằng, loại trừ sợ hãi, làm đại lợi ích cho nhân loại và chư thiên, xót thương thế giới mà hộ vệ tất cả, có uy lực cực lớn, cầu gì cũng thỏa, cho đến uổng tử cũng xa lánh cả, những loại độc tố đều bị vô hiệu, gieo độc sâu cổ, thư ếm chú thuật, mọi sự không tốt lành đều bị loại trừ. Chúng con xin đem minh chú này hiến lên đức Thế tôn, xin đức Thế tôn thương chúng con mà từ bi nạp thọ, để cho chúng con bỏ được quả báo loài rồng, vĩnh viễn loại trừ tham lẫn, sự tham lẫn mà do tính xấu ấy chúng con đã phải chịu lấy khổ sở. Chúng con nguyện [nhờ sự phụng hiến minh chú lên đức Thế tôn mà] trừ bỏ được hạt giống tham lẫn. Các vị long vương liền tuyên thuyết minh chú : Tát da tha, a cha lê, a ma lê, ăm ri tê, át sa, dê, a ba dê, pun da, par dáp tê, sar va pa pa pra sá ma ni dê, soa ha, a li dê, pan đu, su par ni dê, soa ha. (Tadyatha acale amale amrte aksa ye abhaye punya paryapte sarvapapaprasamanye svaha aliye pandu suparniye svaha).

    Bạch đức Thế tôn, nếu có thiện nam hay thiện nữ nào miệng nói minh chú này, hoặc sao chép ra, thọ trì đọc tụng, tôn kính hiến cúng, thì không bao giờ bị sấm sét, mọi sự sợ hãi, đau khổ, lo buồn, cho đến uổng tử cũng được rời xa, thuốc độc, sâu cổ, quỉ mị, trù ếm, hay cọp beo, sư tử, rắn độc, muỗi mòng, không gì hại được.

    Bấy giờ đức Thế tôn phổ cáo đại hội, lành thay, những minh chú [mà các người tuyên thuyết] đều có sức lớn, chúng sinh cầu gì cũng được thỏa mãn. Có lợi ích lớn lao như vậy, trừ ra không chí tâm. Đại hội các người đừng có nghi hoặc. Cả đại hội, lúc ấy, nghe đức Thế tôn huấn dụ, ai cũng hoan hỷ, tin tưởng, tiếp nhận.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 42]

    Phẩm 15/1 – Đại Biện Thiên Nữ

    Vào lúc bấy giờ, ở trong đại hội, Đại biện tài thiên nữ liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn mà thưa, bạch đức Thế tôn, có vị pháp sư nào giảng nói kinh Ánh sáng hoàng kim này thì con sẽ tăng thêm trí tuệ cho vị ấy, làm cho vị ấy toàn hảo sự hùng biện đầy nghiêm chỉnh và thuyết phục. Vị pháp sư ấy nếu quên mất văn chữ nào trong kinh Ánh sáng hoàng kim thì con làm cho nhớ lại, khéo léo mở mắt và thức tỉnh cho người. Con lại cho vị ấy minh chú để vị ấy được sự tổng trì thông suốt. Lại nữa, kinh Ánh sáng hoàng kim này được thường xuyên thọ trì bởi những người đã gieo trồng thiện căn nơi hàng trăm hàng ngàn chư vị Thế tôn, nên quảng bá trong đại lục Thiểm bộ mà không ẩn mất mau chóng, giúp cho những ai lắng nghe kinh này thì được sự hùng biện lanh lợi khó nghĩ khó bàn ; được đại trí vô tận, khéo hiểu các loại luận thuyết và kyՠthuật ; được mau thoát sinh tử, đạt đến vô thượng bồ đề ; và hiện tại thì được tăng thêm thọ lượng, đời sống đầy đủ. Bạch đức Thế tôn, con sẽ nói cho vị pháp sư thọ trì quảng bá kinh này, và những ai ưa thích lắng nghe kinh này, về cách tắm rửa nước thuốc, để những người ấy nếu có tai biến sao dữ, nếu lúc mới sinh có sự xung khắc với ngôi sao sở thuộc, nếu có cái khổ của những bịnh truyền nhiễm, của chiến tranh, của ác mộng, ác thần, sâu cổ, quỉ mị, ác chú, quỉ khởi thi, có những điều dữ như vậy làm chướng nạn thì được loại trừ cả. Cách ấy là những người có trí hãy tắm rửa như thế này. Hãy dùng ba mươi hai loại hương dược ([67]) sau đây, cân lượng bằng nhau :

    (1) xương bồ,
    (2) ngưu hoàng,
    (3) mục túc hương,
    (4) xạ hương,
    (5) hùng hoàng,
    (6) hợp hôn thọ,
    (7) bạch cập,
    (8) khung cùng,
    (9) câu kỷ căn,
    (10) tùng chi,
    (11) quế bì,
    (12) hương phụ tử,
    (13) trầm hương,
    (14) chiên đàn,
    (15) linh lăng hương,
    (16) đinh tử,
    (17) uất kim,
    (18) bà luật cao,
    (19) vi hương,
    (20) trúc hoàng,
    (21) tế đậu khấu,
    (22) cam tùng,
    (23) hoắc hương,
    (24) mao căn hương,
    (25) sất chi,
    (26) ngải nạp,
    (27) an tức hương,
    (28) giới tử,
    (29) mã cân,
    (30) long hoa tu,
    (31) bạch giao,
    (32) thanh mộc

    Lấy ngày sao Bố sái ([68]) mà giã, rây lấy bột, và chú nguyện bằng một trăm lẻ tám biến minh chú này : Tát da tha, su kri ti, kri ti, kri ti, ka ma ta lê, jăn ka ra ti, u ka ra ti, in dra ja li ni, sát a ran tê, va cha chi lê, a ban ti, ka si kê na, ku đu, ku đu, kha ka vi lê, ka pi lê, ka pi lê, ka pi la ma ti, si la ma ti, săn đi đu ra ma ti, pa ba, ka, bam chi lê, Si rê, Si lê, sa ti dát thi tê, soa ha. (Tadyatha sukrti krti krti kamatale jankarati ukarati indrajanili sakarante vacacile abanti kasikena kudu kudu khakavile kapile kapile kapilamati silamati sandhiduramati paba ka bhamcile Sire Sile satyasthite svaha).

    (1) Khi muốn đúng cách
    tắm rửa theo phép,
    thì làm đàn tràng
    vuông tám khuỷu tay,
    nơi chỗ tĩnh lặng
    và phải yên ổn,
    tại đó chú tâm
    vào điều nguyện cầu.

    (2) Đàn ấy phải dùng
    ngưu phấn ([69]) tráng nền,
    phía trên rải khắp
    bông hoa nhiều màu.
    Rồi dùng khí mãnh
    bạc vàng tinh khiết
    đựng đầy mĩ vị
    hay sữa hoặc mật.

    (3) Bốn phía đàn tràng
    hay là bốn cửa,
    hãy đặt bốn người
    giữ gìn đúng phép.
    Nhờ bốn đồng tử ([70])
    phục sức trang nghiêm,
    mỗi người một góc
    tay bưng bình nước.

    (4) Thế rồi thường xuyên
    đốt an tức hương,
    và nhạc ngũ âm ([71])
    không hề ngớt tiếng
    Phan lọng nghiêm chỉnh,
    lại treo lụa màu,
    trang hoàng bốn phía
    của đàn tràng ấy.

    (5) Ở trong đàn tràng
    thì đặt gương sáng,
    dao sắc kèm tên
    mỗi loại bốn cái.
    Chính giữa đàn tràng
    vùi cái bồn lớn,
    với ván xoi lỗ
    đặt ở phía trên.

    (6) Đem bột hương dược
    hòa với nước nóng,
    và cũng đặt để
    ở trong đàn tràng.
    Thiết trí như vậy
    xong xuôi cả rồi,
    sau đó tụng chú
    kiết giới đàn tràng.

    Minh chú kiết giới đàn tràng như vầy : Tát da tha, ăn ra kê, na da nê, hi lê, mi lê, gi lê, ki ki lê, soa ha (Tadyatha anrake nayane hile mile gile kikite svaha).

    (7) Kiết giới như vậy
    cho đàn tràng rồi,
    sau đó mới vào
    nơi trong đàn tràng,
    chú nguyện nước [bình]
    hai mươi mốt biến,
    rồi rưới khắp cả
    bốn phía đàn ấy.

    (8) Kế đó chú nguyện
    nước nóng hương dược
    cho đủ số lượng
    một trăm tám biến,
    rồi bốn phía đàn
    dùng màn mà che,
    và rồi tắm rửa
    cho cả thân thể.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 43]

    Minh chú chú nguyện cho nước [bình] và nước nóng hương dược như vầy : Tát da tha, su ga ti, vi ga ti, vi ga cha, va đê, soa ha. (Tadyatha sugati vigati vigaca vade svaha).

    Tắm rửa rồi, nước nóng tắm rửa ấy [đã chảy xuống bồn lớn], và những cúng phẩm hiến cúng trong đàn tràng, đều đem bỏ trong sông trong hồ. Ngoài ra thì thu dọn lại. Tắm rửa rồi mới mặc đồ sạch. Khi ra đàn tràng mà vào tịnh thất, thì vị thầy chú nguyện phải dạy cho người ấy cách phát đại nguyện nhắm vào sự diệt ác tu thiện, vào sự phát đại bi tâm đối với chúng sinh. Chính do yếu tố phát đại nguyện này mà được bao phước báo tùy tâm. Đại biện tài thiên nữ lại nói chỉnh cú sau đây.

    (9) Những người khổ sở
    vì các thứ bịnh,
    điều trị đủ cách
    mà không lành được,
    thì hãy tắm rửa
    đúng cách như trên,
    cọng thêm đọc tụng
    bản kinh vua này.

    (10) Ngày đêm ý niệm
    không hề tán loạn,
    chuyên tâm thiết tha
    và rất tin tưởng,
    thì bao bịnh hoạn
    được tiêu tan cả,
    lại hết nghèo khó
    có đủ tài sản.

    (11) Tinh tú bốn hướng
    cùng với nhật nguyệt
    thần lực hộ vệ
    cho được nhiều tuổi,
    cát tường yên ổn
    phước đức tăng thêm,
    tai biến ách nạn
    đều loại trừ cả.

    Sau khi [phát đại nguyện], hãy tụng minh chú hộ trì thân thể sau đây, hai mươi mốt biến : Tát da tha, săm mê, vi săm mê, soa ha ; su ga tê, vi ga tê, soa ha. Vi ga ta, va ti, soa ha ; Sà ga ra săm bút đa da, soa ha ; si kăn đa, ma ta da, soa ha ; ni la kăn ta da, soa ha ; a pa ra ji ta, via da da, soa ha ; hi ma van ta da, soa ha ; a ni mi la vát ta da, soa ha ; nam mô, ba ga va tê, Brắt, ma ni, soa ha ; nam mô, Sa rát va ti, ma ha, đev dê, soa ha ; sít dăn tu, măm, măn tra pa đa, soa ha ; đa ra ta, va chi tô, Brắt ma nu, ma nô ra, soa ha. (Tadyatha samme visamme svaha ; sugate vigate svaha. Vigata vati svaha ; Sagarasambudhaya svaha ; skanda mataya svaha ; nilakantaya svaha ; aparajita viryaya svaha ; himavantaya svaha ; animilavaktaya svaha ; namo bhagavate Brah mani svaha ; namo Sarasvati maha devye svaha ; siddyantu mam mantrapada svaha  ; dharata vacito Brahmanu manora svaha).

    Đại biện tài thiên nữ nói về cách tắm, về đàn tràng, và về minh chú rồi, bước tới lạy ngang chân đức Thế tôn mà thưa, bạch đức Thế tôn, trong bốn bộ đệ tử đức Thế tôn có ai thọ trì đọc tụng sao chép lưu hành bản kinh vua nhiệm mầu này và tu hành đúng như kinh dạy, thì ở thành thị, thôn xóm, đồng nội, núi rừng, trú xứ tăng ni, bất cứ ở đâu con cũng vì họ mà đem tùy thuộc, tấu thiên nhạc, cùng đến chỗ ấy mà hộ vệ, loại trừ bịnh khổ, sao sa, quái tượng, truyền nhiễm, chinh chiến, tù đày, ác mộng, ác thần, cổ đạo, thuật ếm, những chướng nạn như vậy đều bị trấn áp mà ích lợi cho người trì kinh. Chúng con lại giúp cho bốn đệ tử đức Thế tôn, và những người lắng nghe kinh này, ai cũng mau chóng vượt qua biển cả sinh tử, không còn thoái chuyển vô thượng bồ đề.

    Bấy giờ đức Thế tôn nghe Đại biện tài thiên nữ trình bày như vậy thì khen rằng, lành thay thiên nữ, thiên nữ có thể lợi ích cho bao nhiêu chúng sinh, bằng cách nói về minh chú, về nước thơm và đàn tràng như vậy. Phước báo của thiên nữ thật khó nghĩ thấu. Thiên nữ nên hộ trì bản kinh vua tối thượng, đừng để mai một mà được lưu hành mãi. Đại biện tài thiên nữ, lúc ấy, lạy ngang chân đức Thế tôn rồi trở về chỗ cũ.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 44]

    Bấy giờ vị Bà la môn họ Kiều trần như, tên Pháp sư thọ ký, vâng theo uy lực của đức Thế tôn, đứng trước đại hội mà tán dương Đại biện tài thiên nữ.

    (12) Biện tài thiên nữ
    thông minh tinh tiến,
    người trời hiến cúng
    đáng nên tiếp nhận,
    danh vang thế giới
    tràn khắp mọi nơi,
    ban cho ước nguyện
    của bao chúng sinh.

    (13) Trên đỉnh núi cao
    nơi rất siêu việt,
    lợp tranh làm phòng
    mà ở trong đó,
    bện những cỏ mềm
    mà làm áo mặc,
    bất cứ ở đâu
    thường kiễng một chân.

    (14) Vậy mà chư thiên
    thường đến tụ tập
    cùng nhau một lòng
    tán dương thỉnh cầu.
    Kính xin thiên nữ
    bậc đại hùng biện,
    hãy cho mọi người
    lời tiếng vi diệu.

    Đại biện tài thiên nữ liền chấp nhận thỉnh cầu mà tuyên thuyết minh chú sau đây : Tát da tha, mi ri, chi ô rê, a va tê, a va jê va ti, hin gu lê, min gu lê, pin ga lê va ti, ăn khu sa, ma ri chi dê, sặm ma ti, vi sặm ma ti, a gra ti, mắc khi dê, ta ra chi, ta ra chi va ti, chia si, chi ri, si ri mi ri, ma nan đi, đa ma khê, ma ri chi dê, pra na pa ri dê, lô ka ji dết tha, lô ka, si nết thi, lô ka via dê, sít đa, pa ra tê, bi ma mu khi, su chi cha ri, a pra ti ha tê, a pra ti ha ta bút đi, na mút chi, na mu chi, ma ha đếp dê, pra ti, gra ha, na mát ka ra, ma ma, bút đi, đa sa hi, bút đi, a pra ti ha ta, ba va tu, si ra ha mê, vi sút đa, chi tô, sát tra si lô ka, măn tra, pi ta ka, ka pi da đi sô, tát da tha, ma ha pra ba va, hi li, mi li, vi cha ra tu, vi bút đi, ma ma, bút đi, sút đi, ba ga vát ti dê, đê vê dăm, Sa rát va tim, ka ra ti, kê du ra ma ti, hi ri, mi ri, hi ri, mi ri, a ba da, mê, ma ha đê vi, bút đa, sát dê na, đa ma, sát dê na, săn ga, sát dê na, In dra, sát dê na, Va ru na, sát dê na, dê lô ki dê sát da, sát dê na, tê săm, sát dê na, sát da va cha ni da, a ba da, mê, ma ha đê vi, hi li, mi li, hi li, mi li, vi cha ra tu, ma ma, bút đi, nô, nam mô, ba ga va ti, ma ha đê vê, Sa rát va ti da, sít đi dăn tu, măn tra, pa đa, mê, soa ha. (Tadyatha miri cyore avate avajevati hingule mingule pingalevati ankhusa maricye sammati visammati agrati makhye taraci taracivati cirsi ciri sirimiri manandhi damakhe maricye pranaparye lokajyestha loka snesthi lokavirye siddha parate bhimamukhi sucicari apratihate apratihatabuddhi namuci namuci mahadevye prati graha namaskara mama buddhi darsahi buddhi apratihata bhavatu sirahame visuddha cito sastrasloka mantra pitaka kapiyadiso tadyatha mahaprabhava hili mili vicaratu vibuddhi mama buddhi suddhi bhagavatye deveyam Sarasvatim karati keyuramati hiri miri hiri miri abhaya me mahadevi buddha satyena dharma satyena sangha satyena Indra satyena Varuna satyena yelokyesatya satyena tesam satyena satyavacaniya abhaya me mahadevi hili mili hili mili vicaratu mama buddhi no namo bhagavati mahadeve Sarasvatya siddhiyantu mantra pada me svaha).

    Đại biện tài thiên nữ tuyên thuyết minh chú như vậy rồi, nói với Bà la môn, rằng lành thay đại nhân, ông có thể vì những người cầu sự hùng biện nhiệm mầu, cầu châu ngọc, cầu thần thông trí tuệ, để lợi ích tất cả và mau chứng bồ đề, thì nên biết cách thức thọ trì minh chú nói trên. Đại biện tài thiên nữ tức thì nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (15) Trì minh chú này
    trước phải thuộc lòng
    sao cho thuần thục
    không sai không sót.
    Kế đó qui kính
    Tam bảo chư thiên,
    cầu xin da trì
    ước nguyện tùy tâm.

    (16) Kính lạy Phật bảo
    cùng với Pháp bảo
    Tăng bảo Bồ tát
    Độc giác Thanh văn,
    kế lạy Phạn vương
    cùng với Đế thích
    bốn vị Thiên vương
    hộ vệ thế giới.

    (17) Đối với những vị
    thường tu phạn hạnh,
    thì hết lòng thành
    thiết tha kính lạy.
    Hãy ở lan nhã
    yên tĩnh yên ổn
    mà tụng lớn tiếng
    minh chú nói trên.

    (18) Trước tượng Thế tôn
    và trước thiên long,
    tùy mình có gì
    thì đem hiến cúng.
    Đối với hết thảy
    bao loại chúng sinh
    tâm hãy nổi dậy
    từ bi thương cảm.

    (19) Thế tôn tướng tốt
    thân màu vàng tía,
    tập trung tâm tưởng
    vào tướng tốt ấy.
    Thế tôn da trì
    tuyên thuyết giáo pháp
    cho người thích hợp
    tu tập thiền định.

    (20) Khéo nghĩ chữ nghĩa
    của giáo pháp ấy,
    lại theo nghĩa Không
    tu tập chính xác.
    Hãy ngồi ở trước
    hình tượng Thế tôn
    nhất tâm chánh niệm
    về giáo pháp Ngài.

    (21) Thế thì thực hiện
    Diệu trí tam muội,
    lại còn thực hiện
    tổng trì tối thắng.
    Miệng vàng Thế tôn
    tuyên thuyết giáo pháp,
    tiếng mầu thuần hóa
    chư thiên nhân loại.

    (22) Tướng lưỡi tùy cơ
    biểu hiện hiếm có
    rộng dài bao trùm
    đại thiên thế giới  ;
    tiếng mầu lưỡi ấy
    của đức Thế tôn
    chí thành nhớ lấy
    lòng không nghi ngại.

    (23) Thế tôn do sự
    phát nguyện rộng lớn,
    nên được tướng lưỡi
    bất khả tư nghị,
    tuyên thuyết các pháp
    toàn là phi hữu,
    tựa như không gian
    không có vướng mắc.

    (24) Âm­ thanh, trường thiệt
    của đức Thế tôn,
    tư duy hai tướng
    thì thỏa nguyện cầu.
    Thấy ai hiến cúng
    Đại biện thiên nữ,
    hoặc thấy đệ tử
    theo lời thầy dạy,

    (25) truyền cho mật pháp
    bảo nên tu học,
    trân trọng thiết tha
    nguyện gì cũng thành.
    Muốn thực hiện được
    trí giác tối thượng,
    thì phải nhất tâm
    trì mật pháp ấy.

    (26) Tăng trưởng tư lương
    phước đức trí tuệ,
    quyết định thành tựu
    đừng có nghi hoặc ;
    cầu mong tài sản
    được lắm tài sản,
    cầu mong danh vọng
    được danh vọng tốt.

    (27) Cầu nguyện giải thoát
    thì được giải thoát,
    quyết định thành tựu
    đừng có nghi hoặc.
    Thành tựu công đức
    vô lượng vô biên,
    toàn đúng ước nguyện
    nội tâm người cầu.

    (28) Nếu có khả năng
    y thế tu hành
    thì được thành tựu
    đừng có nghi hoặc.

    (29) Nên chọn chỗ sạch
    và mặc đồ sạch,
    mà làm đàn tràng
    lớn nhỏ tùy ý.
    Dùng bốn bình sạch
    mà đựng mĩ vị,
    cùng với hương hoa
    hiến cúng tùy lúc.

    (30) Giăng treo lụa màu
    tràng phan bảo cái,
    bôi rải khắp cả
    bằng bột hương liệu,
    hiến cúng Thế tôn
    và Biện tài thiên,
    cầu thấy thiên thân
    cũng được toại nguyện.

    (31) Hai mươi mốt ngày
    tụng minh chú trên,
    bằng cách đối trước
    tượng Biện tài thiên.
    Nếu chưa thấy được
    thân Biện tài thiên,
    thì nên dụng tâm
    thêm chín ngày nữa.

    (32) Mà nửa đêm sau
    vẫn chưa thấy được,
    thì nên tìm chỗ
    thanh tịnh đẹp hơn,
    rồi vẽ đúng cách
    tượng Biện tài thiên,
    hiến cúng trì tụng
    chứ không xả bỏ.

    (33) Cả ngày liền đêm
    không hề biếng nhác,
    sẽ được vô cùng
    tự lợi lợi tha.
    Đem kết quả ấy
    hồi hướng chúng sinh,
    thì cầu nguyện gì
    cũng thành tựu cả.

    (34) Nếu chưa toại ý
    thì phải ba tháng,
    sáu tháng chín tháng
    cho đến một năm,
    thiết tha thỉnh cầu
    lòng không dao động,
    thì được thiên nhãn
    được tha tâm thông.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 45]

    Bà la môn Kiều trần như nghe Đại biện tài thiên nữ nói như vậy thì hoan hỷ, phấn chấn, khen chưa từng có. Ông thưa đại hội mà nói như vầy, tất cả đại hội nhân loại chư thiên nên biết và nghe cho, tôi lại muốn theo phép thế đế mà tán dương Đại biện tài thiên nữ. Ông liền nói những chỉnh cú sau đây.

    (35) Kính lạy Thiên nữ
    bậc đại dũng mãnh
    và đại tự tại
    trong thế giới này ;
    nay tôi tán dương
    bậc tôn cao ấy,
    với lời tựa như
    lời tiên nhân xưa.

    (36) Cát tường hoàn thiện
    tâm trí thanh thoát,
    thông minh tàm quí
    có danh tiếng lớn.
    Là bậc mẹ sinh
    của cả thế giới,
    dũng mãnh thường hành
    sự đại tinh tiến.

    (37) Ở trong quân trận
    chiến đấu thường thắng,
    giáo dục thuần hóa
    từ bi nhẫn nhục.
    Hiện làm chị cả
    của Diêm la vương,
    mà thường mặc áo
    kén tằm hoang xanh.

    (38) Dung nhan khi đẹp
    khi thì xấu xí,
    xấu thì mắt nhìn
    đã làm khiếp sợ.
    Nhiều việc đặc thù
    vượt trên thế giới,
    những ai tin tưởng
    thì thu nhận cả.

    (39) Hoặc ở hang núi
    chỗ sâu và hiểm,
    hoặc ở hầm sâu
    hay ở bên sông,
    hoặc ở đại thụ
    hay ở lùm cây,
    Thiên nữ phần nhiều
    cư trú như vậy.

    (40) Giả sử những người
    rừng núi hoang dã,
    mà thường hiến cúng
    đối với Thiên nữ,
    lấy những lông công
    mà làm phan cờ,
    thì cũng thường được
    Thiên nữ hộ trì.

    (41) Sư tử cọp beo
    thường thường vây quanh,
    bò dê gà trĩ
    cũng thường nương tựa.
    Rung cái linh lớn
    âm thanh phát ra,
    chúng núi Tân đà
    cũng nghe âm vang.

    (42) Hoặc cầm cái kích,
    đầu tóc búi tròn,
    và tay thường cầm
    tinh kỳ nhật nguyệt.
    Ngày chín, mười một
    của tháng trăng tối ([72])
    lúc ấy thì nên
    hiến cúng Thiên nữ.

    (43) Hiện làm em gái
    Bà tô đại thiên,
    thấy có chiến tranh
    lòng đầy thương xót.
    Quan sát tất cả
    bao loại chúng sinh,
    thấy không có ai
    hơn được Thiên nữ.

    (44) Lại hiện nữ nhân
    Mục ngưu hoan hỷ,
    chiến với chư thiên
    thường thường đắc thắng.
    Có thể sống lâu
    ở trong cuộc đời,
    khi thì hòa nhẫn
    khi thì bạo ác.

    (45) Bốn loại minh luận
    của Bà la môn,
    trong có biến hóa,
    đều tinh thông cả.
    Là tự tại nhất
    trong chúng thiên tiên,
    tạo ra hạt giống
    cùng với đất đai.

    (46) Khi các thiên nữ
    tụ tập với nhau,
    Thiên nữ ứng đến
    y như thủy triều ([73]).
    Với các bộ loại
    long thần dược xoa,
    thì làm cầm đầu
    thuần hóa được cả.

    (47) Phạn hạnh Thiên nữ
    hơn mọi nữ nhân.
    Nói thật, y như
    chúa tể thế giới.
    Trong giới vua chúa
    thì như hoa sen.
    Sông mê bến khổ
    thì làm cầu, thuyền.

    (48) Khuôn mặt thì giống
    mặt trăng tròn đầy.
    Đa văn toàn hảo
    là nơi nương tựa.
    Hùng biện nổi bật
    in như núi cao.
    Ai tưởng niệm đến
    thì làm cồn, bãi ([74]).

    (49) Bộ loại tu la
    cùng với chư thiên,
    ai cũng tán dương
    công đức Thiên nữ.
    Ngay như Đế thích
    với cả ngàn mắt,
    cũng nhìn với lòng
    kính trọng nồng hậu.

    (50) Chúng sinh nếu có
    mong cầu những gì,
    thì làm cho họ
    thành đạt mau chóng.
    Giúp kẻ hùng biện
    toàn hảo nghe nhớ.
    Là kẻ hơn hết
    giữ cho địa cầu.

    (51) Ở trong thế giới
    khắp cả mười phương,
    làm ánh đèn lớn
    chiếu soi thường xuyên.
    Cho đến quỉ thần
    cùng với cầm thú
    cũng toại nguyện cho
    những gì chúng cầu.

    (52) Trong mọi nữ nhân,
    như đỉnh núi cao.
    Sống lâu ở đời
    như tiên nhân xưa.
    Thường xuyên ly dục
    như Thiếu nữ thiên.
    Lời nói chân thành
    như Đại thế chúa.

    (53) Nhìn khắp thế giới
    chủng loại khác nhau,
    cho đến chư thiên
    của cả Dục giới,
    chỉ thấy Thiên nữ
    đáng xưng tôn quí,
    không thấy có ai
    hơn được Thiên nữ.

    (54) Những ai kinh hoàng
    ở trong chiến trận,
    những ai sa vào
    ở trong hố lửa,
    sông ngòi hiểm nạn
    và gặp đạo tặc,
    thì được làm cho
    hết cả sợ hãi.

    (55) Ai bị phép vua
    bắt bớ cùm kẹp,
    ai bị oán thù
    muốn giết muốn hại,
    mà nhớ Thiên nữ
    lòng không dao động,
    quyết định thoát được
    mọi nỗi lo sợ.

    (56) Người hiền kẻ dữ
    đều giúp đỡ cả,
    ý niệm từ bi
    thường ở trước mắt.
    Thế nên nay tôi
    đem lòng chân thành
    kính lạy ngưỡng vọng
    Đại biện thiên nữ.

    Bà la môn, lúc ấy, lại chú tán ([75]) Đại biện tài thiên nữ như sau :

    (57) Tôi kính lạy bậc
    tôn quí trong đời,
    là mẹ hơn hết
    tất cả bà mẹ.
    Ba loại thế giới ([76])
    đều hiến cúng cả.
    Mặt và dáng dấp
    ai cũng thích nhìn.

    (58) Diệu đức đa dạng
    trang sức thân thể.
    Mắt như cánh sen
    xanh mà lớn dài.
    Ánh sáng phước trí
    nổi tiếng khắp nơi,
    tựa như ngọc quí
    như ý vô giá.

    (59) Tôi nay ca tụng
    một bậc siêu việt,
    bậc làm thành tựu
    cho sự mong cầu,
    bậc diệu cát tường
    chân thật công đức,
    bậc như hoa sen
    rất ư thanh khiết.

    (60) Thân sắc uy nghiêm
    ai cũng thích nhìn.
    Tướng tốt hiếm có
    không thể nghĩ bàn.
    Phóng ra ánh sáng
    trí tuệ trong sạch.
    Ý niệm hơn hết
    trong mọi ý niệm.

    (61) Ví như sư tử
    nhất trong loài thú,
    thường có tám tay
    tự trang hoàng mình :
    cầm cung, cầm tên
    cầm đao, giáo, búa,
    chày, bánh xe sắt,
    cùng với dây buộc.

    (62) Đẹp đẽ thích nhìn
    tựa như trăng tròn.
    Nói năng thông suốt
    mà lại hòa nhã.
    Những ai trong lòng
    cầu nguyện những gì,
    bậc Thiện sĩ này
    tùy niệm thỏa mãn.

    (63) Đế thích, chư thiên
    đều kính trọng cả,
    đều cùng tán dương
    là nơi nương tựa.
    Công đức xuất sinh
    thật khó nghĩ bàn,
    trong mọi thì gian
    tôi khởi cung kính
    Soa ha (svaha) ([77]).

    (64) Ai muốn cầu đảo
    Đại biện thiên nữ,
    hãy y lời chữ
    bài chú tán này,
    hôm sớm tinh khiết
    chí thành mà tụng,
    thì điều cầu nguyện
    ứng nghiệm tùy tâm.

    Bấy giờ đức Thế tôn bảo Bà la môn, lành thay, ông có thể lợi ích chúng sinh như vậy, ban cho họ yên vui, bằng cách tán dương Đại biện tài thiên nữ, thỉnh cầu da hộ, được phước vô biên ([78]).

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 46]

    Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim – cuốn 8

    Phẩm 15/2 – Đại Biện Thiên Nữ

    Bà la môn Kiều trần như nói những chỉnh cú tán dương và chú tán Đại biện tài thiên nữ rồi, lại nói    với đại hội, thưa các vị, nếu muốn thỉnh cầu Đại biện tài thiên nữ từ mẫn da hộ, để hiện tại được hùng biện vô ngại, đại trí thông minh, ngôn ngữ tuyệt diệu, bác học kỳ tài, thảo luận văn hoa, tùy ý hoàn thành mà không ngưng trệ, thì nên làm như thế này. Trước hết chí thành thiết tha mà triệu thỉnh

    Nam mô Phật đà da,
    Nam mô Đạt ma da,
    Nam mô Tăng dà da,
    Kính lạy chư vị Bồ tát,
    Kính lạy chư vị Độc giác,
    Kính lạy chư vị Thanh văn,
    Kính lạy chư vị Hiền thánh.

    Chư vị Thế tôn quá khứ hiện tại đã tập lời nói chân thật, lời nói tùy thuận, lời nói hợp thời cơ, lời nói không lừa dối. Chư vị Thế tôn trong vô lượng đại kiếp thường xuyên nói chắc chắn. Nói chắc chắn thì ai cũng tùy hỷ. Vì không vọng ngữ nên quảng trường thiệt tướng xuất ra thì khắp cả khuôn mặt, khắp cả đại lục Thiệm bộ và ba đại lục khác, khắp một ngàn cho đến ba ngàn thế giới, khắp mười phương thế giới, phủ khắp tất cả một cách bất khả tư nghị, loại trừ nhiệt lực cao độ của phiền não. Kính lạy kính lạy quảng trường thiệt tướng như vậy của chư vị Thế tôn, nguyện con thành tựu hùng biện nhiệm mầu. Con xin chí tâm kính lạy

    (65) Kính lạy sự hùng biện
    của chư vị Thế tôn.
    Kính lạy sự hùng biện
    của chư vị Bồ tát.
    Kính lạy sự hùng biện
    của chư vị Độc giác.
    Kính lạy sự hùng biện
    của chư vị Thanh văn.

    (66) Kính lạy sự hùng biện
    của tiếng nói tứ đế.
    Kính lạy sự hùng biện
    của chánh hành chánh kiến.
    Kính lạy sự hùng biện
    của Phạn thiên, chư tiên.
    Kính lạy sự hùng biện
    của Ô ma đại thiên.

    (67) Kính lạy sự hùng biện
    của Tắc kiến đà thiên.
    Kính lạy sự hùng biện
    của Ma na tư vương.
    Kính lạy sự hùng biện
    của Thông minh dạ thiên.
    Kính lạy sự hùng biện
    của bốn Đại thiên vương.

    (68) Kính lạy sự hùng biện
    của Thiện trú thiên tử.
    Kính lạy sự hùng biện
    của Kim cang mật chủ.
    Kính lạy sự hùng biện
    của Phệ sốt nộ thiên.
    Kính lạy sự hùng biện
    của Tì ma thiên nữ.

    (69) Kính lạy sự hùng biện
    của Thị số thiên thần.
    Kính lạy sự hùng biện
    của Thất thị mạt đa.
    Kính lạy sự hùng biện
    của lời tiếng Hê lị.

    (70) Kính lạy sự hùng biện
    của Mẹ lớn các mẹ.
    Kính lạy sự hùng biện
    quỉ mẫu Ha rị để.
    Kính lạy sự hùng biện
    của chư thần Dược xoa.
    Kính lạy sự hùng biện
    của chư vương mười phương([79]).

    (71) Có bao nhiêu thắng nghiệp
    xin giúp đỡ cho con,
    làm cho con thực hiện
    sự hùng biện nhiệm mầu.

    (72) Con xin kính lạy
    bậc không dối trá.
    Con xin kính lạy
    bậc đã giải thoát.
    Con xin kính lạy
    bậc đã ly dục.
    Con xin kính lạy
    bậc hết triền cái ([80]).

    (73) Con xin kính lạy
    bậc tâm thanh tịnh.
    Con xin kính lạy
    bậc đầy ánh sáng.
    Con xin kính lạy
    bậc nói chân thật.
    Con xin kính lạy
    bậc hết trần tập ([81]).

    (74) Con xin kính lạy
    bậc ở thắng nghĩa.
    Con xin kính lạy
    bậc đại chúng sinh.
    Con xin kính lạy
    Đại biện thiên nữ,
    hãy làm cho con
    lời tiếng vô ngại.

    (75) Cầu cho cái điều
    con nguyện cầu đây
    mau chóng thành đạt
    một cách toàn hảo.
    Cầu con vô bịnh,
    cầu con yên ổn,
    cầu con thọ lượng
    được kéo dài ra,

    (76) cầu con thể hội
    các lời minh chú,
    cầu con siêng tu
    các pháp giác phần,
    cầu con lợi lạc
    cho bao chúng sinh,
    cầu con sớm toại
    tâm nguyện như trên.

    (77) Con nói những lời
    chân thành chắc thật,
    con nói những lời
    không hề dối trá ;
    cầu sự hùng biện
    của Đại thiên nữ
    giúp đỡ cho con
    được thành đạt cả.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 47]

    (78) Cầu nguyện Thiên nữ
    ứng đến chỗ con,
    làm con nói năng
    không bị ngưng trệ,
    đưa vào mau chóng
    trong thân miệng con
    sự đại thông minh
    hùng biện toàn hảo.

    (79) Cầu nguyện làm cho
    cái lưỡi của con
    sẽ được hùng biện
    giống đức Thế tôn,
    và do uy lực
    của hùng biện ấy
    mà con thuần hóa
    cho bao chúng sinh.

    (80) Lúc con xuất ra
    lời tiếng hùng biện,
    thì tùy sự việc
    được thành tựu cả ;
    bởi vì người nghe
    sinh ra kính trọng,
    nên nói và làm
    không vô hiệu quả.

    (81) Nếu con cầu nguyện
    về sự hùng biện
    mà sự thể ấy
    không được hiệu nghiệm,
    thì lời chắc thật
    Thiên nữ đã nói
    sẽ toàn thành ra
    hư vọng tất cả.

    (82) Có kẻ đã làm
    năm tội vô gián,
    mà lời Thế tôn
    làm họ thuần hóa.
    Lại như các bậc
    thánh giả La hán
    nói ra những lời
    báo đáp ân huệ.

    (83) Và lời các ngài
    Thu tử, Mục liên,
    đứng đầu thánh chúng
    đệ tử Thế tôn.
    Tất cả lời nói
    chân thật trên đây,
    nguyện cầu cho con
    cũng được như vậy.

    (84) Nay con chí thành
    triệu thỉnh các bậc
    thánh chúng Thanh văn
    của đức Thế tôn,
    nguyện xin các ngài
    mau đến chỗ con,
    tác thành cho con
    lời nguyện cầu này.

    (85) Lời cầu của con
    là lời chân thật,
    lời nguyện của con
    là không hư dối.
    Trên từ chư thiên
    của Sắc cứu cánh,
    cùng với thánh giả
    năm nơi Tịnh cư ;

    (86) chư vị Phạn vương
    chư thiên Phạn phụ
    cùng với tất cả
    chư thiên Phạn chúng ;
    và Đại phạn vương
    chúa tể tự phong
    của cả đại thiên
    thế giới Sách ha,

    (87) cùng với tất cả
    chư thiên tùy thuộc ;
    giờ này con xin
    triệu thỉnh tất cả,
    ước nguyện tất cả
    rủ lòng từ mẫn,
    thương tưởng đến con
    mà cùng nhiếp thọ.

    (88) Tha hóa tự tại,
    Lạc biến hóa thiên,
    Đỗ sư đa thiên
    nơi có Từ tôn ;

    (89) chư thiên Dạ ma,
    chư thiên Đao lợi,
    cùng với chư thiên
    nơi bốn Thiên vương ;

    (90) tất cả chư thần
    đất nước lửa gió
    ở núi Diệu cao
    tất cả chư thần
    bảy lớp biển cả
    bảy lớp núi lớn,
    cùng với bao nhiêu
    tùy thuộc của họ ;

    (91) Mãn tài, Ngũ đỉnh ([82]),
    nhật nguyệt tinh tú,
    tất cả chư thiên
    có cái tâm nguyện
    làm cho thế giới
    nhân loại yên ổn ;

    (92) chư thiên chư thần
    không thích tạo tội ;
    quỉ mẫu cùng với
    đứa con nhỏ nhất ;

    (93) lại còn tất cả
    tám bộ thiên long.

    (94) Nay con dựa vào
    uy lực Thế tôn
    mà triệu thỉnh cả,
    nguyện xin từ mẫn
    mà giúp cho con
    hùng biện vô ngại.

    (95) Tất cả nhân loại
    cùng với chư thiên
    những vị biết được
    tâm nguyện của người,
    nguyện đem thần lực
    gia hộ cho con,
    giúp con có được
    hùng biện nhiệm mầu.

    (96) Cho đến nguyện cầu
    hết thảy chúng sinh
    cùng tận không gian
    khắp cả pháp giới,
    giúp con có được
    hùng biện nhiệm mầu.

    Đại biện tài thiên nữ, bấy giờ, nghe lời nguyện cầu như vậy, thì nói với Bà la môn, rằng lành thay, đại nhân ! Nếu thiện nam hay thiện nữ nào có thể y theo minh chú và chú tán như trước đã nói mà thọ trì đúng cách, qui kính Tam bảo, chí thành chánh niệm, thì mọi sự cầu nguyện đều không vô hiệu. Những người ấy nếu còn thọ trì đọc tụng bản kinh nhiệm mầu Ánh sáng hoàng kim này, thì mọi sở nguyện càng không vô hiệu, thành đạt mau chóng, trừ kẻ không có chí tâm. Bấy giờ Bà la môn, từ trong tâm trí sâu xa, rất là hoan hỷ, chắp tay thành kính mà vâng lời.

    Đức Thế tôn bảo Đại biện tài thiên nữ, rằng lành thay, thiện nữ ! Thiện nữ có thể quảng bá kinh này như vậy, hộ vệ cho những người thọ trì kinh này, và lợi ích cho chúng sinh an lạc.

    Khi đức Thế tôn tuyên thuyết pháp thoại này, [kết thúc rằng] ban cho hùng biện thì bất khả tư nghị, phước được vô lượng, làm cho những người phát tâm cùng đi mau đến vô thượng bồ đề.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 48]

    Phẩm 16 – Cát Tường Thiên Nữ

    Vào lúc bấy giờ Đại cát tường thiên nữ tức thì đứ  ng dậy khỏi chỗ mình ngồi, bước tới đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, chắp tay cung kính mà thưa, bạch đức Thế tôn, nếu con thấy trong bốn bộ đệ tử của đức Thế tôn có ai tiếp nhận, ghi nhớ, nghiên cứu, tụng thuộc, giảng nói cho người bản kinh Ánh sáng hoàng kim này, thì con chuyên tâm tôn kính hiến cúng những vị pháp sư ấy. Đồ ăn, đồ mặc, đồ nằm, dược phẩm, cùng với tất cả đồ dùng cần thiết cho đời sống, con làm cho đủ cả, không thiếu thứ gì. Để những vị pháp sư ấy sống thư thái mà, ngày cũng như đêm, tư duy cứu xét văn tự và nghĩa ý của bản kinh vua này. Nhờ vậy mà làm cho bản kinh vua này quảng bá rộng rãi trong đại lục Thiệm bộ, để cho những người đã trồng thiện căn nơi chỗ vô số chư vị Thế tôn thường được lắng nghe, chứ không ẩn mất mau chóng ; để cho những người ấy trong vô số kiếp sẽ hưởng hạnh phúc vượt bậc trong nhân loại chư thiên, hiện tại thì sung túc, không bao giờ còn bị đói khát. Lại nhờ vậy mà làm cho chúng sinh được hưởng yên vui, được gặp chư vị Thế tôn, vị lai mau được vô thượng bồ đề, tuyệt hẳn cái khổ luân hồi ba nẻo đường dữ.

    Bạch đức Thế tôn, con nhớ quá khứ có đức Thế tôn danh hiệu Lưu ly kim sơn bảo hoa quang chiếu cát tường công đức hải như lai, đủ mười đức hiệu. Con đã gieo trồng thiện căn ở nơi đức Thế tôn ấy. Chính nhờ thần lực của đức Thế tôn ấy từ bi da trì mà làm cho con nghĩ chỗ nào, nhìn hướng nào, đến nước nào, đều đem lại lạc thú cho vô số chúng sinh ; ngoài y phục, ẩm thực, những thứ cần thiết để sống, họ còn có cả bạc vàng, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, chân châu. Do vậy, những ai chí tâm đọc tụng kinh vua Ánh sáng hoàng kim này, thì cũng nên mỗi ngày đốt những hương liệu danh tiếng, chưng những bông hoa tốt đẹp, vì con mà hiến cúng đức Lưu ly kim sơn bảo hoa quang chiếu cát tường công đức hải như lai, thêm nữa, mỗi ngày ba buổi xưng niệm danh hiệu của con, đặt riêng hương hoa và mĩ vị mà hiến cúng cho con. Những ai lắng nghe tiếp nhận kinh vua này thì cũng được phước như trên.

    Đại cát tường thiên nữ nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (1) Do sự trì kinh
    như con đã nói,
    mà bản thân họ
    cùng với thân quyến
    tách rời thật xa
    bao sự suy biến,
    đồ dùng đầy đủ
    không bao giờ thiếu,
    uy quang, thọ lượng
    đều khó cùng tận.

    (2) Cái lực trì kinh
    làm đất màu mỡ,
    làm mưa với gió
    rất đúng thời vụ,
    chư thiên đẹp dạ,
    chư thần ra sức.

    (3) Cây trái tốt tươi,
    lúa má toàn hảo,
    cầu tài cũng thỏa,
    nghĩ gì toại ý.

    Đức Thế tôn bảo Đại cát tường thiên nữ, rằng lành thay, thiện nữ có thể nhớ trả ơn xưa mà chỉ cách hiến cúng, lợi ích yên vui cho vô số chúng sinh, và quảng bá kinh này thì phước đức thật bất tận.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 49]

    Phẩm 17
    Tăng Trưởng Tài Vật

    Bấy giờ Đại cát tường thiên nữ lại thưa, bạch đức Thế tôn, Đa văn thiên vương ở hướng bắc có thành trì tên là Hữu tài. Cách thành trì ấy không xa thì có hoa viên tên là Diệu hoa phước quang. Trong hoa viên này có cung điện thù thắng, do bảy chất liệu quí báu tạo thành. Con thường ở trong cung điện ấy. Những ai muốn cầu ngũ cốc mỗi ngày mỗi thêm, kho lẫm tràn đầy, thì phải có cái tâm kính tin, sửa dọn một phòng cho sạch, dùng cù ma mà tráng nền. Hãy vẽ tượng con với những chuỗi ngọc trang sức khắp người. Phải tắm rửa mình mẩy, xoa xát hương liệu, mặc đồ sạch sẽ. Vào tịnh thất thì hãy phát tâm vì con mà mỗi ngày  ba bu2.4ổi xưng niệm hồng danh đức Thế tôn của con, và danh hiệu kinh này mà kính lạy. Hãy niệm Nam mô Lưu ly kim sơn bảo hoa quang chiếu cát tường công đức hải như lai, [Nam mô Kim quang minh tối thắng vương kinh]. Hãy đem hương hoa và mĩ vị mà chí tâm phụng hiến. Cũng hiến cúng hình tượng của con bằng hương hoa và ẩm thực. Lại đem ẩm thực mà vãi các phương hướng, hiến cho chư thần. Rồi nói thành thật mà triệu thỉnh con, Đại cát tường thiên nữ, để phát ra ước nguyện của mình. Và rằng nếu Thiên nữ nói thật thì đừng để thỉnh nguyện của con vô hiệu quả. Bấy giờ con, Đại cát tường thiên nữ, biết sự thể này thì thương tưởng, làm cho nhà họ thêm thóc lúa, thêm tài vật. Hãy tụng minh chú sau đây mà triệu thỉnh con. Nhưng trước khi tụng minh chú, hãy chí tâm mà xướng và lạy hồng danh của chư vị Như lai và chư vị Bồ tát.

    Kính lạy chư vị Như lai khắp mười phương hướng trong ba thì gian,
    Kính lạy đức Bảo kế như lai,
    Kính lạy đức Vô cấu quang minh bảo tràng như lai,
    Kính lạy đức Kim tràng quang như lai,
    Kính lạy đức Bách kim quang tạng như lai,
    Kính lạy đức Kim cái bảo tích như lai.
    Kính lạy đức Kim hoa quang tràng như lai,
    Kính lạy đức Đại đăng quang như lai,
    Kính lạy đức Đại bảo tràng như lai,
    Kính lạy đức Bất động như lai ở hướng đông,
    Kính lạy đức Bảo tràng như lai ở hướng nam,
    Kính lạy đức Vô lượng thọ như lai ở hướng tây,
    Kính lạy đức Thiên cổ âm vương như lai ở hướng bắc,
    Kính lạy đức Diệu tràng bồ tát,
    Kính lạy đức Kim quang bồ tát,
    Kính lạy đức Kim tạng bồ tát,
    Kính lạy đức Thường đề bồ tát,
    Kính lạy đức Pháp thượng bồ tát,
    Kính lạy đức Thiện an bồ tát.

    Kính lạy chư vị Như lai và chư vị Bồ tát rồi, kế đó, trì tụng minh chú sau đây mà triệu thỉnh con, Đại cát tường thiên nữ. Do cái lực của minh chú này mà sự nguyện cầu được hiệu quả. Đại cát tường thiên nữ tức thì tuyên thuyết minh chú ấy : Nam mô, Sri ma ha đê vi, tát da tha, pa ri pua na cha rê, Sa măn ta đar sa ni, ma ha vi ha ra ga tê, sa man ta, pi ta ma ma ti, ma ha ka ri da, prát vít tha pi ni, sar văn tơ, a sa măn tan, su pra ti pu rê, a da na đa ma ta, ma ha ba gê na, ma ha mai tri, u pa săm hê tê, ma hắt lê sa, su sam gri hơ tê, a nu pu la na, soa ha. (Namo Srimahadevi tadyatha paripurnacare Samantadarsani mahaviharagate samanta pitamamati mahakarya prat’visthapini sarvant asamantan (  ?) supratipure ayanadharmata mahabhagena mahamaitri upasamhete mahaklesa susamgrh’te anupulana svaha).

    Bạch đức Thế tôn, ai trì tụng minh chú này để triệu thỉnh con, thì con nghe là đến ngay chỗ người ấy để làm cho họ toại nguyện. Bạch đức Thế tôn, minh chú này là câu chữ của đại pháp quán đảnh, câu chữ của đại định thành tựu, câu chữ tối chân thật, câu chữ không dối trá, là việc làm bình đẳng, là thiện căn chính yếu đối với chúng sinh. Thọ trì đọc tụng minh chú này thì phải bảy ngày đêm thọ giới Bát quan trai, mỗi buổi sáng sớm đánh răng súc miệng sạch sẽ rồi, sau lúc quá trưa ([83]) thì hiến cúng hương hoa lên chư vị Thế tôn, phát lộ tội lỗi của mình. Hãy vì bản thân và vì chúng sinh mà hồi hướng, phát nguyện. Như thế mới làm cho hy vọng mau thành tựu. Hãy dọn sạch một cái phòng, hoặc ở chỗ trống vắng, hoặc ở chỗ lan nhã, dùng cù ma mà làm đàn tràng, đốt đàn hương mà hiến cúng. Hãy đặt một cái ghế đặc biệt, trang hoàng tràng phan, lọng dù. Hãy dùng bông hoa danh tiếng mà sắp ra trong đàn tràng. Rồi chí tâm tụng trì minh chú đã nói ở trên, mong ước con đến. Lúc này con tức khắc nghĩ đến người ấy, quan sát người ấy, và đến trong đàn tràng, ngồi nơi cái ghế đặc biệt, nhận sự hiến cúng của người ấy. Từ đó về sau, con làm cho người ấy được mộng thấy con. Người ấy cầu gì thì cứ nói thật. Thì dầu ở trong làng xóm, ở cạnh đầm chằm, hay ở trong trú xứ chư tăng, cầu gì cũng thỏa. Bạc vàng, tài sản, gia súc, thóc lúa, ẩm thực, y phục, đều tùy tâm ước muốn mà hưởng thụ lạc thú. Nhưng được sự linh nghiệm rồi, trước hết phải đem phần thượng hạng mà hiến cúng Tam bảo, hồi thí cho con. Hãy làm pháp hội lớn, thiết ẩm thực và bày hoa hương. Hiến cúng rồi thì cúng phẩm đem bán đi, lấy tiền mà hiến cúng nữa. Trọn đời người ấy con thường ở bên cạnh, giúp cho người ấy không thiếu thứ gì, cầu gì cũng thỏa. Nhưng cũng phải thường xuyên chu cấp cho người nghèo thiếu, không được tiếc lẫn, chỉ vị bản thân. Lại thường đọc tụng kinh này, hiến cúng không ngớt. Phải đem cái phước này phổ thí tất cả mà hồi hướng bồ đề, nguyện vượt sinh tử mà giải thoát mau chóng.

    Bấy giờ đức Thế tôn tán dương, rằng lành thay Đại cát tường thiên nữ. Thiên nữ có thể quảng bá kinh này như vậy. Thì thật bất khả tư nghị, lợi ích cho cả bản thân và tha nhân.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 50]

    Phẩm 18
    Kiên Lao Địa Thần

    Vào lúc bấy giờ Kiên lao địa thần ở trong đại hội tức thì đứng dậy khỏi chỗ mình ngồi, chắp tay cung kính mà thưa, bạch đức Thế tôn, trong hiện tại hay trong vị lai, những nơi thành thị, làng xóm, cung vua, lầu đài, lan nhã, chằm núi, rừng hoang, chỗ nào có bản kinh vua Ánh sáng hoàng kim này quảng bá thì, bạch đức Thế tôn, con sẽ đến chỗ ấy, hiến cúng, tôn kính, hộ vệ, quảng bá. Chỗ nào đặt tòa cao cho vị pháp sư diễn giảng kinh này, thì con đem thần lực, không biểu hiện bản thân, mà ở ngay nơi tòa cao đưa đỉnh đầu đội chân cho vị pháp sư ấy bước lên. Con được nghe pháp, thâm tâm hoan hỷ, được hưởng pháp vị, tăng thêm uy quang, mừng vui vô hạn. Bản thân con được lợi ích như vậy, con làm cho cõi đất to lớn này, sâu một trăm sáu mươi tám ngàn, sâu đến kim cang luân, màu mỡ của đất đều thêm lên. Trong bốn biển, đất đai tất cả hải đảo cũng vậy, được làm cho màu mỡ hơn ngày thường. Trong đại lục Thiệm bộ, bao nhiêu sông rào ao hồ mà có các loại cây, cỏ thuốc, lùm rừng với các thứ hoa quả, rễ thân, nhánh lá, cùng với lúa má, thì bề ngoài ai cũng đã thích nhìn, màu sắc hương vị đủ cả, và thứ nào cũng dùng được. Dùng những ẩm thực phẩm khác thường như vậy thì tăng thêm sống lâu, sắc đẹp, và sức mạnh, tất cả giác quan đều ổn định, tươi sáng thêm lên, đau đớn không còn. Tâm trí mạnh mẽ, đủ mọi kham năng. Cả địa cầu này cần gì thì hàng trăm hàng ngàn sự việc đều hoàn bị. Bạch đức Thế tôn, vì tình trạng này mà cả đại lục Thiệm bộ yên ổn sung túc, dân chúng đông đảo, không mọi suy tổn, ai cũng an lạc.

    Cả cơ thể và tâm trí hưởng được lạc thú như vậy, thì đối với bản kinh vua này càng thêm mến trọng sâu xa, ở đâu cũng muốn thọ trì, hiến cúng, cung kính, tôn trọng, tán dương. Lại cùng nhau đến chỗ pháp tòa của vị pháp sư, vì chúng sinh mà thỉnh cầu diễn giảng bản kinh vua tối thắng này. Tại sao, vì bạch đức Thế tôn, diễn giảng kinh này thì bản thân con và mọi tùy thuộc đều nhờ lợi ích, khí lực tươi sáng, uy thế mạnh mẽ, dung mạo đoan trang, sắc tướng đẹp đẽ, tất cả đều hơn ngày thường. Bạch đức Thế tôn, con, Kiên lao địa thần, hưởng được pháp vị rồi, có thể làm cho đại lục này, với bảy ngàn lần trăm triệu chu vi đất đai đều màu mỡ, cho đến như trước đã nói ai cũng an lạc. Do vậy, bạch đức Thế tôn, lúc đó chúng sinh, để trả ơn con, nên nghĩ như vậy, ta nhất định phải lắng nghe tiếp nhận kinh vua ấy, cung kính hiến cúng tôn trọng, tán dương. Nghĩ vậy nên từ bất cứ chỗ nào họ cư trú, họ cùng đến pháp hội, kính lạy pháp sư, lắng nghe kinh này. Lắng nghe rồi, ai nấy trở về chỗ cũ, lòng rất mừng vui, và nói rằng nay chúng ta được nghe cái pháp thậm thâm vô thượng, thế là đã thu nhận cái khối phước đức bất khả tư nghị. Do cái lực của kinh này, chúng ta sẽ gặp được vô lượng chư vị Thế tôn mà phụng sự hiến cúng, vĩnh ly những chỗ tối khổ là ba nẻo đường dữ. Thêm nữa là vị lai, trong hàng trăm hàng ngàn đời, thường hưởng hạnh phúc hơn hết ở trong nhân loại và trên chư thiên. Khi trở về chỗ cũ, họ cũng nói cho những người đồng hương về bản kinh vua này. Họ nói kinh này qua một sự ví dụ, một phẩm, một chuyện đời trước, một danh hiệu Thế tôn, một danh hiệu Bồ tát, một bài chỉnh cú bốn câu, hoặc một câu có nghĩa, hay đến nỗi chỉ nói tên kinh. Như thế thì bạch đức Thế tôn, chỗ họ cư trú đất đai phì nhiêu hơn chỗ khác. Đất đai ấy sản xuất gì cũng tăng trưởng, tươi tốt, to lớn, làm cho chúng sinh thụ hưởng lạc thú, nhiều của, ưa bố thí, tâm chí kiên định mà thâm tín Tam bảo.

    Kiên lao địa thần thưa như vậy rồi, đức Thế tôn bảo, rằng Kiên lao địa thần, nếu ai nghe được kinh vua Ánh sáng hoàng kim thì, dầu chỉ một câu, họ chết cũng sinh Đao lợi hay các thiên xứ khác. Ai vì sự hiến cúng kinh vua này mà trang hoàng nhà cửa, thì đến nỗi chỉ trương một cái lọng dù, treo một cái tràng phan, cũng do nhân tố ấy mà sinh trong sáu thiên xứ cõi Dục, sống trong cung điện thất bảo mà thụ hưởng tùy thích, và điều mà ai cũng tự nhiên có được là vui với bảy ngàn thiên nữ, ngày đêm thường xuyên hưởng thụ cái phước đặc biệt và khó mà nghĩ bàn.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 51]

    Đức Thế tôn dạy như vầy rồi, Kiên lao địa thần lại thưa, bạch đức Thế tôn, chính vì sự thể đức Thế tôn đã nói, nên những ai trong bốn bộ đệ tử của Ngài lên ngồi pháp tòa diễn giảng kinh này, thì con ngày đêm hộ vệ những người ấy, tự ẩn mình đi, đưa đỉnh đầu mình mà đỡ chân cho vị pháp sư khi bước lên và khi ngồi trên pháp tòa. Bạch đức Thế tôn, kinh này vì những người đã trồng thiện căn nơi vô số chư vị Thế tôn mà quảng bá bất tuyệt trong đại lục Thiệm bộ. Những người ấy lắng nghe kinh này thì vị lai vô số kiếp thường hưởng hạnh phúc vượt bậc trong chư thiên nhân loại, được gặp chư vị Thế tôn, được mau thành tựu vô thượng bồ đề, và nhất là không còn phải trải qua cái khổ sống và chết trong ba nẻo đường dữ.

    Khi ấy Kiên lao địa thần lại thưa, bạch đức Thế tôn, con có một bài minh chú ([84]) có năng lực lợi ích nhân thiên, an lạc tất cả. Nam tử nữ nhân nào, hay bốn bộ đệ tử của đức Thế tôn, muốn được đích thân nhìn thấy chân thân của con, thì phải chí tâm mà trì minh chú ấy. Thì tùy sở nguyện mà toại ý cả. Là như nguyện được đồ dùng để sống, nguyện được tài sản, nguyện được vàng ngọc, nguyện được kho tàng ẩn trong lòng đất, nguyện được những khả năng thần kỳ, nguyện được thuốc thần để trường sinh hay trị liệu mọi bịnh, nguyện chiến thắng thù địch, nguyện chế ngự các thứ luận thuyết. Hãy dọn một tịnh thất mà thiết đạo tràng, tắm mình mẩy, mặc đồ sạch, ngồi nệm cỏ. Hãy đối trước hình tượng Phật có xá lợi, hay trước chùa tháp Phật có xá lợi, mà đốt hương, rải hoa, hiến dâng ẩm thực. Lấy ngày tám tháng trăng sáng ([85]), hoặc là ngày sao Bố sái ([86]) mà tụng minh chú triệu thỉnh con, Kiên lao địa thần : Tát da tha, chi ri, chi ri, chu ru, chu ru, ku ru, ku ru, ku tu, ku tu, tô tu, tô tu, ba ha, ba ha, sa va ri, sa va ri, soa ha. (Tadyatha ciri ciri curu curu kuru kuru kutu kutu totu totu bhaha bhaha savari savari svaha).

    Bạch đức Thế tôn, minh chú này, nếu có ai trong bốn bộ đệ tử Thế tôn tụng được một trăm tám biến mà triệu thỉnh con, thì con sẽ đến tức khắc. Lại nữa, bạch đức Thế tôn, nếu ai muốn thấy con biểu hiện thân ra để nói chuyện với nhau, thì cũng phải sắp đặt như trước rồi tụng minh chú này : Tát da tha, a cha ni, gri li ga, kơ sa na ti, si ra, sít đa ri, ha, ha, hi, hi, ku ru, ba rê, soa ha. (Tadyatha acani griliga ksanati sira sidhari ha ha hi hi kuru bhare svaha).

    Bạch đức Thế tôn, tụng minh chú này thì phải một trăm tám biến, lại tụng minh chú trên nữa, thì quyết chắc con sẽ biểu hiện thân con, thành tựu cho sở nguyện của họ, hoàn toàn không vô hiệu quả. Nhưng muốn tụng minh chú này thì trước hết phải tụng minh chú giữ mình : Tát da tha, ni si ri, ma sa ka ni, na ti, ku ti, bút đi, bút đi rê, bi ti, bi ti, ku ku ti, ba chi ri, soa ha. (Tadyatha nisiri masakani nati kuti budhi budhire biti biti kukuti baciri svaha).

    Bạch đức Thế tôn, tụng minh chú này thì dùng chỉ ngũ sắc, tụng hai mươi mốt biến thì thắt hai mươi mốt gút, đem buộc sau khuỷu tay trái, thì giữ mình mà không có gì sợ hãi nữa. Chí tâm mà tụng minh chú này thì cầu gì cũng thỏa. Con không vọng ngữ. Phật pháp tăng là chứng điệp của con, chứng nhận cho con.

    Bấy giờ đức Thế tôn bảo Kiên lao địa thần, lành thay, địa thần có thể đem minh chú nói thật mà hộ trì kinh này và pháp sư quảng bá kinh này. Nhân tố này làm cho địa thần được phước báo vô số lượng.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 52]

    Phẩm 19 – Dược Xoa Đại Tướng

    Vào lúc bấy giờ, đại tướng Dược xoa là Chánh liễu tri, cùng với chư thần hai mươi tám bộ Dược xoa, ở trong đại hội cùng nhau đứng dậy khỏi chỗ họ ngồi, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay hướng về đức Thế tôn mà thưa, bạch đức Thế tôn, hoặc hiện tại, hoặc vị lai, ở thành thị, ở làng xóm, ở chằm núi, ở rừng hoang, ở cung điện vua, ở tăng trú xứ, ở bất cứ chỗ nào mà bản kinh vua Ánh sáng hoàng kim này quảng bá đến, thì, bạch đức Thế tôn, con, đại tướng Chánh liễu tri, cùng chư thần hai mươi tám bộ Dược xoa, đều đến chỗ ấy, cùng ẩn mình đi, tùy chỗ mà hộ vệ cho vị thuyết pháp khỏi suy tổn, hưởng yên vui ; hộ vệ cho những người nghe pháp, bất kể nam hay nữ, đồng nam hay đồng nữ, mà đối với bản kinh vua này dầu chỉ tiếp nhận ghi nhớ một bài chỉnh cú bốn câu, hoặc một câu có nghĩa, hoặc cái tên của bản kinh vua này mà thôi, hoặc một danh hiệu Thế tôn hay một danh hiệu Bồ tát trong bản kinh vua này mà phát tâm xưng niệm tôn kính hiến cúng, thì con hộ vệ, thu nhận, làm cho khỏi tai nạn, rời khổ được vui.

    Bạch đức Thế tôn, tại sao tên con là Chánh liễu tri, [thấu hiểu chính xác]  ? Điều này thì chính đức Thế tôn đích thân làm chứng cho con. Con biết các pháp, con hiểu các pháp. Tùy các pháp có gì, như các pháp là gì ([87]) thì, bạch đức Thế tôn, con thấu hiểu cả. Con có ánh sáng trí tuệ khó lường, có ánh đuốc trí tuệ khó lường, có việc làm trí tuệ khó lường, có cái khối trí tuệ   khó lường, nên đối với lĩnh vực trí tuệ khó lường con thông suốt được cả. Bạch đức Thế tôn, vì đối với các pháp con biết chính xác, hiểu chính xác, ngộ chính xác, có năng lực chính xác quan sát, nên bạch đức Thế tôn, con tên là đại tướng Chánh liễu tri. Do yếu tố này mà con làm cho người thuyết pháp ngôn từ hùng biện đều cụ túc trang nghiêm, lại làm cho sinh khí nhập vào qua lỗ chân lông nên toàn hảo tất cả thể lực sung mãn, uy thần mạnh mẽ, trí quang khó lường ; được ký ức chính xác nên không có khuất phục, được thể lực gia tăng nên không có suy tổn, được giác quan thư thái nên thường sinh hoan hỷ ; và vì vậy mà quảng bá kinh vua này trong đại lục Thiệm bộ cho những người gieo trồng thiện căn và tu tạo phước nghiệp nơi vô số chư vị Thế tôn, chứ không để ẩn mất mau chóng. Những người này lắng nghe kinh vua này thì được cái ánh trí tuệ nan tư nghị và được cái khối phước trí vô số lượng ; và trong thì vị lai thì vô số kiếp thường được thụ hưởng hạnh phúc vượt bậc trong nhân loại chư thiên, được gặp chư vị Thế tôn, được mau chứng vô thượng bồ đề, đặc biệt không còn đi qua những nỗi tối khổ trong ba nẻo đường dữ của lĩnh vực Diêm la.

    Bấy giờ đại tướng Chánh liễu tri thưa rằng, bạch đức Thế tôn, con có một minh chú, xin đích thân tự trình bày trước đức Thế tôn, để thương tưởng lợi ích cho bao chúng sinh : Nam mô Bút đa da, nam mô Đa ma da, nam mô Săm ga da, nam mô Brắt ma da, nam mô In đra da, na ma hơ cha tu năm, ma ha ra ja năm, tát da tha, hi ri, hi ri, mi li, mi li, Gau ri, Ma ha gau ri, Găn đa ri, Ma ha găn đa ri, Đra vi đi, Ma ha đra vi đi, đăn đa, khu kun tê, ha, ha, ha, ha, ha, hi, hi, hi, hi, hi, hô, hô, hô, hô, hô, ha la, đa ma, ku đa mê, cha, cha, cha, cha, chi, chi, chi, chi, chu, chu, chu, chu, chăn đê soa ra, sít kha ra, sít kha ra, út tít ta hi, ba ga văn, săm chin ja da, soa ha. (Namo Buddhaya, namo Dharmaya, namah Samghaya, namo Brahmaya, namo Indraya, namah caturnam mahasjanam, tadyatha hiri hiri mili mili Gauri Mahagauri Gandhari Mahagandhari Dravidi Mahadravidi danda khukunte ha ha ha ha ha, hi hi hi hi hi, ho ho ho ho ho, hala dhana kudame, ca ca ca ca, ci ci ci ci, cu cu cu cu, candesvara sikhara sikhara uttistahi bhagavan saceinjaya svaha).

    Bạch đức Thế tôn, ai thọ trì được minh chú này thì con cung phụng đủ cả đồ dùng để sống để vui, cung cấp ẩm thực, y phục, hoa quả, trân bảo, hoặc cầu con trai con gái, cầu bạc vàng trân bảo, hay cầu những chuỗi ngọc, con cung phụng cho cả, không để nguyện cầu mà thiếu thốn. Minh chú này có uy lực cực lớn. Trì tụng minh chú này thì con đến mau chỗ người ấy, làm cho toại ý mà không có gì trở ngại. Trì tụng minh chú này thì phải biết cách thức. Ấy là trước hết vẽ tượng con trên một mặt phẳng, cao bốn năm thước xưa, tay cầm mâu thử ([88]). Trước tượng này làm cái đàn bốn hướng, đặt bốn cái bình trong đựng đầy nước mật hay nước đường. Rồi xoa hương liệu, đốt hương liệu, và hiến những vòng hoa. Trước đàn để cái lò đất, trong để tro nóng có lửa mà đốt tô ma giới tử. Tụng minh chú trên một trăm tám biến, mỗi biến đốt một lần. Cho đến lúc con, đại tướng Chánh liễu tri, tự đến biểu hiện bản thân, hỏi người tụng chú, rằng cần gì thì cứ nói. Con tức khắc tùy lời người ấy nói mà làm cho thỏa mãn. Cần bạc vàng, cần kho tàng ẩn trong lòng đất, cần thần tiên lướt không gian mà đến, cần thiên nhãn thông, cần tha tâm thông, tất cả sự cần cầu như vậy để lợi ích chúng sinh thì tùy ý thành tựu, cho đến làm cho chúng sinh diệt phiền não, chứng giải thoát, cũng thực hiện được cả.

    Bấy giờ đức Thế tôn bảo đại tướng dược xoa Chánh liễu tri, rằng lành thay đại tướng. Đại tướng có thể lợi ích chúng sinh như vậy, tuyên thuyết minh chú để hộ vệ chánh pháp, phước lợi thật vô biên.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 53]

    Phẩm 20 – Vương Pháp Chính Luận

    Bấy giờ nữ thần đại địa tên Kiên lao địa thần, ở trong đại hội lại từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, chắp tay cung kính mà thưa, bạch đức Thế tôn, trong mọi quốc gia, những người làm quốc vương, nếu không có chánh pháp thì không thể quản trị quốc gia, an dưỡng quốc dân, bảo đảm bản thân ngồi lâu vương vị. Kính xin đức Thế tôn từ bi thương tưởng, dạy cho con nghe về vương pháp chính luận, chủ yếu của sự quản trị quốc gia. Để cho các vị quốc vương nghe được chánh pháp này thì tuân hành đúng như huấn dụ, đem chánh pháp mà hoá cải quốc dân, làm cho ngôi vua an ninh, quốc dân lợi lạc. Lúc ấy, ở trong đại hội, đức Thế tôn bảo Kiên lao địa thần, địa thần hãy nghe cho kỹ. Quá khứ có quốc vương tên là Lực tôn tràng. Quốc vương có thái tử tên Diệu tràng. Đăng quang không bao lâu, phụ vương bảo Diệu tràng, có vương pháp chính luận tên là Pháp của trời dạy. Trước đây ta đăng quang làm quốc vương, thì phụ vương của ta tên Trí lực tôn tràng đã dạy cho ta chính luận ấy. Ta y theo nên khéo quản trị quốc gia trong hai mươi ngàn năm, ta nhớ không hề mống lên một ý nghĩ làm điều phi pháp. Ngày nay con cũng phải như vậy. Đừng đem điều phi pháp mà quản trị quốc gia. Vương pháp chính luận là gì, con hãy nghe cho khéo, ta sẽ nói cho. Thế rồi quốc vương Lực tôn tràng liền nói cho con về chính luận ấy, bằng những chỉnh cú sau đây.

    (1) Tôi nói vương pháp luận
    lợi lạc bao sinh linh,
    để loại trừ hoài nghi
    và loại bỏ lỗi lầm.

    (2) Tất cả các thiên chủ
    cùng với các nhân vương
    nên sinh tâm hoan hỷ
    chắp tay nghe tôi nói.

    (3) Xưa bộ chúng chư thiên
    họp tại Kim cương sơn,
    bốn Thiên vương đứng dậy
    xin hỏi Đại phạn vương.

    (4) Đại phạn vương tối tôn
    tự tại nhất chư thiên,
    xin thương tưởng chúng tôi
    loại trừ giúp hoài nghi.

    (5) Làm sao ở nhân loại
    mà được gọi là trời  ?
    lại vì lý do nào
    mà gọi là con trời  ?

    (6) Tại sao sinh nhân gian
    một mình làm nhân vương  ?
    rồi sao tại chư thiên
    lại được làm thiên chủ  ?

    (7) Người hộ vệ thế giới
    hỏi Đại phạn vương rồi,
    Đại phạn vương bấy giờ
    liền nói cho họ nghe.

    (8) Người hộ vệ thế giới,
    vì ích lợi bao kẻ
    mà hỏi phép trị nước,
    ta nói, hãy lắng nghe.

    (9) Do lực thiện nghiệp cũ
    sinh thiên làm thiên chủ ;
    lại ở trong nhân loại
    làm quốc vương thống lĩnh.

    (10) Chư thiên cùng da hộ
    mới nhập vào thai mẹ,
    khi ở trong thai mẹ
    chư thiên vẫn giữ gìn.

    (11) Dẫu sinh trong nhân loại
    tôn hơn nên gọi trời,
    do chư thiên hộ vệ
    nên được gọi con trời.

    (12) Chúa trời Đao lợi thiên
    phân sức giúp nhân vương,
    và tất cả chư thiên
    cũng giúp sức tự tại.

    (13) Loại trừ mọi phi pháp
    không cho sinh ác nghiệp,
    dạy người tu điều thiện
    để họ sinh chư thiên.

    (14) Nhân loại, a tô la,
    càn thát bà vân vân,
    la sát, chiên trà la,
    cùng giúp đến nửa sức.

    (15) Cha mẹ giúp nửa sức
    để bỏ ác làm lành,
    chư thiên càng hộ trì
    chỉ cho thấy phước báo.

    (16) Nếu tạo tác ác nghiệp
    thì ngay trong hiện tại
    chư thiên đã không giúp
    chỉ cho thấy ác báo.

    (17) Quốc dân tạo ác nghiệp,
    quốc vương không cấm đoán,
    thế là phi chánh pháp
    không đúng cách trị đuổi.

    (18) Thấy ác mà không chận,
    phi pháp tự tươi lớn,
    thế là trong vương quốc
    gian trá ngày càng nhiều.

    (19) Quốc vương thấy quốc dân
    làm ác mà không ngăn,
    thì chư thiên Đạo lợi
    cùng sinh ra phẫn nộ.

    (20) Nên quốc chính thương tổn
    dối trá lan khắp nước,
    bị ngoại thù xâm lược
    hủy diệt cả vương quốc.

    (21) Nhà ở với đồ dùng
    tài sản đều tan hoang,
    nịnh và láo đa dạng
    chiếm đoạt hại lẫn nhau.

    (22) Do Pháp mới làm vua,
    mà không tuân hành Pháp,
    quốc dân phải tan rã
    như hồ sen voi dẫm.

    (23) Gió dữ nổi lên mãi,
    mưa dữ đổ trái mùa,
    yêu tinh lắm biến quái,
    nhật nguyệt thực tối mờ.

    (24) Ngũ cốc cùng hoa quả
    trái hạt đều hư hỏng,
    quốc gia bị đói khát
    vì vua bỏ chánh pháp.

    (25) Vua mà bỏ chánh pháp
    đem phi pháp dạy dân,
    thì ở cung điện mình
    chư thiên vẫn lo rầu.

    (26) Những vị thiên vương ấy
    cùng nhau nói như vầy,
    vua mà làm phi pháp,
    phe ác hùa với nhau.

    (27) Thì ngôi vua bất an,
    chư thiên cùng phẫn nộ,
    chư thiên mà phẫn nộ,
    quốc gia ấy bại vong.

    (28) Giáo dục bằng phi pháp
    lan tràn trong quốc gia,
    thì đấu tranh gian dối,
    thì bịnh dịch hoành hành.

    (29) Thiên chủ không hộ vệ,
    chư thiên khác cũng bỏ,
    quốc gia sẽ diệt vong,
    quốc vương bị khổ ách.

    (30) Cha mẹ và vợ con
    anh em và chị em
    đều bị khổ biệt ly,
    đến nỗi phải mất mạng.

    (31) Biến quái và sao sa,
    nóng như hai mặt trời,
    giặc thù đến từ ngoài,
    quốc dân phải tan hoang.

    (32) Đại thần cả nước trọng
    thì chết oan chết uổng,
    đến voi ngựa vân vân
    cũng tản mát sạch không.

    (33) Giặc giã khắp mọi nơi,
    dân chết vì phi pháp,
    ác quỉ thì xâm nhập,
    bịnh dịch thì hoành hành.

    (34) Tối đại thần trong nước,
    cùng các vị phụ tướng,
    lòng đầy những dua nịnh,
    cùng nhau làm phi pháp.

    (35) Thấy kẻ làm phi pháp
    mà yêu mến kính nể,
    thấy người làm thiện pháp
    lại hành hạ khổ sở.

    (36) Do yêu nể kẻ ác
    mà hành hạ người lành,
    nên tinh tú, phong, vũ,
    không còn thuận thời tiết.

    (37) Ba điều xấu ấy sinh
    thì chánh pháp ẩn mất,
    con người hết tươi sáng,
    màu mở đất cũng mất.

    (38) Vì nể ác khinh lành,
    có ba điều xấu nữa :
    sương, mưa đá trái mùa,
    đói, dịch, cùng lưu hành.

    (39) Lúa má với trái hạt
    phẩm chất đều tổn giảm,
    thế nên trong quốc gia
    dân đa số bịnh tật.

    (40) Những loại cây thổ sản
    trước đây là ngon ngọt,
    nay vì thế tổn giảm
    đắng chát không ra gì.

    (41) Trước đây lâm viên đẹp,
    toàn chỗ du ngoạn tốt,
    nay bỗng nhiên khô cằn,
    ai thấy cũng lo rầu.

    (42) Lúa, nếp, thứ chắc hạt,
    phẩm chất tiêu mất dần,
    ăn không còn thấy thích,
    làm sao tăng thể lực  ?

    (43) Dân chúng mất tươi sáng,
    đẹp và khỏe suy tàn,
    ăn với uống tuy nhiều,
    vẫn không làm sung sức.

    (64) Trong cả quốc gia ấy
    mọi tầng lớp quốc dân
    ít sức, không khoẻ mạnh,
    làm việc không kham năng.

    (65) Quốc dân nhiều bịnh hoạn
    cơ thể nhiều đau đớn,
    quỉ mị tràn khắp nơi
    tùy theo sinh la sát.

    (66) Vua mà làm phi pháp
    thân gần với kẻ ác,
    thì cả ba thế giới ([89])
    do vậy suy tổn cả.

    (67) Vô số hiện tượng xấu
    xuất hiện trong quốc gia,
    toàn do thấy kẻ ác
    bỏ qua, không trị, đuổi.

    (68) Do chư thiên da hộ
    được làm vị quốc vương,
    mà không đem chánh pháp
    bảo vệ lấy quốc gia.

    (69) Nhưng người làm điều lành
    thì sẽ sinh chư thiên,
    còn kẻ làm điều ác
    chết đọa ba đường dữ.

    (70) Quốc vương mà buông thả
    để quốc dân làm ác,
    thì chư thiên Đao lợi
    nóng bức cả tâm trí.

    (71) Chư thiên dạy không nghe
    cha mẹ nói không cứ
    thì là người phi pháp
    phi vua phi hiếu tử.

    (72) Nếu trong quốc gia mình
    thấy ai làm phi pháp,
    phải trị phạt đúng phép
    không nên bỏ cho qua.

    (73) Thế nên hàng chư thiên
    cùng hộ trì vua ấy,
    vì vua diệt ác pháp
    và theo được thiện pháp.

    (74) Vua ấy trong đời này
    đón nhận quả báo tốt,
    vì đối với thiện, ác
    biết khuyên dân làm, bỏ.

    (75) Huấn thị thiện ác báo,
    nên làm vị quốc vương,
    chư thiên cùng hộ trì,
    chư thiên cùng tùy hỷ.

    (76) Do tự lợi lợi tha
    trị nước bằng chánh pháp,
    nên thấy kẻ dua nịnh
    thì phải trị đúng phép.

    (77) Giả sử mất ngôi vua,
    gặp cảnh ngộ mất mạng,
    cũng quyết không làm ác,
    không thấy ác bỏ qua.

    (78) Tai hại nặng nề nhất
    cho sự mất ngôi vua
    là toàn vì dua nịnh,
    do đó phải trị phạt.

    (79) Dua nịnh là dối trá
    làm tan nát quốc gia,
    làm thương tổn vương pháp,
    như voi vào vườn hoa.

    (80) Thiên chủ tức giận cả,
    a tô la cũng vậy,
    ấy là làm quốc vương
    không trị nước bằng Pháp.

    (81) Thế nên phải đúng phép
    trị phạt những kẻ ác,
    cải hóa bằng điều thiện,
    chứ không theo phi pháp.

    (82) Thà là mất thân mạng
    không theo bạn phi pháp,
    với thân với không thân
    bình đẳng nhìn tất cả.

    (83) Làm vị vua chánh pháp
    không thiên vị phe cánh,
    thì tiếng khen”vua pháp”
    vang cả trong ba cõi.

    (84) Chư thiên ở Đao lợi
    hoan hỷ mà nói rằng
    vị vua nhân loại này
    chính là con của ta.

    (85) Biết thiện hóa quốc dân,
    biết chánh pháp trị nước,
    khuyến hóa thực hành Pháp,
    sẽ sinh cung điện ta.

    (86) Chư thiên, chư thiên tử,
    cùng bộ chúng tô la,
    do vua hành hóa Pháp
    mà tâm họ hoan hỷ.

    (87) Chư thiên cùng hoan hỷ
    hộ trì cho vua ấy,
    tinh tú đi đúng ngôi,
    nhật nguyệt không sai độ.

    (88) Gió hòa đúng thời tiết,
    mưa ngọt thuận thời vụ,
    thóc trái khéo sinh, lớn,
    quốc dân không đói khát.

    (89) Tất cả hàng chư thiên
    hay ẩn mình cung vua
    cầu chúc cho nhà vua
    quên mình quảng bá Pháp.

    (90) Hãy tôn trọng Pháp bảo
    mà yên vui quốc dân,
    hãy thân thiết Pháp bảo,
    phước báo tự trang hoàng.

    (91) Thân quyến thường hoan hỷ
    thường lánh xa ác pháp :
    đem Pháp giáo dục người
    thì an lạc thường xuyên.

    (92) Làm cho cả quốc dân
    tu hành mười thiện nghiệp,
    thì cả nước sung túc,
    thì quốc gia thanh bình.

    (93) Vua mà hành hóa Pháp
    thuần hóa kẻ làm ác,
    thì được danh vọng tốt
    vì lợi lạc quốc dân.

    Bấy giờ đại hội, trong đó có các vị quốc vương, nghe đức Thế tôn nói về chánh pháp quản trị quốc gia của quốc vương xưa, ai cũng được sự tâm đắc hiếm có, cùng đại hoan hỷ mà tin tưởng, tiếp nhận và phụng hành.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 54]

    Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim – cuốn 9

    Phẩm 21 – Thiện Sinh Luân Vương

    Vào lúc bấy giờ, đức Thế tôn vì cả đại hội nói về vương pháp chính luận rồi, lại bảo, đại hội các người nên lắng nghe. Như lai lại nói cho các người về một sự phụng hành chánh pháp xưa kia của Như lai. Ngay lúc ấy đức Thế tôn nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (1) Như lai xưa kia
    làm vị luân vương,
    bỏ hết đại địa
    và cả đại dương,
    đem bao trân bảo
    đầy bốn đại lục
    cung kính hiến cúng
    chư vị Như lai.

    (2) Như lai xưa kia
    trong vô lượng kiếp,
    vì cầu pháp thân
    tối cực chân tịnh,
    nên bao bảo vật
    đều xả bỏ cả,
    cả đến thân mạng
    cũng không tiếc lẫn.

    (3) Trong thì quá khứ
    khó lường đời kiếp,
    có bậc đẳng giác
    danh hiệu Bảo kế ;
    sau khi Ngài đã
    nhập vào niết bàn,
    có một vị vua
    tên là Thiện sinh.

    (4) Làm bậc luân vương
    cả bốn đại lục,
    ngoại biên đại dương
    đều qui phục cả ;
    vua có hoàng thành
    tên Diệu âm nhạc,
    vua thường cư trú
    nơi hoàng thành ấy.

    (5) Đêm mộng thấy nói
    phước trí Như lai.
    Thấy có pháp sư
    tên là Bảo tích,
    ngồi nghiêm trên tòa
    tựa vầng thái dương,
    diễn giảng kinh mầu
    Ánh sáng hoàng kim.

    (6) Sau khi tỉnh mộng,
    vua rất hoan hỷ,
    nỗi hoan hỷ lớn
    tràn khắp cơ thể.
    Đến lúc trời sáng,
    vua ra hoàng cung,
    đi đến dà lam
    của chư Bí sô.

    (7) Luân vương tôn kính
    cúng thánh chúng rồi,
    liền hỏi các ngài  :
    trong thánh chúng này
    có hay không có
    pháp sư Bảo tích
    thành tựu công hạnh
    hóa độ chúng sinh  ?

    (8) Bấy giờ Bảo tích,
    vị đại pháp sư,
    cư trú ở trong
    một cái tịnh thất,
    chánh niệm trì tụng
    kinh mầu Hoàng kim,
    trang nghiêm bất động,
    thân tâm vui đẹp.

    (9) Một vị Bí sô
    hướng dẫn luân vương
    đến chỗ cư trú
    của ngài Bảo tích,
    thấy trong tịnh thất
    ngài ngồi thẳng mình,
    toàn thân đầy cả
    ánh sáng tướng đẹp.

    (10) Bí sô bảo vua :
    đây, ngài Bảo tích,
    giữ được hành xứ
    sâu xa của Phật,
    đó là bản kinh
    Ánh sáng hoàng kim,
    kinh vua các kinh,
    tối thượng bậc nhất.

    (11) Luân vương tức thì
    lạy ngài Bảo tích,
    cung kính chắp tay
    mà thỉnh cầu ngài :
    Xin bậc mặt đẹp
    tựa như trăng đầy,
    nói cho con nghe
    diệu pháp Hoàng kim.

    (12) Pháp sư Bảo tích
    nhận lời thỉnh cầu,
    hứa sẽ nói cho
    bản kinh vua ấy.
    Thế là khắp cả
    đại thiên thế giới,
    hết thảy chư thiên
    cùng đại hoan hỷ.

    (13) Vua dùng một nơi
    rộng rãi sạch sẽ,
    tận lực trang hoàng
    trân bảo quí lạ,
    rưới bụi bằng nước
    hương liệu thượng hạng,
    rải những bông hoa
    màu sắc đa dạng.

    (14) Nơi đặc biệt này
    vua đặt tòa cao,
    trang hoàng bảo cái
    tràng phan gấm lụa ;
    xát hương xoa hương
    với đủ mọi cách,
    hơi thơm tỏa ra
    khắp cả mọi nơi.

    (15) Thiên, long, tô la,
    và khẩn na la,
    ma hô lạc dà
    cùng với dược xoa,
    nhất là chư thiên
    rải hoa mạn đà,
    hiến cúng pháp tòa
    rất cao cả ấy.

    (16) Lại có hàng ngàn
    hàng vạn chư thiên
    ưa nghe chánh pháp
    cùng đến tụ tập.
    Pháp sư bắt đầu
    rời chỗ ngồi cũ,
    họ đã hiến cúng
    bằng những thiên hoa.

    (17) Bấy giờ Bảo tích,
    vị đại pháp sư,
    tắm rửa mình mẩy,
    mặc đồ sạch sẽ,
    đi đến đại hội,
    lại chỗ pháp tòa,
    chắp tay chân thành
    mà kính lễ bái.

    (18) Thiên chủ, thiên chúng,
    cùng với thiên nữ,
    chung nhau rải xuống
    thiên hoa mạn đà ;
    trăm ngàn thiên nhạc
    khó nghĩ khó tả,
    ở trong không trung
    xuất ra tiếng mầu.

    (19) Bấy giờ Bảo tích,
    vị đại pháp sư,
    liền lên pháp tòa
    mà ngồi xếp bằng,
    tập trung tâm trí
    nghĩ đến mười phương
    trăm ngàn vạn ức
    bậc Đại từ tôn.

    (20) Nghĩ đến tất cả
    chúng sinh đau khổ,
    phát sinh ý niệm
    từ bi bình đẳng.
    Rồi vì chủ mời
    là Thiện sinh vương,
    mà giảng kinh mầu
    Ánh sáng hoàng kim.

    (21) Vua đã nghe được
    diệu pháp như vậy,
    thành tâm chắp tay
    nói rằng tùy hỷ.
    Nghe pháp hiếm có,
    Vua trào nước mắt,
    nỗi mừng lớn lao
    tràn ngập thân tâm.

    (22) Bấy giờ quốc chúa
    luân vương Thiện sinh,
    vì muốn hiến cúng
    kinh vua Hoàng kim,
    nên cầm viên ngọc
    như ý ma ni,
    nguyện rằng hãy vì
    bao loại chúng sinh.

    (23) Hãy ngay nơi đây,
    đại lục Thiệm bộ,
    mưa xuống thất bảo,
    những xâu chuỗi ngọc,
    để người nghèo thiếu
    đồ dùng tiền của
    hảy đều tùy ý
    thụ hưởng hạnh phúc.

    (24) Tức thì thất bảo
    đổ xuống khắp nơi,
    sung mãn dân chúng
    cả bốn đại lục,
    cần gì tùy ý :
    chuỗi ngọc làm đẹp
    y phục ẩm thực
    không thiếu thứ gì.

    (25) Bấy giờ quốc chúa
    luân vương Thiện sinh
    thấy bốn đại lục
    được mưa trân bảo,
    thì đem hiến cúng
    Bảo kế như lai,
    và Bí sô tăng
    theo di huấn Ngài.

    (26) Đại hội nên biết
    luân vương Thiện sinh
    ngày nay chính là
    bản thân Như lai,
    xưa kia đã bỏ
    cả đại địa này,
    cả bao trân bảo
    đầy bốn đại lục.

    (27) Còn ngài Bảo tích,
    vị đại pháp sư,
    đã thuyết diệu pháp
    cho Thiện sinh vương,
    diễn giảng kinh vua
    cho nhà vua ấy,
    nay ở hướng đông
    thành đức Bất động.

    (28) Như lai xưa kia
    lắng nghe kinh vua,
    chắp tay nói rằng
    con xin tùy hỷ,
    quảng thí thất bảo,
    do những phước ấy
    được kim cương thân
    tối thắng bậc nhất.

    (29) Thân ấy ánh vàng
    trăm phước trang nghiêm,
    ai nhìn thấy được
    cũng hoan hỷ cả ;
    tất cả chúng sinh
    không ai không thích,
    vô số chư thiên
    cũng thích như vậy.

    (30) Như lai trải qua
    chín mươi chín lần
    vô số đời kiếp
    làm vị luân vương,
    hoặc làm quốc vương
    cho những tiểu quốc
    cũng đến số lượng
    trăm ngàn đời kiếp.

    (31) Trong vô lượng kiếp
    lại làm Đế thích,
    và cũng đã làm
    bậc Đại phạn vương,
    hiến cúng Thập lực
    đại từ thế tôn
    số lượng đời kiếp
    cũng khó biết hết.

    (32) Như lai xưa kia
    nghe kinh, tùy hỷ,
    khối phước có được
    số lượng khó biết ;
    do khối phước ấy
    được vô thượng giác,
    được pháp tánh thân
    diệu trí chân thường.

    Bấy giờ đại hội nghe sự tuyên thuyết như vậy ai cũng than là hiếm có. Ai cũng nguyện phụng trì kinh vua Ánh sáng hoàng kim, quảng bá bất tuyệt.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 55]

    Phẩm 22 – Tám Bộ Hộ Trì ([90])

    Bấy giờ đức Thế tôn bảo Đại cát tường thiên nữ, rằng nếu có thiện nam hay thiện nữ đức tin trong sáng nào muốn đem cúng phẩm bất tư nghị phụng hiến chư vị Như lai trong ba thì gian, lại muốn thấu hiểu hành xứ ([91]) rất sâu của các Ngài, thì người ấy quyết định phải hết lòng tùy bản kinh vua này ở đâu hãy diễn giảng quảng bá cho chúng sinh chỗ ấy, dầu chỗ ấy là thành thị, xóm làng hay trong chằm núi. Còn những người nghe pháp thì phải bỏ tâm tưởng tán loạn mà tập trung thính giác, chuyên chú tâm trí. Bấy giờ đức Thế tôn liền nói những chỉnh cú sau đây cho chư thiên và đại hội.

    (1) Đối với chư Như lai
    muốn hiến cúng siêu việt,
    lại muốn hiểu lĩnh vực
    sâu xa của các Ngài,

    (2) thì thấy ai diễn giảng
    kinh Ánh sáng hoàng kim,
    hãy đích thân đi đến
    những chỗ diễn giảng ấy.

    (3) Kinh ấy khó nghĩ bàn,
    phát sinh mọi phước đức,
    trong biển khổ rộng lớn
    cứu vớt bao chúng sinh.

    (4) Như lai thấy kinh này
    đầu giữa cuối đều hay,
    đều sâu không lường nổi,
    thí dụ cũng không bằng.

    (5) Giả như cát sông Hằng,
    bụi đại địa, nước biển,
    đá núi cả không gian,
    không ví được ít phần.

    (6) Muốn hội nhập pháp tánh
    hãy lắng nghe kinh này :
    nơi chùa tháp pháp tánh
    mới khéo được hội nhập.

    (7) Trong chùa tháp như vậy
    Thấy ta, đấng Mâu ni,
    với ý đẹp lời hay
    quảng diễn kinh vua này.

    (8) Thấy thế nên nhiều kiếp
    số lượng khó nghĩ bàn,
    thường ở trong trời người
    hưởng được vui siêu việt.

    (9) Lắng nghe kinh vua này
    hãy tư duy như vầy :
    ta được một hợp thể
    phước đức bất tư nghị.

    (10) Giả sử khối lửa lớn
    trải dài trăm thiện na,
    nhưng vì nghe kinh này
    bước qua không do dự.

    (11) Đến chỗ giảng kinh này
    được nghe kinh này rồi,
    ác nghiệp loại trừ hết,
    ác mộng cũng loại trừ.

    (12) Ác tinh và biến quái
    cổ đạo cùng tà mị,
    lúc nghe được kinh này
    thì rời xa tất cả.

    (13) Hãy trang trí tòa cao
    đẹp sạch tựa hoa sen,
    pháp sư ngồi trên đó
    trông như chúa đại dương.

    (14) An tọa pháp tòa rồi
    giảng kinh sâu xa này,
    lại sao chép tụng trì
    và giải thích ý nghĩa

    (15) Pháp sư rời tòa ấy
    đi đến các nơi khác,
    thì nơi tòa cao ấy
    tưởng thấy bao thần biến.

    (16) Hoặc thấy hình pháp sư
    còn ngồi trên tòa cao.
    Hoặc thấy hình Như lai
    cùng chư vị Bồ tát.

    (17) Hoặc tưởng đức Phổ hiền,
    hoặc tưởng Diệu cát tường,
    hoặc thấy Từ thị tôn,
    ngồi trên tòa cao ấy.

    (18) Hoặc thấy tướng kỳ diệu
    hay thấy hình chư thiên,
    và mới thấy như vậy
    thoạt cái đã biến mất.

    (19) Thấy những điềm lành ấy
    làm gì cũng vừa ý,
    phước đức viên mãn cả :
    Như lai nói như vậy.

    (20) Siêu việt và danh tiếng,
    hủy diệt mọi phiền não,
    giặc ngoại xâm trừ được,
    chiến đấu thường đắc thắng.

    (21) Ác mộng toàn không có
    độc tố cũng tiêu tan,
    ác nghiệp thân miệng ý
    kinh lực cũng diệt được.

    (22) Trong đại lục Thiệm bộ
    danh tiếng tràn đầy cả,
    bao nhiêu những oán thù
    rời xa được hết thảy.

    (23) Thù địch đến xâm lăng
    nghe danh cũng triệt thoái,
    không động đến vũ khí,
    đối trận sinh hoan hỷ.

    (24) Phạn vương và Đế thích,
    bốn Thiên vương hộ thế,
    và Kim cương dược xoa,
    Chánh liễu tri đại tướng,

    (25) long vương hồ Vô nhiệt,
    cùng với Sa yết la,
    nhạc thần Khẩn na la,
    Tô la kim sí chủ,

    (26) Đại biện tài thiên nữ,
    Đại cát tường thiên nữ,
    chư thiên đứng đầu này
    thống lãnh cả thiên chúng,

    (27) thường hiến cúng Như lai
    và Pháp bảo siêu việt,
    thường sinh tâm hoan hỷ
    tôn kính kinh vua này.

    (28) Thiên chúng như thế này
    đều cùng nhau suy nghĩ,
    quan sát người làm phước
    rồi cùng nói như vầy :

    (29) Hãy coi những người ấy
    là bậc đại phước đức,
    thiện căn tinh tiến lực
    sẽ sinh lên Thiên giới.

    (30) Để nghe kinh vua này,
    người ấy kính đến đây,
    hiến cúng chùa tháp Pháp
    vì lòng tôn trọng Pháp.

    (31) Người ấy thương chúng sinh
    mà làm đại lợi ích,
    và là đồ chứa đựng
    kinh vua sâu xa này.

    (32) Nhập được pháp môn này
    là nhập được pháp tánh,
    nên với kinh Hoàng kim
    hãy hết lòng lắng nghe.

    (33) Người ấy đã hiến cúng
    vô số chư Như lai,
    do thiện căn lực ấy
    mới được nghe kinh này.

    (34) Do vậy các thiên chủ,
    thiên nữ Đại biện tài,
    thiên nữ Đại cát tường,
    cùng bốn vị Thiên vương,

    (35) và vô số Dược xoa
    dũng mãnh đầy thần lực,
    phân nhau ra bốn phía
    thường đến hộ vệ cho.

    (36) Nhật nguyệt và Đế thích,
    chư thần nước gió lửa,
    Phệ sốt nộ, Diêm la,
    Đại biện tài vân vân,

    (37) Các Thiên vương hộ thế
    dũng liệt, đủ uy thần,
    hộ vệ người trì kinh
    ngày đêm không rời xa.

    (38) Đại lực dược xoa vương,
    Na la diên, Tự tại,
    hâm tám thần Dược xoa,
    Chánh liễu tri cầm đầu,

    (39) và trăm ngàn Dược xoa
    sức lớn lại thần thông,
    thường đến chỗ hiểm nguy
    ủng hộ người trì kinh.

    (40) Kim cương dược xoa vương
    với năm trăm tùy thuộc,
    cùng chư đại bồ tát
    cũng thường đến hộ trì.

    (41) Bảo vương dược xoa chủ,
    cùng với Mãn hiền vương,
    Khoáng dã, Kim tì la,
    Tân độ la, Hoàng sắc ([92]).

    (42) Mỗi dược xoa vương này
    cùng năm trăm tùy thuộc,
    thấy ai nghe kinh vua
    thì cùng đến hộ vệ.

    (43) Thái quân, Kiền thát bà,
    Vi vương, Thường chiến thắng,
    Châu cảnh và Thanh cảnh,
    và Bột lý sa vương,

    (44) Đại tối thắng, Đại hắc,
    Tô bạt noa kê xá,
    Bán chi ca, Dương túc,
    cùng với Đại bà dà,

    (45) Tiểu cừ và Hộ pháp,
    cọng với Di hầu vương,
    Châm mao và Nhật chi,
    Bảo phát, cùng đến giúp.

    (46) Đại cừ, Nặc câu la,
    Chiên đàn, Dục trung thắng,
    Xá la với Tuyết sơn,
    cùng với Sa đa sơn ([93]),

    (47) đều có thần thông lớn
    hùng mãnh đủ đại lực,
    thấy người trì kinh ấy,
    cùng đến mà hộ vệ.

    (48) A na bà đáp đa,
    cùng với Sa yết ra,
    Mục chân, Ê La diệp,
    Nan đà, Nan đà nhỏ ([94]),

    (49) rồng trong trăm ngàn rồng,
    đủ thần thông uy đức,
    cùng giúp người trì kinh,
    ngày đêm không rời bỏ.

    (50) Bà trĩ, La hầu la,
    Tì ma chất đa la,
    Mẫu chỉ chiêm bát ra,
    Đại kiên và Hoan hỷ ([95]).

    (51) Và tô la vương khác
    cùng vô số thiên chúng,
    có sức lớn, mạnh mẽ,
    đều đến giữ người ấy.

    (52) Mẫu thần Ha lị để,
    Dược xoa chúng năm trăm,
    người trì kinh thức dậy
    là đến hộ vệ cho.

    (53) Chiên trà, Chiên trà lị,
    Chiên trĩ nữ dược xoa,
    Côn đế, Câu tra xỉ,
    Hút tinh chất chúng sinh ([96]),

    (54) thần chúng như thế ấy
    sức lớn, có thần thông,
    giữ gìn người trì kinh
    ngày đêm thường không rời.

    (55) Vô lượng các thiên nữ
    Biện tài thiên cầm đầu,
    bao nhiêu là tùy thuộc
    Cát tường thiên lãnh đạo,

    (56) Nữ thần đại địa này,
    thần trái hạt vườn rừng,
    thần cây, thần sông rào,
    thần chùa tháp, vân vân,

    (57) chư thiên thần như vậy
    lòng sinh đại hoan hỷ,
    cùng đến mà hộ vệ
    người đọc tụng kinh vua.

    (58) Thấy ai trì kinh vua,
    tăng thọ lượng sắc lực,
    tăng uy quang phước đức,
    tăng tướng tốt trang nghiêm,

    (59) mà tinh tú biến quái
    xúc phạm đến người ấy,
    thì đến nỗi ác mộng
    cũng làm cho tan biến.

    (60) Nữ thần đại địa này
    Kiên cố đầy uy thế,
    bằng năng lực pháp vị
    của kinh vua Hoàng kim,

    (61) làm cho màu mỡ đất
    vốn thấm xuống rất sâu,
    nay lại được thấm lên
    tươi nhuần cho đại địa.

    (62) Đại địa dày sáu mươi
    tám ức du thiện na,
    từ ngoại biên kim cương
    màu đất vẫn thấm lên.

    (63) Lại do nghe kinh vua
    được khối đại công đức,
    làm cho chính chư thiên
    cũng nhờ được ích lợi ;

    (64) làm cho chư thiên ấy
    tăng uy lực ánh sáng,
    tăng hoan hỷ yên vui,
    hết hiện tượng suy đồi.

    (65) Đại lục phía nam này
    thần cây trái lúa thóc
    cũng do lực kinh vua
    mà tâm thường hoan hỷ,

    (66) làm lúa cây thành thục,
    bông hoa đều sum sê,
    trái hạt đầy phẩm chất,
    tất cả tràn đại địa.

    (67) Bao nhiêu loại cây cỏ,
    và cả những vườn rừng,
    đều sinh ra hoa đẹp,
    hương thơm thường lan tỏa.

    (68) Những loại cây có hoa
    kết ra các thứ trái,
    thì trái ngon và ngọt,
    và chỗ nào cũng có.

    (69) Cũng tại đại lục này,
    vô số những long nữ
    tâm sinh đại hoan hỷ,
    cùng vào trong ao hồ.

    (70) Sen hồng, sen trắng nở,
    sen xanh và sen trắng,
    ao hồ nào cũng trồng
    và hoa đầy ao hồ.

    (71) Uy lực kinh vua này
    làm không gian trong sáng,
    mây mù bị xua tan,
    toàn bộ đều sáng sủa.

    (72) Thái dương phóng ánh sáng
    trong suốt và rực rỡ,
    do lực kinh vua này
    sáng huy hoàng khắp nơi.

    (73) Uy lực kinh vua này
    hỗ trợ cho quốc chúa,
    có và dùng vàng ròng
    mà kiến tạo cung điện.

    (74) Thần thái dương vui vẻ
    nhìn thấy đại lục này,
    nên thường đem sáng lớn
    chiếu rực khắp mọi nơi.

    (75) Do vậy trong đại địa
    bao nhiêu hồ ao sen,
    ánh sáng chiếu đúng lúc
    nên hoa sinh nở cả.

    (76) Trong cả đại lục này
    trái hạt và dược liệu
    đều khéo thành thục hết
    và tràn đầy đại địa.

    (77) Do uy lực kinh vua,
    nhật nguyệt chiếu đến đâu
    tinh tú đúng hành độ
    gió mưa thuận thời tiết.

    (78) Khắp đại lục Thiệm bộ
    đất nước rất giàu vui,
    chỗ nào có kinh vua
    hơn chỗ khác bội phần.

    (79) Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim
    quảng bá đến chỗ nào,
    có người giảng và tụng
    thì phước được như vậy.

    Bấy giờ Đại cát tường thiên nữ, cùng chư thiên vân vân, nghe đức Thế tôn tuyên thuyết như vậy thì ai cũng đại hoan hỷ, nhất tâm hộ vệ kinh vua và những người thọ trì kinh vua, làm cho những người ấy không lo buồn, được an lạc.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 56]

    Phẩm 23 – Thọ Ký Thành Phật

    Bấy giờ đức Thế tôn ở trong đại hội thuyết pháp phong phú rồi, muốn thọ ký cho bồ tát Diệu tràng và hai người con, Ngân tràng và Ngân quang, sẽ được vô thượng bồ đề. Lúc ấy có mười ngàn thiên tử, do thiên tử Tối thắng quang minh cầm đầu, từ Đao lợi thiên đến chỗ đức Thế tôn, đảnh lễ ngang chân Ngài rồi ngồi qua một phía, lắng nghe Ngài thuyết pháp.

    Đức Thế tôn bảo bồ tát Diệu tràng, trong vị lai, quá vô lượng vô số kiếp, tại thế giới hệ Kim quang minh, ông sẽ thành vô thượng giác, với danh hiệu Kim bảo sơn vương như lai, đủ mười đức hiệu. Sau khi đức Kim bảo sơn vương như lai nhập niết bàn, giáo pháp cũng hết, thì trưởng tử là Ngân tràng sẽ ở chính nơi thế giới hệ ấy mà kế tiếp chỗ Ngài, được thành Phật đà danh hiệu Kim tràng quang như lai, đủ mười đức hiệu, và thế giới hệ ấy bấy giờ chuyển danh là Tịnh tràng. Sau khi đức Kim tràng quang như lai nhập niết bàn, giáo pháp cũng hết, thì thứ tử là Ngân quang cũng ở chính nơi thế giới hệ ấy mà kế tiếp chỗ Ngài, được thành Phật đà, danh hiệu Kim quang minh như lai, đủ mười đức hiệu.

    Mười ngàn thiên tử nghe ba vị đại sĩ được thọ ký, trước đó lại nghe kinh vua tối thượng, nên tâm hoan hỷ, sạch như hư không. Đức Thế tôn biết mười ngàn thiên tử ấy thiện căn thuần thục, nên cũng thọ ký cho sẽ được đại bồ đề. Rằng các thiên tử, trong vị lai, quá vô lượng vô số kiếp, các người sẽ ở nơi thế giới hệ Tối thắng nhân đà ra cao tràng mà thành tựu vô thượng bồ đề, cùng một dòng họ, cùng một danh hiệu. Danh hiệu ấy là Diệm mục thanh tịnh ưu bát la hương sơn như lai, đủ mười đức hiệu. Mười ngàn đức Như lai như vậy tuần tự tiếp nhau mà xuất hiện.

    Bấy giờ Bồ đề thọ thần thưa, bạch đức Thế tôn, mười ngàn thiên tử này mới từ Đao lợi đến chỗ đức Thế tôn để nghe pháp, tại sao đức Thế tôn thọ ký liền cho sẽ thành Phật đà  ? Bạch đức Thế tôn, con chưa nghe những thiên tử này tu tập đầy đủ sáu ba la mật và những khổ hạnh khó làm như vô lượng bồ tát khác, xả bỏ tay chân, đầu mắt, tủy não, thân quyến, vợ con, voi ngựa, xe cộ, tôi tớ, bộc tùng, cung điện, vườn rừng, bạc vàng, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, bích ngọc, bạch ngọc, đồ ăn, đồ mặc, đồ nằm, dược phẩm, đem cúng phẩm hiến cúng vô số chư vị Thế tôn. Mà bồ tát thì phải làm như vậy, và ai cũng phải trải qua vô số kiếp, sau đó mới được thọ ký thành tựu vô thượng bồ đề. Bạch đức Thế tôn, các thiên tử này vì lý do nào, tu thắng hạnh gì, trồng thiện căn chi, mà từ Đao lợi đến đây, mới nghe pháp lại được thọ ký liền  ? Xin đức Thế tôn giải thích cho con khỏi hoài nghi.

    Đức Thế tôn bảo Bồ đề thọ thần, theo thiện nữ nói thì phải từ thiện căn thắng diệu là siêng khổ tu tập mới được thọ ký. Nhưng các thiên tử này từ bỏ lạc thú ở thiên cung mà cố đến đây lắng nghe kinh Ánh sáng hoàng kim. Nghe rồi thiết tha tôn trọng kinh ấy. Tâm họ như lưu ly, không gợn dơ bẩn. Họ lại nghe sự thọ ký của ba vị đại sĩ. Họ còn có yếu tố thệ nguyện và chánh hạnh mà quá khứ đã tu tập lâu xa. Do vậy mà Như lai thọ ký cho trong vị lại sẽ thành tựu vô thượng bồ đề. Bồ đề thọ thần nghe đức Thế tôn giải thích như vậy thì hoan hỷ tín thọ.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 57]

    Phẩm 24 – Chữa Trị Bịnh Khổ

    Đức Thế tôn lại bảo Bồ đề thọ thần, hãy nghe cho kyլ hãy khéo nghĩ nhớ. Như lai nay nói cho thiện nữ nghe về bản nguyện của mười ngàn thiên tử.

    Thiện nữ, quá khứ vô số kiếp, bấy giờ có đức Phật đà xuất hiện thế giới, danh hiệu Bảo kế như lai, đủ mười đức hiệu. Sau khi đức Như lai ấy nhập niết bàn, giáo pháp nguyên chất hết rồi, trong giáo pháp tương tự có một quốc vương tên Thiên tự tại quang, luôn luôn áp dụng chánh pháp mà hóa cải quốc dân, tựa như cha mẹ đối với con cái. Trong vương quốc có một trưởng giả tên Trì thủy, hiểu rành y học, thông suốt tám thuật. Ai bịnh khổ, tứ đại bất ổn, ông cứu chữa được cả.

    Thiện nữ, Trì thủy trưởng giả có người con trai duy nhất, tên là Lưu thủy. Người đẹp, nghiêm chỉnh, ai cũng thích nhìn. Bẩm tính thông minh, quán triệt mọi luận thuyết và kyՠthuật. Bấy giờ trong vương quốc nhiều người bị bịnh truyền nhiễm, khổ sở đến nỗi không thích sống nữa. Thiện nữ, trưởng giả tử Lưu thủy thấy vậy thì sinh đại bi tâm, nghĩ như vầy. Bao nhiêu là người bịnh khổ ! Cha ta rành y học, khéo tám thuật, chữa được mọi bịnh do tứ đại hoặc thêm hoặc bớt. Nhưng cha ta già yếu rồi. Đi đâu cũng phải đỡ, làm sao đến được những nơi làng xóm thành thị mà chữa bịnh. Thế thì bao người bịnh nặng mà không ai cứu chữa. Vậy ta hãy đến chỗ cha ta, vị đại lương y, hỏi bí quyết chữa bịnh. Biết được bí quyết ấy, ta sẽ đi đến thành thị làng xóm mà cứu chữa cho người, làm cho họ an lạc. Trưởng giả tử nghĩ rồi tức tốc đến chỗ cha, lạy ngang chân ông, chắp tay cung kính, đứng qua một bên, dùng lời chỉnh cú mà thỉnh cầu.

    (1) Xin cha thương tưởng con.
    Con muốn cứu mọi người.
    Nay con hỏi y thuật,
    mong cha nói cho con.

    (2) Tại sao thân suy hỏng,
    tứ đại có thêm bớt  ?
    Và ở vào lúc nào
    thì bịnh tật sinh ra  ?

    (3) Ăn uống như thế nào
    để hưởng được yên vui  ?
    Làm sao trong cơ thể
    nhiệt lực không suy tổn  ?

    (4) Bịnh con người có bốn,
    có bịnh phong, nhiệt, đàm,
    lại có bịnh hỗn hợp,
    làm sao trị liệu được  ?

    (5) Lúc nào nổi bịnh phong  ?
    lúc nào phát bịnh nhiệt  ?
    lúc nào động bịnh đàm  ?
    lúc nào bịnh hỗn hợp  ?

    Trì thủy trưởng gia nghe con hỏi rồi, cũng nói lại bằng chỉnh cú.

    (6) Y theo phép chữa bịnh
    của tiên nhân đời xưa,
    cha tuần tự nói cho,
    khéo nghe để cứu người.

    (7) Ba tháng là mùa xuân,
    ba tháng là mùa hè,
    ba tháng là mùa thu,
    ba tháng là mùa đông.

    (8) Ấy là theo một năm
    ba tháng một mà nói.
    Hai tháng một một tiết
    một năm thành sáu tiết :

    (9) giêng hai là tiết hoa,
    ba tư là tiết nóng,
    năm sáu là tiết mưa,
    bảy tám là tiết thu,

    (10) chín mười là tiết lạnh
    một chạp là tiết tuyết.
    Phải phân biệt như vậy,
    cho thuốc đừng sai chậy

    (11) Tùy theo mùa tiết ấy
    mà điều hòa ăn uống,
    vào bụng tiêu hóa được,
    mọi bịnh mới không sinh.

    (12) Khí hậu nếu thay đổi
    thì tứ đại biến động,
    bấy giờ mà không thuốc
    thì tất sinh bịnh khổ.

    (13) Thầy thuốc biết bốn mùa,
    lại biết về sáu tiết,
    biết bảy phần cơ thể
    thì cho thuốc không sai.

    (14) Bảy phần là vị ([97]), máu,
    thịt, mỡ, xương, tủy, não.
    Biết bịnh nhập bảy phần
    lại biết chữa được không.

    (15) Bịnh thì có bốn loại :
    các loại phong, nhiệt, đàm,
    và loại bịnh hỗn hợp,
    nên biết lúc chúng phát :

    (16) mùa xuân phát bịnh đàm
    mùa hè phát bịnh phong,
    mùa thu phát bịnh nhiệt,
    mùa đông biểnh hỗn hợp.

    (17) Xuân ăn chất nóng cay,
    hè béo nóng mặn dấm,
    thu ăn lạnh ngọt béo,
    đông ăn chát béo ngọt.

    (18) Trong bốn mùa như vậy,
    dùng thuốc và ăn uống
    theo như mùi vị ấy,
    bịnh không lý do sinh.

    (19) Sau ăn bịnh do đàm,
    ăn tiêu bịnh do nhiệt,
    sau tiêu bịnh do phong,
    cứ thế nhận thức bịnh.

    (20) Nhận thức gốc bịnh rồi,
    tùy bịnh mà cho thuốc.
    Nếu bịnh trạng khác đi,
    cũng chữa cái gốc trước.

    (21) Phong thì dùng dầu, kem,
    nhiệt thì lợi đại tiểu,
    đàm thì hóa, thông, thổ,
    hỗn hợp thì cả ba.

    (22) Phong nhiệt đàm cùng có,
    thế gọi là hỗn hợp.
    Tuy biết lúc bịnh phát,
    cũng phải xét gốc bịnh.

    (23) Xét biết như vậy rồi,
    tùy lúc mà cho thuốc.
    Ăn, uống, thuốc, không sai,
    mới gọi thầy thuốc giỏi.

    (24) Lại nữa biết tám thuật
    bao quát mọi cách chữa.
    Nếu hiểu rõ tám thuật
    hãy chữa bịnh cho người.

    (25) Tám thuật là châm chích,
    giải phẫu, chữa thân bịnh,
    chữa tâm bịnh, trúng độc,
    khoa nhi với khoa lão,
    sau hết là dưỡng sinh,
    [đó, tám thuật chữa bịnh].

    (26) Trước xem xét hình sắc,
    nói năng và tánh tình,
    sau hỏi đến chiêm bao,
    thì biết phong nhiệt đàm.

    (27) Khô ốm đầu ít tóc,
    tâm tính không ổn định,
    nói nhiều mộng bay đi,
    đó là thuộc loại phong.

    (28) Tuổi trẻ mọc tóc trắng,
    nhiều mồ hôi, hay giận,
    thông minh, mộng thấy lửa,
    đó là thuộc loại nhiệt.

    (29) Tâm ổn, thân ngay thẳng,
    nghĩ kyլ đầu nhờn, cáu,
    mộng thấy nước, vật trắng,
    đó là thuộc loại đàm.

    (30) Hỗn hợp thì có chung,
    chung hai hay chung ba,
    và hễ loại nào nhiều
    là tính bịnh hỗn hợp.

    (31) Biết gốc, đặc tính bịnh,
    chuẩn bịnh mà cho thuốc.
    Nhưng thấy không tướng chết
    mới rõ bịnh cứu được.

    (32) Giác quan thì thác loạn,
    khinh khi thầy thuốc giỏi,
    thấy bạn thân cũng giận,
    đó là hiện tượng chết.

    (33) Mắt trái biến màu trắng
    lưỡi đen, sống mũi lệch,
    vành tai không như cũ,
    môi dưới thì xệ xuống ([98])

    (34) Ha lê lặc một thứ
    có đủ cả sáu vị,
    trừ được tất cả bịnh,
    là thuốc vua, không kị.

    (35) Lại ba trái ba cay ([99])
    là thuốc dễ có được,
    đường cát, mật ong, sữa,
    cũng chữa được nhiều bịnh.

    (36) Ngoài ra, dược liệu khác,
    tùy bịnh mà thêm vào.
    Nhưng trước phải từ tâm,
    đừng mưu tính tài lợi.

    (37) Cha đã nói những việc
    cần cho sự chữa bịnh.
    Con đem ra cứu người
    thì phước sẽ vô biên.

    Thiện nữ, bấy giờ trưởng giả tử Lưu thủy đích thân hỏi và nghe cha nói về tám thuật, về tứ đại thêm bớt, về thời tiết bất đồng, về cách cho thuốc. Hiểu biết rành rẽ rồi, trưởng giả tử tự xét kyՠmình đủ sức cứu chữa mọi bịnh. Bèn đi đến thành thị thôn xóm, chỗ nào có bịnh nhân cũng đến, dịu ngọt an ủi, và rằng tôi là thầy thuốc, tôi là thầy thuốc, tôi rành thuốc chữa bịnh. Tôi sẽ chữa cho các người lành mạnh. Thiện nữ, bấy giờ người ta nghe trưởng giả tử an ủi, hứa chữa bịnh cho, thì bao nhiêu bịnh nhân trầm trọng nghe lời ấy cũng phấn chấn thân tâm, vui mừng hiếm có. Do vậy mà bịnh khổ tiêu tan, khí lực sung mãn, bình phục như cũ. Thiện nữ, bấy giờ lại có bao nhiêu bịnh nhân trầm trọng mà khó cứu chữa, tức thì đến chỗ trưởng giả tử xin chữa thêm. Trưởng giả tử tức thì cho thuốc, bảo dùng, và ai cũng lành cả. Thiện nữ, cứ như thế, trưởng giả tử Lưu thủy chữa lành cho bao nhiêu bịnh nhân ở trong vương quốc.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 58]

    Phẩm 25 – Truyện Của Lưu Thủy

    Đức Thế tôn bảo Bồ đề thọ thần, thiện nữ, xưa kia, trưởng giả tử Lưu thủy chữa cho bao nhiêu bịnh nhân trong vương quốc của quốc vương Thiên tự tại quang, làm cho ai cũng bình phục, yên vui. Bấy giờ vì hết bịnh nên con người làm nhiều phước nghiệp, làm rộng huệ thí, và tự lấy thế làm vui. Họ cùng đến chỗ trưởng giả tử. Ai cũng tôn kính mà thưa, lành thay đại trưởng giả tử ! Ngài khéo làm tươi tốt và lớn lên những sự phước đức. Ngài đem thêm sự yên ổn và sống lâu cho chúng tôi. Ngài thật là thầy thuốc vĩ đại, là bồ tát từ bi, giỏi y học và chữa bịnh. Khen như vậy khắp cả thành thị thôn xóm.

    Thiện nữ, trưởng giả tử có vợ tên Thủy kiên tạng, có hai người con, một tên Thủy mãn, một tên Thủy tạng. Trưởng giả tử đem hai con du hành, qua khu chằm trống, chỗ sâu hiểm, thấy những cầm thú ăn thịt đều bay và chạy theo một hướng. Ông nghĩ tại sao những cầm thú này bay chạy về một phía  ? Ta nên đi theo coi. Ông tức khắc đi theo, thấy nơi hồ lớn, hồ Dã sinh, nước sắp cạn hết. Trong hồ có nhiều cá. Thấy vậy nên ông sinh tâm đại bi. Bấy giờ có một thọ thần hiện ra nửa mình, nói lành thay thiện nam tử. Ông có phải là người thật tên Lưu thủy thì hãy thương hồ cá này mà cho chúng nước. Lưu thủy là cái tên có hai lý do, một là làm nước chảy, hai là đem cho nước. Ông nên làm theo tên mình. Trưởng giả tử Lưu thủy hỏi thọ thần, hồ cá này có mấy con  ? Thọ thần nói, đúng mười ngàn. Thiện nữ, Ông nghe con số ấy thì càng thương. Hồ lại bị phơi nắng, nước còn không bao nhiêu. Mười ngàn cá sắp chết, xoay trở lội chậm, thấy trưởng giả tử thì như có hy vọng, nhìn theo không rời. Ông thấy vậy, chạy khắp bốn phía kiếm nước mà không có. Trông qua một bên thấy có đại thọ, tức thì trèo lên bẻ nhánh lá mà làm bóng mát. Rồi đi tìm xuất xứ của nước hồ này. Thì thấy đó là con sông lớn tên Thủy sinh. Bấy giờ bờ sông có những ngư dân, vì bắt cá nên tìm chỗ hiểm của thượng lưu sông ấy, xoi nước [cho chảy qua chỗ khác] mà không cho chảy xuống. Chỗ họ xoi thật khó đắp lại cho chóng. Ông nghĩ, chỗ này sâu hiểm, cả trăm cả ngàn người, mất vài ba tháng, cũng chưa lấp được, huống chi mình ta. Trưởng giả tử tức tốc trở về hoàng thành mình ở, đến chỗ quốc vương, đem cả đầu mặt lạy ngang chân, rồi đứng qua một bên, chắp tay cung kính mà tâu, hạ dân đã chữa bịnh cho cả quốc dân, làm cho ai cũng lành mạnh. Vừa rồi hạ dân du hành đến khu chằm trống, thấy hồ Dã sinh sắp khô nước. Mười ngàn cá trong đó bị phơi nắng, sắp chết. Kính xin đại vương thương mà cho hai mươi con voi lớn, tạm chở nước tới cứu mạng chúng — như hạ dân đã đem sự sống lại cho bao bịnh nhân. Quốc vương nghe vậy, tức tốc hạ lịnh cho đại thần, rằng đem ngay voi lớn cấp cho ông vua thầy thuốc này. Đại thần tuân lịnh, thưa trưởng giả tử, lành thay đại sĩ, ngài nên tự theo đến chuồng voi mà tùy ý chọn lấy hai mươi con lớn để lợi ích chúng sinh. Trưởng giả tử, với hai người con, dẫn hai mươi con voi lớn, với bao da đã mượn, đến ngay chỗ nước bị xoi, đem bao da chứa nước cho voi mang về hồ Dã sinh mà đổ. Và nước lại đầy như cũ.

    Thiện nữ, trưởng giả tử lúc ấy đi ven theo bốn phía bờ hồ mà nhìn, thấy đám cá cũng theo bờ hồ mà lội. Ông nghĩ, đám cá tại sao cứ lội theo ta  ? Tất chúng đói nên theo ta kiếm ăn đây. Ta nên cho chúng. Ông bảo hai con, hãy đem con voi mạnh nhất, chạy mau về nhà, thưa với ông nội, trong nhà có gì ăn được, kể cả phần ăn của ông bà, của mẹ con các con, của tôi tớ, đều gom lại chở đến đây. Theo lời cha bảo, hai người con cỡi voi mạnh nhất, chạy về thưa chuyện với ông nội, thu gom những gì ăn được đặt trên lưng voi, đi mau trở lại chỗ cha đang chờ bên hồ. Ông thấy con trở lại thì cả thân ông và tâm ông đều mừng rỡ, đem đồ ăn vãi khắp trong hồ.

    Thiện nữ, đám cá ăn no rồi, ông lại nghĩ, ngày nay ta cho đám cá này thực phẩm, nguyện đời sau ta cho đám cá này pháp thực. Lại nghĩ, ngày trước, nơi khu rừng trống vắng, ta đã thấy một vị Bí sô đọc tụng kinh đại thừa, nói về cái pháp sâu xa là mười hai duyên khởi. Kinh ấy lại nói, chúng sinh sắp chết mà nghe danh hiêểu đức Bảo kế như lai thì được sinh chư thiên. Ta nay nên vì mười ngàn cá này mà nói mười hai duyên khởi sâu xa, lại niệm cho chúng hồng danh đức Bảo kế như lai. Nhưng người đại lục Thiệm bộ có hai loại, có loại thâm tín đại thừa, có loại phỉ báng không tin. Ta cũng nên phát sinh và tăng trưởng tín tâm cho loại này. Ông nghĩ ta nên vào trong hồ nói diệu pháp cho đám cá. Nghĩ rồi, ông bước xuống nước, xướng lớn : Kính lạy đức Bảo kế như lai đã nhập niết bàn, bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp, bậc Hoàn hảo sự sáng, bậc Khéo qua niết bàn, bậc Lý giải vũ trụ, bậc Không ai trên nữa, bậc Thuần hóa mọi người, bậc Thầy cả trời người, bậc Tuệ giác hoàn toàn, bậc Tôn cao nhất đời. Đức Bảo kế như lai, xưa kia, khi làm việc làm bồ tát, có lời nguyện như vầy : mười phương quốc độ, bao nhiêu chúng sinh có ai sắp chết mà nghe được danh hiệu của Như lai, thì chết rồi được sinh Đao lợi. Trưởng giả tử lại nói diệu pháp cho đám cá. Diệu pháp ấy là sự thể này có thì có sự thể kia, sự thể này sinh thì sinh sự thể kia, đó là vô minh sinh nên sinh hành, cho đến sinh sinh nên sinh già bịnh chết ; sự thể này không thì không sự thể kia, sự thể này diệt thì diệt sự thể kia, đó là vô minh diệt nên diệt hành, cho đến sinh diệt nên diệt già bịnh chết. Và thế là cái khối đau khổ thuần túy và cùng cực hủy diệt tất cả. Trưởng giả tử nói diệu pháp này rồi, lại nói minh chú thích ứng với mười hai duyên khởi : Tát da tha, vi cha ni, vi cha ni, vi cha ni, săm sơ cha ni, săm sơ cha ni, săm sơ cha ni, bi si ni, bi si ni, bi si ni, soa ha ; tát da tha, na mi ni, na mi ni, na mi ni, soa ha ; sa ti ni, sa ti ni, sa ti ni, soa ha ; si pri sa ni, si pri sa ni, si pri sa ni, soa ha ; tát da tha, vê đa ni, vê đa ni, vê đa ni, soa ha ; tri si ni, tri si ni, tri si ni, u pa đi ni, u pa đi ni, u pa đi ni, soa ha ; tát da tha, ba vi ni, ba vi ni, ba vi ni, soa ha ; tát da tha, ja ti ni, ja ti ni, ja ti ni, soa ha ; jăm ma ni ni, jăm ma ni ni, jăm ma ni ni, soa ha. (Tadyatha vicani vicani vicani samscani samscani samscani bhisini bhisini bhisini svaha, tadyatha namini namini namini svaha, satini satini satini svaha, sprsani sprsani sprsani svaha, tadyatha vedani vedani vedani svaha, trsni trsni trsni upadhini upadhini upadhini svaha, tadyatha bhavini bhavini bhavini svaha, tadyatha jatini jatini jatini svaha, jammanini jammanini jammanini svaha).

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 59]

    Bấy giờ, khi đức Thế tôn nói cho đại hội truyện xưa của trưởng giả tử Lưu thủy, thì bộ chúng nhân loại và bộ chúng chư thiên đều than là sự chưa từng có. Bốn vị Thiên vương cùng ở nơi chỗ họ ngồi, khác miệng cùng tiếng mà nói như vầy :

    (1) Lành thay đức Thích tôn !
    nói minh chú diệu pháp,
    sinh phước và diệt tội,
    thích ứng mười hai chi.

    (2) Chúng con cũng nói chú
    hộ trì diệu pháp ấy.
    Ai chống đối trái nghịch
    không khéo tùy thuận theo,

    (3) thì đầu vỡ làm bảy
    tựa như ngọn lan hương.
    Đối trước đức Thế tôn
    chúng con nói minh chú :

    Tát da tha, hi ri ni, ga tê, găn đa ri, chăn đa ni, đi ri, jăm va rê, si hi ba rê, pu rê, pu rê, gu gu ma ti, khi ra ma ti, đa đim mu khi, lau ru ba, mu ru ba, ku cha mu ru kăn tê, đu ru, đu ru, đu ru, vi ri da, ai đi si, đa đê vê, đa đa vê, út tri, út tra va ti, ăn sa pra ha ti, pát ma va ti, ku su ma va tê, soa ha. (Tadyatha hirini gate gandhari candari dhiri jamvare sihibhare pure pure gugumati khiramati dadhimukhi laurubha murubha kucamurukante duru duru duru virya aidhisi dadheve dadhave ustri ustravati ansaprahati padmavati kusumavate svaha).

    Đức Thế tôn bảo Bồ đề thọ thần, thiện nữ, bấy giờ trưởng giả tử Lưu thủy với hai con cho nước cho ăn bầy cá trong hồ, lại thuyết Pháp niệm Phật cho chúng rồi, cùng nhau về nhà. Sau đó, nhân có cuộc hội họp, ông nghe nhạc, say rượu mà nằm. Còn mười ngàn cá thì cùng lúc chết với nhau, sinh Đao lợi thiên, nghĩ rằng chúng ta vì thiện nghiệp nào mà sinh lên cõi trời này  ? Họ nói với nhau, trước đây chúng ta đọa vào loài bàng sinh ở đại lục Thiệm bộ, làm thân cá tất cả. Nhờ trưởng giả tử Lưu thủy cho chúng ta nước và cho chúng ta ăn, lại thuyết cho chúng ta diệu pháp mười hai duyên khởi và minh chú tương ứng, niệm cho chúng ta hồng danh của đức Bảo kế như lai. Vì yếu tố này mà chúng ta được sinh lên đây. Bây giờ chúng ta phải đến chỗ trưởng giả tử Lưu thủy mà hiến cúng trả ơn. Mười ngàn thiên tử tức thì ẩn mất khỏi Đao lợi thiên, hiện đến chỗ đại y vương. Bấy giờ ông đang ngủ yên trên lầu cao. Mười ngàn thiên tử cùng nhau đem một xâu chuỗi mười ngàn hạt ngọc chân châu để bên khuôn mặt của ông, đem một xâu nữa đặt chỗ chân ông, đem một xâu nữa đặt bên hông phải, đem một xâu nữa đặt bên hông trái, rồi rải hoa mạn đà la và đại mạn đà la cao đến đầu gối, chiếu ánh sáng khắp cả, tấu thiên nhạc nhiệm mầu, làm cho đại lục Thiệm bộ ai đang ngủ cũng thức. Trưởng giả tử cũng thức. Mười ngàn thiên tử hiến cúng rồi lướt không gian mà bay, khắp cả quốc gia của quốc vương Thiên tự tại quang, chỗ nào họ cũng rải xuống hoa sen đẹp của chư thiên. Họ bay đến chỗ cũ, nơi hồ trong chằm trống, rải xuống các thứ thiên hoa. Rồi ẩn mất, trở về thiên cung, hưởng hạnh phúc tùy thích. Quốc vương Thiên tự tại quang sáng ngày hỏi đại thần, đêm qua vì gì mà bỗng nhiên có hiện tượng lành là ánh sáng phóng lớn  ? Đại thần tâu, xin đại vương biết cho, đó là có một chúng chư thiên đến nhà trưởng giả tử Lưu thủy, hiến bốn xâu chuỗi mỗi xâu có mười ngàn hạt ngọc chân châu, lại rải thiên hoa mạn đà la dày đến đầu gối. Quốc vương bảo đại thần, hãy đến nhà trưởng giả Trì thủy triệu trưởng giả tử Lưu thủy đến đây. Đại thần tuân lịnh, đến tuyên vương mạng mà mời ông. Ông đến chỗ quốc vương tức thì. Quốc vương hỏi, vì gì mà đêm qua hiện ra hiện tượng hiếm có  ? Ông tâu, theo hạ dân nghĩ, thì chắc chắn bầy cá trong hồ, như trong kinh dạy, đã chết và sinh lên Đao lợi, họ đến trả ơn nên có những hiện tượng hiếm có và kỳ lạ như vậy. Quốc vương nói làm sao biết được  ? Ông tâu, xin đại vương phái sứ giả đi với hai con hạ dân, đến ngay hồ ấy mà xét nghiệm coi ra sao  ? Mười ngàn cá chết hay sống  ? Quốc vương nghe vậy, tức thì phái sứ giả và hai con của ông đến ngay bên hồ. Thì thấy trong hồ có nhiều hoa mạn đà la, dồn thành đống lớn. Bầy cá đã chết cả. Thấy rồi chạy về tâu rõ với quốc vương. Quốc vương nghe thế, hoan hỷ hết sức, than là sự thể chưa bao giờ đã có.

    Đức Thế tôn bảo Bồ đề thọ thần, thiện nữ nên biết, trưởng giả tử Lưu thủy xưa kia chính là bản thân Như lai. Trưởng giả Trì thủy nay là bồ tát Diệu tràng. Hai người con của trưởng giả tử thì con trưởng Thủy mãn nay là Ngân tràng, con thứ Thủy tạng nay là Ngân quang. Quốc vương Thiên tự tại quang thì chính là thiện nữ, Bồ đề thọ thần. Còn bầy cá mười ngàn chính là mười ngàn thiên tử đây. Vì xưa kia Như lai cho họ nước để họ sống, cho họ ăn để họ no, lại thuyết cho họ diệu pháp mười hai duyên khởi và minh chú thích ứng diệu pháp ấy, niệm cho họ hồng danh của đức Bảo kế như lai, do thiện căn như vậy mà họ sinh chư thiên, [và liên tiếp sinh chư thiên mãi]. Nay đến chỗ Như lai, hoan hỷ nghe pháp, và Như lai thọ ký cho họ thành tựu vô thượng bồ đề, nói cho họ biết danh hiệu của họ. Thiện nữ, xưa kia, trong sinh tử luân hồi mà Như lai vẫn làm lợi ích cho chúng sinh một cách rộng rãi. Đối với vô lượng chúng sinh, Như lai làm cho họ tuần tự thành thục vô thượng bồ đề và thọ ký cho họ. Các người hãy làm như Như lai, cần cầu giải thoát, đừng có phóng dật.

    Đại hội lúc ấy nghe đức Thế tôn nói như vậy thì ai cũng hiểu rằng, phải do đại bi cứu giúp tất cả, siêng làm khổ hạnh, mới chứng được vô thượng giác. Ai cũng phát ra tâm nguyện sâu xa, tín thọ một cách hoan hỷ.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 60]

    Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim – cuốn 10

    Phẩm 26 – Xả Bỏ Thân Mạng

    Nói cho đại hội về chuyện xưa của mười ngàn thiên tử rồi, đức Thế tôn lại bảo Bồ đề thọ thần và đại hội, rằng trong quá khứ, Như lai đi theo đường đi bồ tát, chẳng những cho nước cho ăn để cứu mạng bầy cá, mà đến nỗi cái thân tiếc nuối cũng xả bỏ. Sự thể như vậy đáng cùng nhau quan sát.

    Bấy giờ đức Thế tôn — bậc như lai ứng cúng chánh đẳng giác, bậc cao nhất tôn nhất trên trời dưới trời, bậc hàng trăm hàng ngàn ánh sáng chiếu khắp thế giới mười phương, bậc hoàn hảo nhất thế trí và viên mãn đại công đức — đem các vị Bí sô và cả đại hội đến khu dân cư Bát giá ra, đi vào một cánh rừng. Ở đây đất bằng phẳng, không có gai góc, hoa danh tiếng, cỏ mềm mại, bủa khắp mặt đất. Đức Thế tôn bảo trưởng lão A nan đà hãy trải tọa cụ cho Như lai dưới gốc cây kia. Trưởng lão vâng lời, trải tọa cụ rồi, thưa, bạch đức Thế tôn, con đã trải tọa cụ sắp chỗ ngồi rồi, xin đức Thế tôn biết cho đã đến lúc thích hợp. Đức Thế tôn đến ngồi xếp bằng trên chỗ ấy, thẳng mình, chính niệm, bảo các vị Bí sô, các vị muốn thấy xá lợi của Bồ tát khổ hạnh thời xưa không  ? Các vị Bí sô thưa, chúng con muốn thấy. Đức Thế tôn liền dùng cái tay trăm phước trang nghiêm mà ấn xuống đất. Tức thì đại địa chấn động với sáu hình thức, và nứt ra, một ngôi tháp thất bảo bỗng nhiên xuất hiện, phủ lên trên là mạng lưới kết ngọc. Đại hội thấy vậy lấy làm hiếm có. Đức Thế tôn tức thì đứng dậy khỏi chỗ Ngài ngồi, làm lễ bảo pháp, nhiễu quanh theo chiều bên phải, rồi trở lại chỗ ngồi, bảo trưởng lão A nan đà hãy mở cửa tháp. Trưởng lão mở ra, thấy có cái hộp thất bảo, được trang sức bằng những trân bảo kỳ lạ. Trưởng lão bạch đức Thế tôn, có cái hộp thất bảo, trang sức bằng các loại ngọc. Đức Thế tôn bảo hãy mở ra. Trưởng lão tuân mệnh, mở ra, thì thấy có xá lợi trắng như của đại sĩ lại đây. Trưởng lão A nan đà liền lấy xá lợi ấy kính trao cho đức Thế tôn. Ngài cầm lấy mà bảo các vị Bí sô, các vị hãy nhìn xá lợi của Bồ tát khổ hạnh. Ngài lại nói chỉnh cú :

    (1) Đức cao của Bồ tát
    tương ứng có tuệ giác,
    dũng mãnh mà tinh tiến
    viên mãn cả sáu độ.
    Thường xuyên tu không ngừng
    và chỉ vì bồ đề,
    không rời sự kiên cố
    tâm không có mệt mỏi.

    Các vị Bí sô, hãy cùng nhau kính lạy xá lợi của Bồ tát. Xá lợi này được xông bởi vô lượng hương liệu giới định tuệ, là ruộng phước tối thượng, cực kỳ khó gặp. Các vị Bí sô, và cả đại hội, đều nhất tâm, chắp tay, cung kính mà đảnh lễ xá lợi ấy, tán dương hiếm có. Bấy giờ trưởng lão A nan đà bước tới, lạy ngang chân đức Thế tôn mà thưa, bạch đức Thế tôn, Ngài là vị thầy cao cả, vượt trên hết thảy, được hết thảy chúng sinh tôn kính, tại sao lại lạy linh cốt xá lợi này  ? Đức Thế tôn dạy, trưởng lão A nan đà, Như lai nhờ xá lợi này mà tốc chứng vô thượng bồ đề. Để báo ơn xưa nên Như lai kính lạy. Ngài lại bảo, An nan đà, Như lai sẽ giải trừ hoài nghi cho trưởng lão, và cả đại hội, mà nói chuyện cũ của xá lợi này. Các người hãy khéo nghĩ, hãy chuyên nhất tâm trí mà nghe. Trưởng lão A nan đà thưa, chúng con ước muốn được nghe. Xin đức Thế tôn khai thị cho chúng con.

    Đức Thế tôn dạy, trưởng lão A nan đà, quá khứ có một quốc vương tên Đại xa, giàu lớn, lắm của, kho lẫm đầy ắp, quân binh vũ dũng, ai cũng khâm phục. Quốc vương lại thường xuyên đem chánh pháp mà khai hóa đến cả những người đen đủi. Quốc dân đông đảo, không có giặc thù. Hoàng hậu sinh được ba con trai, đẹp, nghiêm, ai cũng thích nhìn. Thái tử tên Ma ha ba la, thứ tử tên Ma ha đề bà, ấu tử tên Ma ha tát đỏa. Bấy giờ quốc vương xuất du núi rừng. Ba vương tử cũng tùy tùng. Ham tìm hoa trái nên ba anh em tách ra, đi quanh quẩn đến nhằm khu rừng tre lớn, nghỉ ngơi ở đây. Vương tử thứ nhất nói, anh cảm thấy sợ hãi, chỗ này có mãnh thú hại chúng ta chăng  ? Vương tử thứ hai nói, chưa bao giờ em tiếc thân mình, chỉ sợ người thân có cái khổ biệt ly. Vương tử thứ ba thưa hai anh.

    (2) Đây là nơi chốn
    thần tiên cư trú.
    Em không sợ hãi,
    không khổ biệt ly.
    Thân và tâm em
    tràn ngập hoan hỷ,
    cái điềm sẽ được
    công đức đặc thù  !

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 61]

    Ba vương tử nói linh tính mình rồi đi tới, thấy con cọp sinh bảy con. Sinh mới mấy ngày mà cọp mẹ bị bầy con quấn quýt nên đói khát, thân hình gầy ốm, có vẻ sắp chết. Vương tử thứ nhất nói cọp này thật đáng thương, bị con quấn quýt, không đi kiếm ăn được, đói quá chắc phải ăn đến con. Vương tử Tát đỏa hỏi anh, cọp mẹ này thường ăn thứ gì  ? Vương tử thứ nhất nói với em

    (3) Cọp báo sói sư tử
    chỉ ăn thịt máu nóng
    chứ không ăn gì khác
    mà qua cơn đói này.

    Vương tử thứ hai nghe thế, nói con cọp này đói sắp chết, nhưng chúng ta làm sao kiếm được thực phẩm như anh nói  ? Ai chịu bỏ thân mạng mà cứu cơn đói của nó  ? Vương tử thứ nhất nói, không có gì khó bỏ cho bằng thân mình. Vương tử Tát đỏa nói, chúng ta tiếc nuối thân mạng, lại không trí tuệ, không làm được gì lợi cho kẻ khác. Nhưng bậc đại sĩ thì có đại bi tâm, thường vì lợi người mà bỏ mình. Vương tử Tát đỏa nghĩ riêng, thân ta đây hàng trăm hàng ngàn đời vất bỏ thối rã mà chẳng được ích gì, tại sao ngày nay ta không bỏ để cứu cái khổ cơn đói. Cả ba vương tử nói với nhau như trên kia, ai cũng thương xót, ái ngại nhìn cọp đói, bồi hồi bỏ đi. Nhưng vương tử Tát đỏa lại liên tiếp nghĩ riêng, nay chính là lúc thích đáng cho ta bỏ thân này. Tại sao  ?

    (4) Vì xưa đến nay
    ta giữ thân này,
    cái thân xú uế
    không thể thích được.
    Ta cấp đồ nằm
    cùng với đồ mặc,
    cung đốn xe ngựa
    và bao của quí.

    (5) Nhưng thân hư rã
    vì vốn vô thường,
    cầu hoài không thỏa
    giữ mãi vẫn chết.
    Ta cung dưỡng nó
    nó lại hại ta,
    cuối cùng bỏ ta
    chẳng biết ơn nghĩa !

    Thêm nữa, thân này không bền, vô ích cho ta. Thân này đáng sợ như giặc, dơ bẩn như phân. Ngày nay ta sai cái thân này làm cái việc cao cả. Trong biển sinh tử, nó phải là thuyền tàu to lớn. Nó phải bỏ luân hồi, đạt đến giải thoát. Vương tử lại nghĩ, bỏ thân này là bỏ không ít ác bịnh và bao nhiêu kinh hãi. Thân này chỉ có phân giải. Nó mong manh như bóng nước. Nó, nơi sâu giòi tập hợp, sống chỉ vì gân cốt huyết mạch dính líu với nhau. Vậy ta nên bỏ, để cầu Niết bàn tối thượng và cứu cánh. Ở đó vĩnh biệt vô thường, vĩnh ly sinh tử, vĩnh đoạn trần lụy. Ở đó huân tu bằng định lực và tuệ lực, trang nghiêm với cả trăm phước đức. Ở đó hoàn thành nhất thế trí, chứng đắc diệu pháp thân. Hoàn thành và chứng đắc như vậy rồi đem cho chúng sinh vô biên pháp lạc. Vương tử Tát đỏa bấy giờ nổi dậy sự đại dũng mãnh, phát ra sự đại thệ nguyện, và tăng cường tâm mình bằng sự đại từ bi. Nhưng vương tử sợ hai anh lưu luyến sợ hãi mà cản trở, nên nói, hai anh đi trước, em đi sau một chút. Vương tử Ma ha tát đỏa liền trở lại khu rừng, đến chỗ cọp đói, thoát hết y phục mắc trên cây tre, phát nguyện như vầy.

    (6) Ta vì chúng sinh
    khắp cả pháp giới,
    chí cầu Bồ đề
    tuệ giác tối thượng.
    Khởi tâm đại bi
    không thể dao động,
    mà bỏ cái thân
    phàm phu luyến tiếc.

    (7) Trạng huống Bồ đề
    không có nóng bức,
    ai người có trí
    đều rất ưa thích.
    Bao nhiêu chúng sinh
    trong biển khổ lớn,
    ta nguyện cứu vớt
    đưa lên Bồ đề.

    Vương tử phát nguyện như vậy rồi đến nằm buông mình trước cọp đói. Nhưng do uy thế từ bi của Bồ tát, cọp không làm gì được. Thấy vậy, Bồ tát chạy lên núi cao mà gieo mình xuống, thì thần tiên tiếp đỡ nên không thương tổn gì. Vương tử nghĩ, cọp đói lả, không ăn ta nổi. Liền đứng dậy tìm dao, dao không có. Nên vương tử lấy tre khô thích cổ chảy huyết, đi lại bên cọp. Bấy giờ đại địa chấn động với sáu hình thức, như gió khích nước, vọt lên dội xuống không yên. Mặt trời không sáng, như bị la hầu che. Khắp nơi mờ tối, không còn ánh sáng. Chư thiên rải xuống danh hoa và diệu hương khắp cả khu rừng. Trong không gian, chư thiên nhìn cảnh tượng như vậy thì tâm tùy hỷ, than hiếm có, cùng khen lành thay bậc đại sĩ ! Họ ca tụng

    (8) Đại sĩ vận dụng
    đại bi cứu vật,
    nhìn toàn chúng sinh
    coi như con một ;
    mạnh mẽ hoan hỷ,
    lòng không tiếc nuối,
    xả thân cứu khổ,
    việc thật khó lường !

    (9) Quyết định đạt đến
    chân thường siêu việt,
    thoát bỏ sinh tử
    mọi thứ buộc ràng ;
    mau chóng chứng được
    tuệ giác Bồ đề,
    vắng lặng yên vui
    thể hiện Vô sinh.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 62]

    Bấy giờ cọp đói ngửi thấy huyết từ cổ Bồ tát chảy ra thì liếm lấy, và ăn hết thịt Bồ tát, còn lại chỉ có xương.

    Vương tử thứ nhất thấy đất động thì nói với em hai

    (10) Đại địa núi sông
    chấn động tất cả,
    bốn phía mờ tối
    không ánh mặt trời,
    thiên hoa rơi xuống
    khắp cả không gian,
    chắc chắn là điềm
    em ba bỏ mình.

    Vương tử thứ hai nghe anh nói rồi, tự nói chỉnh cú

    (11) Em nghe Tát đỏa
    nói lời từ bi,
    khi thấy cọp đói
    thân thể ốm xọp,
    đói hành nó quá
    chắc ăn cả con.
    Em nghi em ba
    xả thân mất rồi.

    Vương tử thứ hai rất buồn rầu đau khổ, khóc lóc than thở. Tức khắc cùng anh trở lại chỗ cọp. Thì thấy y phục của em treo để trên tre, còn xương với tóc thì vung vãi ra. Máu thấm đỏ cả đất. Thấy thế ngất đi, không tự chủ được. Rơi mình trên xương em, hồi lâu mới tỉnh, dơ tay, kêu gào, khóc lớn, than thở :

    (12) Em ta dung mạo đẹp,
    cha mẹ thương hơn hết,
    tại sao cùng ra đi
    giờ bỏ mình, không về !

    (13) Nếu cha mẹ ta hỏi,
    ta phải nói thế nào  ?
    Thà ta cùng bỏ mình,
    chứ sống để làm gì  ?

    Hai anh em vương tử khóc lóc áo não, tạm rời mà về. Trong khi những kẻ tháp tùng của vương tử út thì bảo nhau, vương tử đi đâu, chúng ta phải tìm.

    Còn hoàng hậu thì ngủ trên lầu cao. Trong mộng thấy hiện tượng bất tường. Nhũ bộ bị cắt cả đôi. Răng rụng hết. Được ba con bồ câu non, một con bị cắt bắt, hai con kinh hoàng. Khi động đất, hoàng hậu thức, thì trong lòng sầu não :

    (14) Tại sao hôm nay
    đại địa chấn động,
    sông ngòi rừng rú
    đều rung lắc cả,
    mặt trời mờ tối
    như bị che khuất,
    mắt máy vú động
    khác hơn ngày thường  ?

    (15) Tim như trúng tên
    lo sợ bức xúc,
    cả người run rẩy
    không kềm chế được.
    Hiện tượng bất tường
    mà ta mộng thấy,
    tất có tai biến
    phi thường nào đây !

    Nhũ bộ của hoàng hậu bỗng nhiên chảy sữa. Bà nghĩ tất có biến quái. Bấy giờ thị nữ nghe người ngoài nói tìm vương tử chưa được thì sợ quá, tức tốc vào tâu với hoàng hậu, rằng xin hoàng hậu biết cho, ở ngoài người ta bổ ra đi tìm vương tử khắp cả mà chưa thấy. Hoàng hậu nghe thế càng lo sợ, nước mắt đầy tròng, đến chỗ quốc vương mà tâu : Đại vương, thần thiếp nghe người ngoài nói đứa con nhỏ nhất mà chúng ta thương nhất đã mất đâu rồi. Quốc vương nghe thì kinh hoàng, nấc lên : Khổ quá, ta mất đứa con yêu thương rồi. Nhưng ông phải lau nước mắt mà an ủi hoàng hậu : Hiền thủ, đừng khóc nữa. Chúng ta cùng đi tìm đứa con yêu thương của chúng ta. Rồi ông cùng hoàng hậu và thần dân ra khỏi hoàng thành, phân tán tìm tòi khắp nơi. Một lát, một đại thần bước tới, tâu rằng đã nghe các vương tử hãy còn, xin vương thượng đừng lo. Chỉ vương tử nhỏ nhất thì tìm chưa thấy mà thôi. Quốc vương nghe vậy, than thở khổ thay cho ta, ta mất đứa con thương yêu nhất rồi !

    (16) Khi mới có con
    ta vui mừng ít,
    giờ con mất đi
    ta khổ sở nhiều.
    Ai làm con ta
    sống còn lại được,
    thì mất mạng ta
    ta cũng không khổ.

    Hoàng hậu nghe thì như bị trúng tên bắn, than thở

    (17) Con ta ba đứa
    đi với thị tùng,
    cùng vào trong rừng
    thưởng ngoạn cảnh trí.
    Giờ đứa nhỏ nhất
    mình nó không về,
    chắc chắn có điều
    tai biến mất rồi !

    Kế tiếp, vị đại thần thứ hai đến chỗ quốc vương, vương hỏi ngay, con ta đâu  ? Đại thần áo não, lưỡi khô, cổ rát, miệng không nói được, không biết trả lời làm sao. Hoàng hậu bảo

    (18) Thượng quan nói gấp,
    con ta ở đâu  ?
    Ta nóng cả người
    như thiêu như đốt,
    kinh hoàng hoảng hốt
    mất cả bình tâm,
    đừng để bụng ta
    rách vỡ cả ra !

    Vị đại thần phải đem việc vương tử xả thân mà tâu quốc vương. Quốc vương với hoàng hậu nghe rồi, bi thiết không thể chịu nổi, nhắm chỗ vương tử xả thân mà chạy tới. Đi đến rừng tre, chỗ Bồ tát xả thân. Thấy xương vung vãi, ai cũng gieo mình xuống đất, cơ hồ sắp chết. Họ như đại thọ bị gió mạnh xô ngã. Họ bất tỉnh. Đại thần rưới nước, một lát tỉnh lại. Họ lại dơ tay, khóc, than :

    (19) Tai họa cho con !
    con đẹp đẽ lắm !
    tại sao cái chết
    áp bức con trước  ?
    Phải chi nếu cha
    được chết trước con
    thì đâu phải thấy
    khổ quá thế này !

    Hoàng hậu hơi tỉnh, lại đầu bù tóc rối, hai tay đấm bụng, quằn quại dưới đất. Như cá trên đất, như bò mất con, hoàng hậu buồn thảm :

    (20) Ai giết mất con ta
    mà chỉ còn xương cốt  ?
    ta mất con yêu thương
    bi thiết chịu sao nổi !

    (21) Ai giết mất con ta
    gây ra cảnh bi thảm  ?
    lòng ta phi kim cương
    làm sao không tan nát !

    (22) Trong mộng ta đã thấy
    nhũ bộ ta bị cắt,
    răng cũng rụng mất cả,
    nay khổ quá thế này !

    (23) Lại mộng ba bồ câu
    một bị cắt bắt đi,
    ra ta mất con quí,
    ác mộng thật không sai !

    Bấy giờ quốc vương, cùng hoàng hậu với hai con, ai cũng gào khóc, bỏ cả chuỗi ngọc. Họ cùng quốc dân thu nhặt xá lợi của Bồ tát, tôn trí trong tháp để hiến cúng. Trưởng lão A nan đà, các người nên biết, đây là xá lợi ấy của Bồ tát.

    Đức Thế tôn lại bảo trưởng lão A nan đà, xưa kia, Như lai đủ cả tham sân si, mọi thứ phiền não, vậy mà ngay trong năm nẻo đường dữ, Như lai vẫn tùy cảnh ngộ cứu vớt chúng sinh ra khỏi chỗ ấy ; huống chi nay đây Như lai đã hết cả phiền não, thói quen cũng không còn, được gọi là bậc Thiên nhân sư, đủ Nhất thế trí, mà không thể vì mỗi một chúng sinh trải qua nhiều kiếp ở ngay trong địa ngục, và bao chỗ khác, thay họ chịu khổ, làm cho họ thoát ly sinh tử, phiền não và luân hồi hay sao.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 63]

    Bấy giờ đức Thế tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (24) Như lai nhớ quá khứ
    vô lượng vô số kiếp,
    khi thì làm quốc vương
    khi thì làm vương tử.

    (25) Thường làm bố thí lớn,
    cho cả thân đáng tiếc,
    nguyện thoát sinh tử khổ
    đi đến đại bồ đề

    (26) Xưa có quốc gia lớn
    quốc vương tên Đại xa,
    vương tử tên Dũng mãnh
    bố thí không tiếc lẫn.

    (27) Vương tử có hai anh
    Đại cừ với Đại thiên.
    Ba anh em xuất du,
    đi lần vào núi rừng.

    (28) Thấy cọp mẹ bị đói
    thì nghĩ như thế này,
    cọp bị đói hành hạ
    mà không có gì ăn.

    (29) Đại sĩ thấy như thế
    sợ nó ăn con nó,
    nên xả thân không tiếc
    để cứu cả mẹ con.

    (30) Đại địa và núi non
    đồng thời chấn động cả,
    sông biển cũng sôi sục
    sóng dữ mà nước ngược.

    (31) Trời đất mất ánh sáng
    mờ tối không thấy gì.
    Cầm thú rừng, đồng nội
    bay chạy mất chỗ ở.

    (32) Hai anh quái mất em
    lo buồn đến bi thảm,
    tức khắc cùng thị tùng
    tìm khắp cả lùm rừng.

    (33) Hai anh bàn với nhau
    hãy trở lại núi sâu,
    nhìn quanh không có em
    chỉ thấy con cọp đói.

    (34) Cọp mẹ với bảy con
    miệng toàn có vấy máu,
    còn xương tàn với tóc
    thì vung vãi mặt đất.

    (35) Lại thấy có huyết chảy
    dính nhằm mấy cây rừng.
    Hai anh thấy như thế
    lòng sinh đại sợ hãi.

    (36) Ngã đất mà chết giấc
    mê man hết biết gì,
    bụi đất lấm cả người
    giác quan mất ý thức.

    (37) Thị tùng hai vương tử
    khóc lóc lòng lo sợ,
    lấy nước rưới tỉnh lại
    lại dơ tay gào khóc.

    (38) Khi Bồ tát bỏ mình
    thì mẹ ở trong cung,
    cùng năm trăm thế nữ
    đang hưởng thụ vui thú.

    (39) Hai nhũ bộ hoàng hậu
    bỗng nhiên chảy sữa ra,
    cả người như kim chích
    đau đớn rất bất an.

    (40) Đột nhiên nghĩ mất con
    sợ như tim trúng tên,
    tức khắc tâu vua hay
    nỗi khổ bà đang có.

    (41) Khóc lóc không nhịn được
    thảm thiết nói với vua,
    vua nên biết cho thiếp
    thiếp đang khổ vô cùng.

    (42) Nhũ bộ bỗng chảy sữa
    ngưng lại cũng không được,
    cả mình như kim chích
    nóng bực bụng muốn vỡ.

    (42) Điềm ác mộng trước đây
    biết chắc mất con yêu.
    Xin vua cứu mạng thiếp
    tìm biết con còn mất.

    (44) Mộng thấy ba bồ câu
    nhỏ nhất là con cưng,
    bỗng bị cắt bắt mất
    đau buồn khó nói hết.

    (45) Thiếp ngập trong lo sợ
    đi mau đến cái chết,
    e con không toàn mạng
    xin vua đi tìm gấp.

    (46) Lại nghe người ngoài nói
    con út tìm không thấy,
    lòng thiếp rất bồn chồn
    xin vua thương xót thiếp !

    (47) Hoàng hậu tâu vua rồi
    cả người quị xuống đất,
    đau đớn tâm mê man
    hôn mê hết hay biết.

    (48) Thế nữ thấy hoàng hậu
    ngất xỉu xuống mặt đất
    thì cất tiếng khóc lớn
    bàng hoàng mất chỗ dựa.

    (49) Vua nghe hoàng hậu nói
    cũng lo không chịu nổi,
    ra lịnh cho quần thần
    tìm kiếm con thương nhất.

    (50) Vua tôi ra hoàng thành
    chia nhau mà truy tìm,
    gặp ai cũng khóc hỏi
    thấy vương tử ở đâu.

    (51) Vương tử còn hay mất  ?
    ai biết đi chỗ nào  ?
    làm sao cho ta thấy
    giải cho ta lo sợ.

    (52) Ai cũng nghe nói chuyền
    rằng vương tử chết rồi.
    Ai nghe cũng thương cảm
    buồn đau khó chế ngự.

    (53) Bấy giờ Đại xa vương
    kêu than mà đứng dậy
    đến chỗ hoàng hậu ngất
    lấy nước rưới thân bà.

    (54) Hoàng hậu được nước rưới
    lát lâu mới hồi tỉnh,
    khóc thảm mà hỏi vua
    con của thiếp còn không  ?

    (55) Vua nói với hoàng hậu
    ta đã phái mọi người
    bốn hướng tìm vương tử
    nhưng chưa có tin tức.

    (56) Vua lại bảo hoàng hậu
    hậu đừng quá phiền muộn,
    cố bình tỉnh một chút
    để cùng đi tìm con.

    (57) Vua cùng với hoàng hậu
    xa giá đi mau tới,
    với tiếng kêu thê thảm
    lo như lửa đốt lòng.

    (58) Cả ngàn vạn dân chúng
    cùng đi theo nhà vua,
    cùng muốn tìm vương tử,
    tiếng kêu than không ngớt.

    (59) Vua cố tìm con yêu,
    mắt nhìn cả bốn phía,
    thấy một người bước đến,
    tóc xõa mình đầy máu,

    (60) khắp mình dính đất bụi,
    buồn khóc đi ngược lại.
    Vua thấy ác tướng ấy
    càng nóng ruột lo sợ.

    (61) Vua giơ cả hai tay
    gào thảm không tự chế.
    Vị đại thần thứ nhất
    vội vàng đến chỗ vua,

    (62) gắng gượng mà tấu bạch,
    xin đừng quá bi thương,
    vương tử vua thương nhất,
    hiện vẫn chưa tìm được,

    (63) nhưng lát nữa chắc đến
    để giải lo cho vua.
    Vua lại đi tới nữa
    gặp đại thần thứ hai.

    (64) Vị này đến chỗ vua
    chảy nước mắt mà tâu,
    hai vương tử hiện còn
    nhưng đang bị quá lo.

    (65) Còn vương tử thứ ba
    vô thường nuốt mất rồi.
    Cọp đói mới sinh con
    sắp ăn chính con nó.

    (66) Tiểu vương tử Tát đỏa
    thấy vậy lòng thương xót,
    nguyện cầu đạo vô thượng
    quảng độ cho tất cả.

    (67) Chuyên tâm đại bồ đề
    rộng sâu như biển cả,
    nên lên trên núi cao
    gieo mình trước cọp đói.

    (68) Cọp yếu nên không thể
    vồ mà ăn vương tử,
    vương tử phải dùng tre
    tự thích cổ đổ máu.
    Cọp liếm, ăn vương tử,
    chỉ còn lại xương cốt.

    (69) Vua cùng với hoàng hậu
    nghe rồi cùng ngất xỉu,
    lòng ngập trong đau thương
    trong lửa dữ phiền não.

    (70) Đại thần lấy nước hương
    rưới vua và hoàng hậu,
    hồi tỉnh lại thét gào
    tự tay đấm ngực bụng.

    (71) Vị đại thần thứ ba
    tâu vua như thế này,
    đã thấy hai vương tử
    ngất xỉu ở trong rừng.

    (72) Hạ thần rưới nước lạnh
    hai vương tử mới tỉnh,
    nhìn khắp cả bốn phía
    thấy như lửa lan tràn.

    (73) Nên dậy rồi lại ngã,
    gào khóc không ngưng nổi,
    và giơ tay mà than
    em tôi thật hiếm có.

    (74) Vua nghe nói như vậy
    lo càng nung nấu hơn.
    Hoàng hậu gào lớn lên
    mà than vãn như vầy.

    (75) Con út của ta
    ta thương xiết bao,
    nay thì đã bị
    quỉ chết nuốt rồi !
    Hai đứa con lớn
    tuy vẫn hiện còn,
    nhưng bị thiêu đốt
    bởi lửa lo buồn.

    (76) Ta phải đi mau
    đến dưới núi kia,
    an ủi cho chúng
    bảo tồn mạng sống.
    Hoàng hậu tức khắc
    rong xe đi tới,
    cố mong đến gấp
    chỗ út bỏ mình.

    (77) Trên đường gặp con
    vừa đi vừa khóc,
    đấm bụng áo não
    mất hết uy phong.
    Cha mẹ thấy vậy
    buồn thảm ôm con,
    cùng vào núi rừng
    chỗ út bỏ mình.

    (78) Khi đến cái chỗ
    Bồ tát xả thân,
    cả nhà gào khóc
    đau đớn cùng cực,
    cởi bỏ chuỗi ngọc,
    cùng nhau bi thương
    thu nhặt xương cốt
    của thân Bồ tát.

    (79) Rồi cùng mọi người
    chung nhau hiến cúng :
    đem xá lợi trên
    đặt trong hộp này,
    xây dựng tại đó
    ngôi tháp thất bảo,
    mới về hoàng thành
    với sự đau buồn.

    (80) Trưởng lão A nan đà,
    Tát đỏa xưa kia ấy
    nay là ta, Mâu ni,
    đừng nghĩ là ai khác.

    (81) Quốc vương là Tịnh phạn,
    hoàng hậu là Ma da,
    thái tử là Từ thị,
    thứ tử là Mạn thù,

    (82) Cọp là Đại thế chúa ([101]),
    năm con : năm Bí sô ([102]),
    một nữa : Mục kiền liên
    một nữa : Xá lợi phất.

    (83) Như lai nói việc cũ
    để thấy phải lợi tha
    mới là bồ tát hạnh,
    là nhân tố thành Phật :
    toàn thể đại hội này
    phải học tập như vậy.

    (84) Khi Bồ tát xả thân
    thì đã phát đại nguyện,
    nguyện xương cốt của mình
    sẽ lợi ích lớn lao
    cho bao nhiêu chúng sinh
    trong bao kiếp sau đó.

    (85) Và địa điểm này đây
    chính là chỗ xưa kia
    Bồ tát đã xả thân,
    là chỗ tháp thất bảo,
    vì trải qua nhiều kiếp
    nên vùi sâu xuống đất.

    (86) Do nguyện lực xưa kia,
    rằng tùy theo cơ hội
    mà tế độ chúng sinh,
    nên nay vì ích lợi
    cho bao nhiêu nhân thiên
    mà bảo tháp xuất hiện.

    Khi đức Thế tôn nói về chuyện cũ này thì cả đại hội, bao gồm vô số nhân loại và chư thiên, ai cũng vô cùng bi cảm, hoan hỷ, tán dương là sự thể chưa bao giờ đã có, và cùng phát tâm vô thượng bồ đề. Đức Thế tôn lại bảo Bồ đề thọ thần, Như lai vì trả ơn mà kính lạy. Rồi Ngài thu hồi thần lực thì bảo tháp trở lại lòng đất.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 64]

    Phẩm 27 – Bồ Tát Tán Dương

    Khi đức Thích ca mâu ni thế tôn tuyên thuyết kinh Ánh sáng hoàng kim, thì mười phương quốc độ có vô lượng bồ tát, đều từ quốc độ của mình mà đến đỉnh Thứu phong, chỗ đức Thế tôn, năm bộ phận gieo xuống sát đất, đảnh lễ Ngài rồi nhất tâm chấp tay, khác miệng cùng tiếng mà tán dương.

    (1) Sắc thân Thế tôn
    như màu hoàng kim,
    ánh sáng trải khắp
    như núi vàng thật,
    trong sạch ôn nhu
    như là hoa sen,
    với bao màu sắc
    trang sức tuyệt đẹp.

    (2) Ba mươi hai tướng
    trang hoàng cả người,
    tám mươi nét đẹp
    trang sức toàn hảo,
    ánh sáng rực rỡ
    không ai đồng đẳng,
    trong suốt tựa như
    vầng trăng tròn đầy.

    (3) Tiếng Ngài trong thanh
    cực kỳ tinh tế,
    oai như sấm nổ
    như sư tử gầm,
    với tám đặc tính ([103])
    thích ứng mọi người,
    hơn cả tiếng chim
    tần dà vân vân.

    (4) Trang nghiêm hình dung
    bằng trăm phước mầu,
    ánh sáng toàn hảo
    không gợn vẩn đục,
    tuệ giác lắng trong
    in như biển cả,
    công đức rộng lớn
    in như không gian.

    (5) Viên quang chiếu khắp
    mười phương quốc độ,
    tùy duyên hóa độ
    vô lượng sinh linh,
    ái nhiễm thì đến
    thói quen cũng hết,
    đuốc Pháp thường đốt
    không bao giờ tắt.

    (6) Xót thương ích lợi
    bao loại chúng sinh,
    hiện tại vị lai
    đều cho yên vui,
    thường tuyên thuyết cho
    đệ nhất nghĩa đế,
    làm cho thể chứng
    Niết bàn chân tịnh.

    (7) Thế tôn nói pháp
    cam lộ siêu việt,
    đem cho nghĩa lý
    cam lộ nhiệm mầu,
    dẫn vào thành trì
    cam lộ niết bàn,
    làm cho thụ hưởng
    cam lộ pháp lạc.

    (8) Thường xuyên ở trong
    biển cả sống chết,
    cứu vớt đau khổ
    cho bao chúng sinh,
    làm họ đứng vững
    đại lộ yên ổn,
    đem cho cái vui
    như ý khó lường.

    (9) Biển cả công đức
    cực kỳ sâu rộng,
    không phải ví dụ
    có thể minh họa,
    thường nổi đại bi
    đối với chúng sinh,
    phương tiện hóa độ
    không lúc nào ngừng.

    (10) Biển cả tuệ giác
    không có ngoại biên,
    nhân loại chư thiên
    cùng nhau ước lượng,
    giả sử đến cả
    ngàn vạn ức kiếp
    cũng không biết được
    một phần chút ít.

    (11) Chúng con ước lược
    tán dương Phật đức,
    chỉ là một giọt
    trong biển đức ấy,
    hướng khối phước này
    về cho chúng sinh,
    nguyện cùng tốc chứng
    bồ đề diệu quả.

    Khi ấy đức Thế tôn bảo chư vị bồ tát, lành thay, chư vị khéo tán dương như vậy đối với phẩm chất của Phật, lợi ích chúng sinh, quảng tác việc Phật : diệt được vô lượng ác nghiệp, sinh được vô lượng phước báo.

    Phẩm 28
    Diệu Tràng Tán Dương

    Lúc ấy bồ tát Diệu tràng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vắt vạt áo của vai bên phải, gối bên phải quì xuống chấm đất, chắp tay hướng về đức Thế tôn mà tán dương.

    (1) Tướng hảo Thế tôn
    trăm phước viên mãn,
    vô lượng công đức
    tự trang nghiêm mình,
    thanh tịnh bàng bạc
    ai cũng thích nhìn,
    ánh sáng chiếu tỏa
    như ngàn mặt nhật.

    (2) Ánh sáng rực lên
    với bao màu sắc,
    tướng hảo uy nghi
    như khối ngọc quí,
    như mặt trời mọc
    chiếu sáng không gian,
    với màu hồng, trắng
    xen màu hoàng kim.

    (3) Và như núi vàng
    trải rộng ánh sáng
    khắp mọi nơi chốn
    trăm ngàn quốc độ,
    diệt cho chúng sinh
    vô lượng đau khổ,
    đem cho chúng sinh
    an vui siêu việt.

    (4) Tướng hảo đầy đủ
    và rất nghiêm tịnh,
    chúng sinh thích nhìn
    không ai biết chán.
    Tóc thì mềm mịn
    với màu xanh sẫm,
    như ong đen huyền
    họp trên hoa đẹp.

    (5) Đại hỷ đại xả
    rất là trang nghiêm,
    đại từ đại bi
    rất là viên mãn,
    tướng hảo tuyệt diệu
    trang sức thân thể,
    là do các pháp
    giác phần tạo thành.

    (6) Ban cho chúng sinh
    bao nhiêu phước đức,
    để họ thường được
    yên vui lớn lao.
    Và được trang hoàng
    bằng các diệu đức,
    nên trải ánh sáng
    ngàn vạn quốc độ.

    (7) Ánh sáng, tướng hảo
    cùng cực viên minh,
    nên như mặt trời
    sáng rực không trung.
    Và như tu di
    công đức đủ cả,
    biến thể cùng khắp
    mười phương quốc độ.

    (8) Miệng vàng tuyệt đẹp
    và rất uy nghiêm.
    Răng trắng, đều, khít
    giống như tuyết, ngọc.
    Và cả khuôn mặt
    không ai sánh bằng,
    với tướng bạch hào
    uốn theo chiều phải ;

    (9) sáng nhuận tươi trắng
    in như pha lê,
    lại như trăng tròn
    lồng lộng không trung.

    Đức Thế tôn bảo bồ tát Diệu tràng, bồ tát tán dương Phật đức như vậy thật bất khả tư nghị, lợi ích chúng sinh, làm cho những người trước đây chưa biết đến đều tùy thuận tu học.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 65]

    Phẩm 29 – Thọ Thần Tán Dương

    Bấy giờ Bồ đề thọ thần cũng sử dụng chỉnh cú tán dương đức Thế tôn.

    (1) Kính lạy tuệ giác
    cực kỳ thanh tịnh,
    kính lạy tuệ giác
    thường cầu chánh pháp,
    kính lạy tuệ giác
    tách rời phi pháp,
    kính lạy tuệ giác
    vĩnh siêu phân biệt.

    (2) Hiếm có cái hạnh
    không có biên cương,
    hiếm có khó thấy
    như hoa ưu đàm,
    hiếm có như biển
    trấn cho núi chúa ([104]),
    hiếm có ánh sáng
    không có số lượng.

    (3) Hiếm có cái nguyện
    từ bi rộng lớn,
    hiếm có cái sáng
    vượt quá thái dương,
    tuyên thuyết kinh này
    ngọc trong các kinh,
    thương tưởng lợi ích
    cho bao sinh linh.

    (4) Thể hiện vắng lặng
    giác quan định tĩnh,
    hội nhập vắng lặng
    thành trì niết bàn,
    sống trong vắng lặng.
    các pháp đẳng trì ([105]),
    thấu triệt vắng lặng
    lĩnh vực sâu xa.

    (5) Trú ở ở trong
    cái Không siêu việt,
    đệ tử cũng thấy
    bản thân là không,
    cũng thấy các pháp
    toàn không tự tánh,
    cũng thấy chúng sinh
    toàn là vắng lặng.

    (6) Con thường nhớ đến
    chư vị Thế tôn,
    con thường thích nhìn
    chư vị Thế tôn,
    con thường thiết tha
    đối với Thế tôn,
    con thường gặp được
    mặt trời Thế tôn.

    (7) Con thường kính lạy
    chư vị Thế tôn,
    khao khát ước nguyện
    lòng không rời bỏ,
    cảm kích rơi lệ
    lòng không gián đoạn,
    nguyện được phụng sự
    lòng không nhàm chán.

    (8) Xin đức Thế tôn
    khởi tâm đại bi,
    cho con thường thấy
    dung nghi Thế tôn,
    nguyện cầu Thế tôn
    cùng Thanh tịnh chúng
    thường xuyên tế độ
    vô lượng nhân thiên.

    (9) Thân Ngài rỗng sáng
    in như không gian,
    biến thể thì như
    ảo tượng, trăng nước ([106]).
    Xin Ngài tuyên thuyết
    niết bàn cam lộ,
    để phát sinh ra
    cái khối công đức.

    (10) Lĩnh vực thanh tịnh
    của đức Thế tôn,
    từ bi, chánh hạnh
    toàn bất tư nghị ;
    Thanh văn Độc giác
    đã không lường nổi,
    mà chư Bồ tát
    cũng không lường thấu.

    (11) Xin đức Thế tôn
    thương tưởng đến con,
    thường cho con thấy
    thân đấng Đại bi.
    Con đem ba nghiệp
    không hề mệt mỏi
    thờ đức Đại từ,
    nguyện con mau chóng
    thoát khỏi sinh tử
    hội về chân như.

    Đức Thế tôn nghe những chỉnh cú tán dương này rồi, dùng tiếng Phạn âm mà bảo Bồ đề thọ thần, lành thay thiện nữ ; thiện nữ có thể có những lời tán dương tự lợi lợi tha như vậy, tán dương diệu tướng của pháp thân Như lai, cái thân chân thật, không dối, trong sáng. Do công đức tán dương này làm cho thiện nữ mau chóng chứng được bồ đề tối thượng, lại làm cho chúng sinh cùng tu tập như thiện nữ. Ai nghe được những lời tán dương này thì nhập vào Cam lộ, vào cửa Vô sinh.

    Phẩm 30
    Biện Tài Tán Dương

    Vào lúc bấy giờ Đại biện tài thiên nữ tức thì đứng dậy khỏi chỗ mình ngồi, chắp tay cung kính, đem những trực từ dưới đây mà tán dương đức Thế tôn.

    Con xin kính lạy Ngài, đức Thích ca mâu ni, đấng Như lai, đấng Ứng cúng, đấng Chánh đẳng giác. Thân màu hoàng kim. Cổ như xa cừ. Mặt như trăng rằm. Mắt như sen xanh. Môi và miệng đỏ và đẹp như pha lê. Mũi cao, dài và thẳng như đỉnh vàng. Răng trắng, đều và khít như sen trắng. Ánh sáng thân thể chiếu tỏa như trăm ngàn mặt trời. Màu sắc ánh sáng ấy như vàng Thiệm bộ.

    Nói không sai lầm. Mở ba cửa giải thoát và chỉ ba đường giác ngộ. Tâm thường thanh tịnh, ý thích cũng vậy. Chỗ Ngài ở và chỗ Ngài đi ([107]) cũng thường thanh tịnh. Không thiếu uy nghi, cử chỉ không sơ suất. Hành khổ hạnh sáu năm, chuyển pháp luân ba vòng, hóa độ chúng sinh khốn khổ, làm cho trở về bờ giác. Thân tướng giống như câu đà đại thọ. Sáu độ huân tu, ba nghiệp toàn hảo. Đủ nhất thế trí, viên mãn tự lợi lợi tha. Nói gì cũng là vì chúng sinh. Nói không vô ích, làm đại sư tử họ Thích. Kiên cố, dũng mãnh, hoàn thiện tám pháp giải thoát.

    Nay con tùy khả năng của mình mà tán dương chút ít phẩm chất của đức Thế tôn. Việc ấy chỉ như muỗi mòng uống nước biển cả. Nhưng con xin đem cái phước này hồi hướng cho tất cả chúng sinh, nguyện cùng vĩnh ly sinh tử khổ, thành tựu vô thượng đạo.

    Đức Thế tôn bảo Đại biện tài thiên nữ, lành thay thiện nữ ; thiện nữ tu tập đã lâu và có đại hùng biện, nay lại trình bày sự tán dương đối với Như lai. Việc này làm cho thiện nữ tốc chứng pháp môn tối thượng, tướng hảo viên minh, ích lợi tất cả.

    [Tạm ngừng]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    [NGÀY 66]

    Phẩm 31 – Ký Thác Kinh Vua

    Khi ấy đức Thế tôn phổ cáo đại hội, gồm có vô lượng bồ tát, nhân loại và chư thiên, rằng các người nên biết, trong vô số đại kiếp, Như lai siêng tu khổ hạnh, mới được cái Pháp cực sâu — cái Pháp làm nhân tố chính yếu cho tuệ giác bồ đề, và nay đã đem nói cho các người. Các người ai có chí dũng mãnh mà cung kính giữ gìn Pháp ấy  ? Như lai nhập niết bàn rồi, đối với Pháp ấy ai là người có khả năng quảng bá lưu thông, làm cho tồn tại lâu dài trên thế giới này  ?

    Trong đại hội, bấy giờ, có sáu mươi câu chi bồ tát và sáu mươi câu chi chư thiên, khác miệng cùng tiếng mà tác bạch như vầy, bạch đức Thế tôn, chúng con ai cũng hân hoan, thích thú, không tiếc tính mạng để kính giữ cái Pháp cực sâu — cái Pháp làm nhân tố chính yếu của tuệ giác bồ đề, mà đức Thế tôn tu hành khổ hạnh trong vô số đại kiếp mới đạt được. Sau khi đức Thế tôn nhập niết bàn, đối với Pháp ấy, chúng con sẽ quảng bá lưu thông, làm cho tồn tại lâu dài trên thế giới này. Các vị đại bồ tát tức thì đối trước đức Thế tôn nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (1) Thế tôn nói chân thật,
    trú ở pháp chân thật :
    chính sự chân thật ấy
    hộ trì cho kinh này.

    (2) Đại bi làm áo giáp,
    đại từ làm đất đứng :
    do từ bi lực ấy
    hộ trì cho kinh này.

    (3) Viên mãn phước tư lương,
    thì sinh trí tư lương ;
    chính sự viên mãn ấy
    hộ trì cho kinh này.

    (4) Chiến thắng các loại ma,
    hủy diệt các tà thuyết,
    loại trừ các ác kiến,
    hộ trì cho kinh này.

    (5) Thiên vương và Đế thích,
    Phạn vương và tám bộ,
    chư thiên thiện thần ấy
    hộ trì cho kinh này.

    (6) Trên đất và trong không,
    ở lâu những chỗ này,
    kính tuân lời Phật dạy
    hộ trì cho kinh này.

    (7) Thích ứng bốn phạn trú,
    trang hoàng bốn thánh đế,
    chiến thắng bốn loại ma,
    hộ trì cho kinh này.

    (8) Hư không thành chất ngại,
    chất ngại thành hư không,
    nhưng Pháp mà Phật giữ
    thì không thể khuynh đảo.

    Bốn vị Thiên vương nghe đức Thế tôn hỏi sự hộ trì Pháp, thì ai cũng tùy hỷ, hộ trì Pháp ấy, và cùng lúc cùng tiếng mà nói chỉnh cú.

    (9) Đối với kinh pháp này,
    chúng con và quyến thuộc
    đều nhất tâm hộ trì
    cho lưu thông rộng rãi.
    Có ai trì kinh này,
    tạo bồ đề chính nhân,
    chúng con từ mọi phía
    hộ vệ và phụng sự.

    Đế thích chắp tay cung kính mà nói chỉnh cú.

    (10) Thế tôn chứng Pháp này,
    rồi muốn báo ơn đức
    nên tuyên thuyết kinh này
    lợi ích cho bồ tát.

    (11) Con đối với Thế tôn
    thường nghĩ sự báo ơn,
    nên hộ vệ kinh này
    cùng những người thọ trì.

    Đỗ sử đa thiên tử chắp tay cung kính mà nói chỉnh cú.

    (12) Thế tôn thuyết kinh này,
    nếu ai thọ trì được
    thì ở ngôi tuệ giác
    mà sinh Đỗ sử đa.

    (13) Thế tôn, con hân hoan
    bỏ lạc thú chư thiên
    mà ở trong Thiệm bộ
    tuyên dương kinh vua này.

    Phạn vương chủ thế giới Sách ha chắp tay cung kính mà nói chỉnh cú.

    (14) Các định có vô lượng,
    các thiền, các giải  thoát,
    toàn xuất từ kinh này,
    nên kinh này phải nói.

    (15) Ngay chỗ nói kinh này,
    con bỏ vui của con,
    để được nghe kinh này,
    thường hộ vệ chỗ ấy.

    Con trai của Ma vương tên là Thương chủ, chắp tay cung kính mà nói chỉnh cú

    (16) Những ai trì kinh này,
    bản kinh thuận chánh hạnh,
    thì không tùy ma hành,
    và diệt trừ ma nghiệp.

    (17) Nên đối với kinh này
    chúng con cũng hộ vệ ;
    chúng con đại tinh tiến
    tùy chỗ mà quảng bá.

    Ma vương chắp tay cung kính mà nói chỉnh cú

    (18) Những ai trì kinh này,
    đàn áp các phiền não,
    thì những người như vậy
    con giữ cho yên vui.

    (19) Những ai giảng kinh này
    thì ma không được dịp ;
    do uy thần Thế tôn
    con sẽ hộ vệ họ.

    Diệu cát tường thiên tử cũng đối trước đức Thế tôn mà nói chỉnh cú.

    (20) Tuệ giác của Thế tôn
    được nói trong kinh này,
    nên ai trì kinh này
    là hiến cúng Thế tôn.

    (21) Con sẽ trì kinh này
    giảng nói cho chư thiên,
    ai cung kính lắng nghe
    thì khuyên đến bồ đề.

    Di lạc từ tôn chắp tay cung kính mà nói chỉnh cú.

    (22) Những ai đứng vững vàng
    nơi bản thể bồ đề,
    thì vì họ con làm
    người bạn không cần mời ;
    cho đến bỏ tính mạng
    mà hộ trì kinh vua.

    (23) Con nghe Pháp này rồi
    trở về Đỗ sử đa,
    do Thế tôn da trì
    mà nói cho nhân thiên.

    Đại ca diếp ba thượng thủ chắp tay cung kính mà nói chỉnh cú.

    (24) Đức Thế tôn đã nói
    rằng con ít trí tuệ,
    nên con tùy sức mình
    mà hộ trì kinh này.

    (25) Ai trì được kinh này
    thì con sẽ thu nhận,
    trao cho từ vô ngại
    cùng với biện vô ngại ([108]),
    và con thường tùy hỷ
    tán dương rằng lành thay.

    Trưởng lão A nan đà chắp tay hướng về đức Thế tôn mà nói chỉnh cú.

    (26) Đích thân từ Thế tôn
    con nghe vô số kinh,
    nhưng chưa từng được nghe
    kinh vua của các kinh.

    (27) Con nghe được kinh này
    là thân nghe trước Ngài,
    ai ưa thích tuệ giác
    con quảng bá cho họ.

    Bấy giờ đức Thế tôn thấy chư vị bồ tát, chư thiên và nhân loại, cùng cả đại hội, ai cũng phát tâm quảng bá hộ vệ kinh vua này, khuyến tiến bồ tát và quảng lợi chúng sinh, nên đức Thế tôn tán dương rằng lành thay, đối với kinh vua này các người chân thành quảng bá được như vậy, đến nỗi sau khi Như lai niết bàn cũng nguyện không để kinh vua này mất đi. Việc làm này chính là nhân tố chính yếu của vô thượng bồ đề, và công đức đạt được thì nói mấy kiếp cũng không cùng tận. Bốn bộ đệ tử của Như lai, và những thiện nam hay thiện nữ khác, biết hiến cúng, tôn kính, sao chép, lưu hành và giải thích đối với kinh vua này, thì công đức đạt được cũng là như vậy. Do vậy, đại hội các người hãy siêng năng thực thi sự khuyến khích của Như lai.

    Bấy giờ cả đại hội nghe đức Thế tôn huấn dụ, thì ai cũng đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành.

    [HẾT]

    Hồi hướng:

      • cho chư Chân Sư và Chánh Pháp được trường tồn trên đất này;
      • cho việc làm vì chúng sinh của chư vị luôn được suông sẻ chóng vánh;
    • cho quốc thái dân an, khắp nơi trên cõi thế đều thoát nạn chiến tranh, bạo động, thiên tai, tật dịch, đói kém, cho mọi người được bình an, hạnh phúc, thịnh vượng, cát tường.
    • Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
      nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
      nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
      vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    • Nếu có thời gian, có thể đọc các bài hồi hướng sâu rộng hơn: Hồi hướng Tịch Thiên, Hạnh Nguyện Vương Phổ Hiền
    • Nếu cảm thấy an lạc chưa muốn ngưng, xin hoan hỉ đáo trở lại ngày một để đọc tiếp.

    <<< Trở lại Lịch Trì Tụng >>>


    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

    Ghi chú

    [Cáo lỗi: so với sách, ghi chú ở đây nhỏ đi một số, vì ghi chú đầu tiên đếm riêng dưới tên kinh]

    ([1]) Chính văn là độc, tụng, thọ, trì, thư tả.

    ([2]) Diệu tràng, Phạn : Ruciraketu. Bản ngài Đàm mô sấm dịch là Tín tướng.

    ([3]) Chính văn là kiếp.

    ([4]) Chính văn là ngã kiến, nhân kiến, chúng sinh, thọ giả, dưỡng dục, tà kiến, ngã ngã sở kiến, đoạn thường kiến.

    ([5]) Hiến cúng (cúng dường = cung dưỡng) có 3 : một là lợi hiến cúng : hiến dâng cúng phẩm ; hai là kính hiến cúng : kính trọng đủ cách ; ba là tu hiến cúng : thực hành thiện căn (luận Đại trang nghiêm, Chính 39/198).

    ([6]) Chính văn là căn tánh ý lạc và thắng giải.

    ([7]) Chính văn là thị giáo lợi hỷ.

    ([8]) Chính văn là thập nhị phần giáo.

    ([9]) Chính văn ở đây là khí lượng : dung lượng của đồ chứa. Trình độ của chúng sinh là như khí lượng : tùy khả năng mà tiếp nhận Phật pháp khác nhau.

    ([10]) Cảnh trí : tâm trí như gương. Không phải chỉ là đại viên cảnh trí, mà ở đây chỉ cho vô phân biệt trí.

    ([11]) Như như : như nhau như nhau. Chính nghĩa là vô phân biệt.

    ([12]) Chính văn là tự tha, chính xác thì nên dịch là chủ thể khách thể.

    ([13]) Những định không còn tư tưởng và cảm giác, như vô tưởng định, diệt tận định.

    ([14]) Không ảnh là hình ảnh có ra là có trong không gian, nhờ không gian ; nếu không có khoảng trống thì chẳng hình ảnh nào có được.

    ([15]) Cũng nên nói bất trụ sinh tử nữa (Chính 39/217).

    ([16]) Chính văn là hành pháp : cái pháp có tính cách chuyển biến (tức hữu vi).

    ([17]) Thật ra nên nói cả 10 địa nữa, vì đây là tha thọ dụng thân.

    ([18]) Chính văn là tướng cập tướng xứ, Chính 39/222 nói là nhân ngã pháp ngã. Tôi nghĩ hơi khác ; tướng là ngã pháp, tướng xứ là y tha phần nhiễm. Do vậy, đáng lẽ tướng cập tướng xứ nên dịch là ảo giác và căn cứ của ảo giác.

    ([19]) Niết bàn và đường đến niết bàn.

    ([20]) Thân này là thân này đây, thân chúng ta đây, mà nói chính xác là cái “thắng thân” (thân hơn bình thường), cái thân “đạo khí” (đồ chứa đựng Phật pháp) mà ghi chú 21 nói. Coi thêm ghi chú ấy.

    ([21]) Chính văn là thị thân nhân duyên cảnh giới xứ sở quả y ư bản. Theo Chính 39/223, thân (bản thân) là quả báo được cái thắng thân làm đồ chứa đựng chánh pháp, và đó là dị thục quả. Nhân duyên (yếu tố) là thắng thiện đã tu trong đời trước, và đó là tăng thượng quả. Cảnh giới (đối cảnh) là bồ đề và niết bàn, sở duyên của đẳng lưu quả. Xứ sở (đối tượng) là đại bồ đề mà sĩ dụng quả nguyện cầu. Quả y ư bản (kết quả ; nhưng 4 chữ liền lại thành 1 từ ngữ thì phải dịch là căn bản) là ly hệ quả không rời như như lý. Nhưng cách chấm câu như vậy tôi không đồng ý, nên đã chấm câu và dịch như đã dịch.

    ([22]) Chính văn là đại thừa, Như lai tánh, Như lai tạng.

    ([23]) Tự tại là ngã. Ngã trong 4 đức niết bàn của Phật không phải là nghĩa chủ tể (khái niệm về ngã của ngã chấp).

    ([24]) Là 32 tướng tốt, 80 tướng phụ, 18 bất cọng, 10 lực, 4 vô úy, đai bi, 3 niệm, 32 độc đắc. Tham chiếu Chính 39/224-226.

    ([25]) Chính văn ở đây là tướng. Chính văn ở đây là tướng.

    ([26]) Ở đây nghĩa là phi nhị biên.

    ([27]) Là pháp thân, đại định, đại trí.

    ([28]) Chính văn là thế thiện, nói đủ là thế gian thiện căn, đối lại với xuất thế thiện căn.

    ([29]) Có 5 sự : sợ không đủ sống, sợ chết, sợ đường dữ, sợ tiếng dữ, sợ công chúng.

    ([30]) Là trung tính, không thiện, không ác, tản mạn, không kiểm soát.

    ([31]) Dịch đủ là mộng thấy trống vàng ròng phát ra âm thanh diễn đạt diệu pháp sám hối.

    ([32]) Tám nơi là địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh (khổ quá) bắc câu lô (vui quá) cõi trời trường thọ (yên ổn quá) điếc mù câm ngọng, thế trí biện thông (thông minh rất đời) sinh trước hay sau Phật (mà không còn Phật pháp). Đây là 8 nơi gọi là nạn (khó cho sự thấy Phật nghe Pháp) là không rảnh (không có sự tu tập xen vào).

    ([33]) Chính văn là hữu hải, chỉ cho 3 cõi mà tổng kê có 25. Có, hữu, là hiện hữu sinh tử, không phải niết bàn (như ngoại chấp không dưới 3 trong số 25 hữu ấy).

    ([34]) Nói ở phẩm 7 cuốn 5.

    ([35]) Coi  37.

    ([36]) Chính văn là nhân duyên.

    ([37]) Từ số 35 đến đây dịch theo sự sớ giải của Chính 39/245-246.

    ([38]) Đối chiếu văn chỉnh cú (coi ghi chú 39) thì câu này có nghĩa coi các vị bồ tát mới tu cũng như bậc Nhất thế trí (để thân gần, phụng sự, tu học).

    ([39]) Nghĩ, chính văn là tưởng. Phải đổi, vì tưởng đặt ở đây, ngữ khí sẽ có nghĩa ngỡ là, không đúng ý ở đây.

    ([40]) Tướng là người cho, người nhận, vật cho, là mục đích và quả báo. Trú tướng thì chấp có, xả tướng thì chấp không, hồi hướng bố thí mà như vậy thì không chính xác đối với tâm lý và mục đích của sự hồi hướng bố thí.

    ([41]) Chính 39/250 nói, không thể sánh bằng là vì kinh này năng lực làm cho những thắng hạnh ấy được thực hành, nên nói không thể sánh bằng. Không phải những thắng hạnh ấy không thể sánh bằng. Xin thêm rằng đây chỉ là cách đề cao kinh này. Có 11 thắng hạnh không thể sánh bằng. Nhưng câu kết, dịch “thì không thể sánh bằng” khác hẳn nếu dịch “cũng không thể sánh bằng”.

    ([42]) Chữ của chính văn, nhưng không chắc hoàn toàn có nghĩa như ngày nay hiểu.

    ([43]) Tu hành : pháp được tu, không phải tu hành : pháp phải diệt ; ở đây 2 thứ này là của tâm bồ đề (Chính 39/253).

    ([44]) Đúng ra nên nói là phục tạng : Kho tàng ngầm dưới mặt đất mặt nước.

    ([45]) Các hành ở đây là 12 duyên khởi.

    ([46]) Năm chướng nạn là ác thú, ác quỉ, giặc thù, tai họa nước lửa, ba loại khổ não. Mười địa giống nhau.

    ([47]) Ghi chú này có 2 điều Một, văn trước minh chú đổi thứ tự một chút cho thích hợp hơn. Hai, minh chú không chép phiên âm của Hoa văn, vì nhiều chữ tra không ra cách đọc, tra có ra cũng đọc rất khó. Nên ở đây dịch âm từ Phạn tự, và sao lục cả Phạn tự ấy. Phạn tự sao lục từ ghi chú của Chính 16/420-450, còn dịch âm là do Hòa thượng Thích Minh Châu (lưu ý : chữ có R ở giữa thì đọc như chữ Pháp, thí dụ : tra là tr-a, sri là sr-i, v/v) Kinh này có 35 bài minh chú tất cả, và đều làm như vậy.

    ([48]) Dịch đủ là sự ca tụng Phật là công đức ví như hoa sen.

    ([49]) Dịch đúng chính văn là phòng tối (ám thất).

    ([50]) Thức ăn tịnh hắc là thế nào thì không biết, chỉ biết Chính 39/272 nói nhuộm cho đen cũng được. Nhưng tại sao phải là thức ăn màu đen, và tại sao phải ăn lúc mặt trời chưa mọc, thì không thấy xuất xứ trên giải thích.

    ([51]) Thiện phương tiện : phương cách khéo léo. Thắng nhân duyên : yếu tố ưu việt.

    ([52]) Tri giả : chủ thể tri thức. Tác giả : chủ thể hành động.

    ([53]) Tức là điểu táng.

    ([54]) Tật dịch là bịnh dịch, bịnh thời khí, nói chung là bịnh truyền nhiễm.

    ([55]) Đoạn nhỏ này có lược mấy câu.

    ([56]) Chúng sinh có liên hệ với mình, chính văn là hữu duyên chúng sinh.

    ([57]) Tức như nói mất chủ quyền, độc lập.

    ([58]) Tức như nói nhiệt độ gấp đôi.

    ([59]) Chính văn là tịnh thất.

    ([60]) Tịnh thất : cái phòng sạch sẽ.

    ([61]) Cù ma (gomaya) là ngưu phấn. Coi ghi chú 68.

    ([62]) Ngài Nghĩa tịnh tự ghi : Ca li sa ba na (karsapana) đúng ra chỉ là bối xỉ (bối xỉ là vỏ sò, xưa lấy làm tiền tiêu). Nhưng tùy xứ mà chữ ấy có nơi là bối xỉ, có nơi là tiền kim loại. Xứ Ma kiệt đà thì 1 karsapana ăn 1600 bối xỉ (1 bối xỉ ăn 16 hay 19 tiền cổ). Nhưng có Phạn bản chép mỗi ngày cho 100 trần na ra (tiền vàng). Trì chú này thì suốt đời ngày nào cũng được cho như vậy. Ấn độ cầu nguyện đa số linh nghiệm, trừ ra không dốc lòng. (Chính 16/431).

    ([63]) Dịch đủ là như vành bánh xe có cả ngàn cái díp.

    ([64]) Năng lực là đạt được kết quả, đường chính là phi nhị biên, lý thể là chân như, sức mạnh là diệt ác sinh thiện.

    ([65]) Phạn tự của tên 4 vị này như sau : Agate, Satadru, Cyutaprabha, Sutamani.

    ([66]) Dịch Quan thế âm là từ một thuyết khác, và danh hiệu này không đủ, không phải chính phiên (Chính 39/300).

    ([67]) Đây là Phạn văn của 32 vị. Tham chiếu Chính 16/434-435.

    1. xương bồ (vaca) 2. ngưu hoàng (gorocana) 3. mục túc hương (sephalika) 4. xạ hương (mahabhaga) 5. hùng hoàng (manassila) 6. hợp hôn thụ (sirisa) 7. bạch cập (indrahasta) 8. khung cùng (syamaka) 9. câu kỷ căn (sami) 10. tùng chi (sri – vibhitaka) 11. quế bì (tvaca) 12. hương phụ tử (musta) 13. trầm hương (agaru) 14. chiên đàn (candana) 15. linh lăng hương (tagara) 16. đinh tử (  ?) 17. uất kim (knnkuma) 18. bà luật cao (galava) 19. vi hương (naradamsa) 20. trúc hoàng (gorocana) 21. tế đậu khấu (sukumara) 22. cam tùng (misganta) 23. hoắc hương (patna) 24. mao căn hương (usira) 25. sất chi (sallaki) 26. ngải nạp (saileya) 27. an tức hương (guggula) 28. giới tử (sarsapa) 29. mã cân (sophaghni or sosani) 30. long hoa tu (nagakesala) 31. bạch giao (sarjarasa) 32. thanh mộc (kustha).

    ([68]) Phạm văn : Pusya. Kinh cũ gọi là quỉ tinh (Chính 39/302)

    ([69]) Tráng lát nền nhà hay tường vách, đều dùng vật liệu hiện đại, mới sạch sẽ trang trọng.

    ([70]) Đồng tử : giữa tuổi thiếu nhi với thiếu niên.

    ([71]) Ấn với Tàu phân tích tất cả âm điệu có 5 cung bậc, gọi là ngũ âm.

    ([72]) Là mỗi tháng âm lịch mà là nửa sau, tức 16-30. Ngày 9 là 24, ngày 11 là 26.

    ([73]) Là như thủy triều ứng theo mặt trăng.

    ([74]) Là làm cù lao, làm bãi nổi, cho người khỏi bị trôi cuốn.

    ([75]) Chú tán là tán dương bằng minh chú, và minh chú ở đây là hiển ngữ (lời chữ không bí mật).

    ([76]) Là 3 loại thế gian. Thông thường là 1. ngũ uẩn thế gian : thế giới tổng thể, tức 5 uẩn ; 2. chúng sinh thế gian : thế giới chủ thể, tức thọ tưởng hành thức và phần nội sắc ; 3. quốc độ thế gian : thế giới khách thể, tức phần ngoại sắc.

    ([77]) Ngài Nghĩa tịnh ghi chú : Trên đây là minh chú để trì tụng, cũng là minh chú để tán dương. Khi tụng chú thì phải tụng chú tán này trước. (Chính 16/437).

    ([78]) Ngài Nghĩa tịnh ghi chú : Minh chú phẩm này có lược có rộng, có mở có hợp, trước sau bất đồng. Phạn bản có nhiều. Tôi y theo 1 bản mà dịch. Sau này ai tìm hiểu thì phải biết như vậy (Chính 16/437)

    ([79]) 1. Tất cả chỉnh cú đoạn này có thể dịch khác hơn, thí dụ “Kính lạy chư Như lai, bậc hùng biện nhiệm mầu”… Nhưng xét ra không bằng dịch như đã dịch.

    1. Sau đây là một số Phạn văn trong đoạn này : Ô ma : Uma, Tắc kiến đà : Skanda, Ma na tư : Manasi, Thông minh dạ thiên : Ratridevata, Phệ sốt nộ thiên : Visnu, Tì ma thiên nữ : Bhima, Thị số thiên thần : Samkhyayama (  ?), Thất lị thiện nữ : Sisumata, Hê lị : Heli, Ha ri để : Hariti.

    ([80]) Triền : những sự ràng buộc tâm thức, cái : những sự che đậy tâm trí.

    ([81]) Trần tập : tập khí của phiền não.

    ([82]) Mãn tài : Purna – bhadra. Ngũ đỉnh : Pancasikhi.

    ([83]) Thì gian thích hợp lẽ ra là sau lúc bình minh.

    ([84]) Đúng chính văn là tâm chú – Tâm chú cũng như tâm kinh. Bài minh chú tinh túy, cốt lõi, thì gọi là tâm chú.

    ([85]) Là mỗi tháng âm lịch mà là nửa trước. Đối lại, nửa sau gọi là tháng trăng tối.

    ([86]) Coi lại ghi chú 67.

    ([87]) Các pháp có gì là hiện tượng, các pháp là gì là bản thể. Tùy hiện tượng mà biết thì gọi là như lượng trí (cái trí biết hết cái lượng của các pháp). Như bản thể mà biết thì gọi là như lý trí (cái trí biết đúng cái thể của các pháp).

    ([88]) Tra không ra. Đọc mâu thử cũng chỉ đọc theo bán âm. Và theo bán âm này mà suy thì mâu thử có thể là một loại mâu.

    ([89]) Coi lại ghi chú 75.

    ([90]) Đề này, đúng chính văn là chư thiên và dược xoa hộ trì. Nhưng nội dung phẩm này nói tám bộ hộ trì, nhất là bộ chúng dược xoa. Nên Phạn văn chỉ đề Yaksa.

    ([91]) Hành xứ : chỗ đi. Là chỗ Phật biết và Phật làm, gọi là hành xứ của Phật.

    ([92]) Sau đây là Phạn văn những tên trong các bài chỉnh cú 25-41. Hồ vô nhiệt : Anayatapta, Sa yết ra : Sagara, Tô la kim sí chủ : Asura (metri causa), Phệ sốt nộ : Visnu, Diêm la : Yama, Na la diên : Narayama, Tự tại : Mahesvara, Chánh liễu tri : Sanjaya, Kim cương dược xoa : Vajrapani, Bảo vương dược xoa chủ : Manibhadra, Mãn hiền vương : Purnabhadra, Khoáng dã : Atavaka, Kim tì la : Kumbira, Tân độ la : Pingala, Hoàng sắc : Kapila.

    ([93]) Đây là Phạn văn những tên trong các chỉnh cú 43-46. Thái quân : Citrasena, Vi vương : Jinaraja, Thường chiến thắng : Jinarsabha, Châu cảnh : Manikanta, Thanh cảnh : Nilakanta, Bột lý sa vương : Varsadhipati, Đại tối thắng : Mahagrasa, Đại hắc : Mahakala, Tô bạt noa kê xá : Suvarnakesin, Bán chi ca : Pancika, Dương túc : Chagarapada, Đại bà dà : Mahabhaga, Tiểu cừ : Pranali, Hộ pháp : Dharmapala, Di hầu vương : Markada, Châm mao : Suciloma, Nhật chi : Suryamitra, Bảo phát : Ratnakesa, Đại cừ : Mahapranali, Nặc câu la : Nakula, Chiên đàn : Candana, Dục trung thắng : Kamasresta, Xá la : Nagayasas, Tuyết sơn : Hemavanta, Sa đa sơn : Satagiri.

    ([94]) Đây là Phạn văn của các tên trong chỉnh cú 48. A na bà đáp đa : Anavatapta, Sa yết ra : Sagara, Mục chân : Mucilinda, Ế la diệp : Erapata, Nan đà : Nanda, Nan đà nhỏ : Upananda.

    ([95]) Phạn văn các tên trong chỉnh cú 50. Bà trĩ : Vali, La hầu la : Rahula, Tì ma chất đa la : Vemacitra, Mẫu chỉ chiêm bạt ra : Samavara, Đại kiên : Khuraskanda, [bản ấn tống 1994 ngừng sau dấu phẩy, thiếu tên Phạn văn của Hoan Hỷ]

    ([96]) Phạn văn các tên trong chỉnh cú 52 và 53. Ha lị để : Haliti, Chiên trà : Canda, Chiên trà lị : Candalika, Chiên trĩ nữ : Candika, Côn đế : Danti, Câu tra xỉ : Kutadanti, Hút tinh chất chúng sinh : Sarvasattojaharini.

    ([97]) Thực phẩm vào dạ dầy thì một mặt thành đại tiểu thải ra, một mặt thành tự vị nuôi thân. Vị là tư vị ấy.

    ([98]) Ngang đây rõ ràng là thiếu. Mà có thể thiếu không dưới vài ba câu. Đáng lẽ nói thêm và kết thúc về tướng chết, mới nói về thuốc. Ở đây nói liền về thuốc thì không thích đáng. Bản dịch Đàm mô sấm càng không hơn gì.

    ([99]) 3 trái là ha lê lặc ca, ca ma lặc ca, tỉ tỉ đắc ca. 3 cay là can cương, hồ tiêu, tất bát. (Chính 39/326).

    ([100]) Chính văn là câu vật đầu. Có người nói là sen trắng, có người nói là sen hồng, có người nói chưa nở thì trắng, nở rồi hồng đậm. Ở đây ý kiến sen trắng thích hợp hơn.

    ([101]) Đại thế chúa (Mahaprajabati) (?)

    ([102]) Là 5 vị tỷ kheo đầu tiên của Phật.

    ([103]) Có 3 kinh nói đến, tôi chọn 1 : kinh Phạn ma dụ. Kinh ấy nói 8 đặc tính của tiếng Phật là tuyệt diệu, dễ hiểu, sâu xa, dịu ngọt, không dối, không lầm, tuệ giác, điều hòa (Chính 39/337).

    ([104]) Lẽ ra nên nói trái lại.

    ([105]) Đẳng trì : dị danh của định.

    ([106]) Lược bớt 1 ví dụ là sóng nắng (chỉ để cho chỉnh chữ). Ảo tượng, sóng nắng, trăng dưới nước, là biến thể muôn vàn.

    ([107]) Chỗ Phật ở chỗ Phật đi là chân như và tuệ giác chân như.

    ([108]) Từ là lời tiếng (gồm cả ngữ văn). Biện là hùng biện.


    Nguyện bồ đề tâm, vô vàn trân quí
    nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
    nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
    vĩnh viễn tăng trưởng không bao giờ ngừng.

    Mời cùng trì tụng kinh Ánh Sáng Hoàng Kim do Tỷ kheo Thích Trí Quang Việt dịch (từ Hoa Văn)

  • Trừ Bệnh: HỘ LUÂN KIM CANG GIÁP [Protection Wheel of Vajra Armor – Dorje Gotrab]

    Trừ Bệnh: HỘ LUÂN KIM CANG GIÁP [Protection Wheel of Vajra Armor – Dorje Gotrab]

    -Tựa Đề Anh Ngữ (English Title)The Protection Wheel of Vajra Armor, Short & long practices translated and composed by Lama Zopa Rinpoche
    -Đạo Sư (Teacher): Kyabje Lama Zopa Rinpoche
    -Việt ngữ: Hồng Như
    Hạ tải văn bản: Nghi thức dài và ngắn, tiếng Việt <PDF>

    Ghi chú: đây là pháp quán vận dụng năng lực từ bi để sám hối giải ác nghiệp, ác bệnh, ác chướng, tà chướng. Có thể tự hành trì để giải trừ bệnh dữ cho chính mình, hoặc hành trì giúp người khác. Xin lưu ý làm đúng theo điều kiện hành trì.

    Gần đây Lama Zopa Rinpoche khuyên nên tụng chú này để tự bảo vệ mình cùng người quanh mình trước hiểm nạn coronavirus. Xem thêm chi tiết <Trước hiểm nạn Coronavirus>. Trong thời kỳ tối ám tam tai ngũ trược, ác bệnh tràn lan như lốc xoáy, nguyện bài pháp này có thể làm bạn đồng hành, giúp nhiều người tăng nguồn nghị lực, kiên cố trong chánh pháp, chuyển hết ác bệnh ác chướng thành nhân tố đạt giác ngộ.

    Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
    Đệ tử Hồng Như Thubten Munsel.
    02, 2020



    Điều kiện hành trì Mọi người đều có thể hành trì.
    Để quán tưởng mình là bổn tôn Vajrapani, cần thọ những pháp sau đây:
    • Quán đảnh (wang) Vajrapani;
    • hoặc là thọ quán đảnh bất cứ đấng bổn tôn nào thuộc bộ mật tông hành, mật tông du già hay là mật tông tối thượng du già, và pháp jenang của đức Vajrapani;
    • hoặc thọ quán đảnh của bất cứ đấng bổn tôn nào thuộc bộ Như Lai hay Kim Cang của mật tông tác và pháp jenang của đức Vajrapani.
    • Nếu không, hãy quán tưởng đức Vajrapani trên đỉnh đầu, hay trước mặt.

    Hộ Luân Kim Cang Giáp – Nghi thức Ngắn

    rang nyi chhag dor thing nag ngam
    Khởi hiện sắc tướng đức Kim Cang Thủ màu xanh đêm
    [ND. Tự khởi nếu đã có quán đảnh, bằng không quán bổn tôn ở phía trước mặt]
    dor je drül zhag dzin pa yi
    Tay cầm chùy kim cang và thòng lọng
    ku la dur thrö päl chhä dzog
    Thân trang điểm đầy đủ mọi phẩm trang sức nghĩa trang
    zhab zung pä nyir dor tab drä
    Chân sải rộng trên đài sen và mặt trời,
    ye she me pung long du zhug
    Đứng giữa vùng lửa trí tuệ siêu việt chói sáng.
    ku lä me khyung chag dig dang
    Từ nơi thân phóng ra kim sí điểu lửa, bò cạp sắt,
    phag nag lung me tsän dug gi
    heo đen, gió lửa và khí độc
    ngän lung ser lung tshub tar thrö
    mãnh liệt như cuồng phong bão đá
    nä rim dön geg lag par sam
    Tiêu trừ mọi ác bệnh, tật dịch, tà chướng, ác chướng.

    HUM VAJRA PHAT! OM PÄDMA SHAWA RI PHAT / NÄN PAR SHIG / NAGA NÄN/ TAD YA THA / SARVA BI RI TA / HANA HANA / VAJRE NA RAKSHA RAKSHA SVAHA
    [Hung bên-za pây / ôm pê-ma sa-wa ri pây / nên pa-xừng / na-ga-nên /

    ta-ya-tha / sạt-wa / bê-rê-ta / ha-na ha-na / bên zê na / rak-sa rak-sa / sô-ha]

    Có thể tụng được bao nhiêu thì tụng bấy nhiêu. Tụng xong, [thổi vào] nước để gia trì. Rồi uống và xoa bằng nước này. <LZR:  Cũng có thể tụng chú rồi thổi vào kem, hay bơ, rồi xoa lên chỗ da bị nhiễm>. Tu mỗi ngày thì thổi vào lỗ mũi  <LZR: Tụng chú xong đặt hai tay trước miệng và thổi lên để khí đi vào lỗ mũi.> 

    Khi hoàn tất thời công phu, hãy nghĩ rằng tất cả mọi tật bệnh, tà chướng, ác chướng đều bị tiêu diệt triệt để. Trú tâm một lúc trong pháp thiền chân tánh, siêu việt đối tượng và chủ thể của sự hộ trì.

    Từ trong tánh không, khởi hiện sắc tướng Bổn tôn [ND. Tự khởi nếu đã có quán đảnh, bằng không quán bổn tôn trên đầu hay phía trước mặt].

    Rồi phát nguyện, hồi hướng, và nguyện cát tường

    Với thiện căn công đức / của con và chúng sinh / của chư Phật, Bồ Tát, / tích lũy từ ba thời / nguyện tất cả những ai / thấy, nghe hay nhớ nghĩ / hay là chạm vào con, / có bao nhiêu nguyện ước, / nguyện con như là cây / hay như ngọc như ý / làm cho mọi ước nguyện / đều rốt ráo viên thành.

    Nguyện ác nghiệp ác chướng tích lũy từ vô thủy sinh tử liền tức thì thanh tịnh. Nguyện khởi tâm bồ đề, quí người hơn bản thân. Nguyện minh quang đại thủ ấn dễ dàng khởi trong tâm, mau chóng thành tựu quả vô thượng bồ đề.

    Tóm lại nguyện làm / vui lòng đạo sư, // Đa văn hiểu thấu / ý thật của Phật// Mà khéo vượt qua / bến bờ bên kia // Hoằng dương Pháp Phật / ở khắp mười phương.

    Bài pháp này do Jñana trích từ Bánh Xe Tối Oai Nộ Hộ Trì Gốc Rễ Thành Tựu, để dùng làm pháp tu hàng ngày

    Xuất xứ bản gốc: Hồi hướng do người mang tên Thupten Zopa viết ra để cho [TD. thân người]  ung sung sung mãn trở nên có ý nghĩa.
    Xuất xứ ấn bản Anh ngữ: Đầu tiên là Lama Zopa Rinpoche chuyển Anh ngữ vào tháng 3, 2003 và Holly Ansett chép văn bản. Kendall Magnussen nhuận văn tháng 8, 2011, dựa vào văn bản tương tự do Ven. Thubten Pemba dịch, tháng 05, 2009. Ba câu hồi hướng do Fabrizio Pallotti Champa Pelgye, chuyển Anh ngữ, 2014. Phiên âm minh chú: Ven. Tenzin Tsomo and Joona Repo, FPMT Education Services, May 2019. Soát bản văn Joona Repo, FPMT Translation Services, August 2019.
    Ấn bản Việt ngữ: Hồng Như Thupten Munsel dịch và thực hiện. Bản dịch đầu 2006. Cập nhật theo ấn bản Anh ngữ FPMT-2011: năm 2016. Cập nhật theo ấn bản FPMT-2019 – thêm hình đức Vajrapani từ FPMT gửi ra: 02, 2020,



    Pháp Quán Hộ Luân Kim Cang Giáp – Nghi thức dài

    1. Qui Y –  Phát Tâm Bồ Đề  [Refuge – Bodhicitta]

    Nơi Phật, nơi Pháp / cùng Tăng tôn quí
    Cho đến bồ đề / xin về qui y
    Nhờ công đức tu / sáu hạnh toàn hảo
    Nguyện vì chúng sinh / đạt quả vị Phật. (3x)

    2. Tám Thi Kệ Chuyển Tâm  [8 Verses Mind Training]

    1. Với quyết tâm thành tựu / lợi lạc lớn lao nhất / nhờ tất cả chúng sinh, / tôi nguyện luôn giữ gìn / chúng sinh trong đáy tim, / vì chúng sinh quí hơn / cả bảo châu như ý.
    2. Khi gặp gỡ tiếp xúc / với bất kỳ một ai, / nguyện tôi luôn thấy mình / là kẻ thấp kém nhất; / từ đáy lòng chân thật / luôn tôn kính mọi người / như kính bậc tối cao.
    3. Nguyện trong từng hành động / tôi luôn tự xét mình. / Phiền não vừa dấy lên, / đe dọa mình và người, / nguyện tức thì nhận diện, / và tức thì dẹp tan.
    4. Khi gặp người hiểm ác / vì bị tâm phiền não / và ác nghiệp tác động, / nguyện tôi quí người ấy / như vừa tìm ra được / kho tàng trân quí nhất.
    5. Khi gặp người vì lòng / ganh ghen và đố kỵ / miệt thị phỉ báng tôi, / nguyện tôi nhận phần thua, / nhường đi mọi phần thắng.
    6. Khi gặp người mà tôi / giúp đỡ, đặt kỳ vọng, / lại vong ân bội nghĩa / gây tổn hại cho tôi, / nguyện tôi xem người ấy / là một đấng tôn sư.
    7. Tóm lại tôi xin nguyện / trực tiếp và gián tiếp / trao tặng mọi lợi lạc / cho tất cả chúng sinh / đều là mẹ của tôi / từ vô lượng kiếp trước. / Nguyện âm thầm gánh chịu / mọi ác nghiệp khổ não / thay thế cho chúng sinh.
    8. Nguyện những điều nói trên / không bị vướng ô nhiễm / bởi tám ngọn gió chướng. / Nguyện tôi thấy mọi sự / hiện ra trong cõi đời / đều chỉ như huyễn mộng / cho tâm thôi chấp bám / thoát ràng buộc luân hồi.

    3. Tứ Vô Lượng Tâm [Four Immeasurable]

    Ước gì  chúng sinh / trú tâm đại xả / không gần vì luyến, / không xa vì thù.
    Nguyện cho chúng sinh / trú nơi tâm này.
    Tôi sẽ khiến họ / trú nơi tâm này.
    Đức Phật – Đạo sư / xin hãy gia lực / cho con đủ sức / làm nên việc này

    Ước gì chúng sinh / đạt quả vị Phật.
           [LZR đổi chữ “tìm được hạnh phúc…” thành “chữ “đạt quả vị Phật” 

    Nguyện cho chúng sinh / đạt quả vị Phật.
    Tôi sẽ khiến họ / đạt quả Phật
    Đức Phật – Đạo sư / xin hãy gia lực / cho con đủ sức / làm nên việc này.

    Ước gì chúng sinh / thoát hết khổ đau / cùng nhân tạo khổ
    Nguyện khắp chúng sinh / thoát hết khổ đau / cùng nhân tạo khổ
    Tôi sẽ khiến họ / thoát hết khổ đau / cùng nhân tạo khổ
    Đức Phật – Đạo sư / xin hãy gia lực / cho con đủ sức / làm nên việc này.

    Ước gì chúng sinh / không lìa niềm vui / thiện đạo, giải thoát
    Nguyện cho chúng sinh / không lìa niềm vui.
    Tôi sẽ khiến họ / không lìa niềm vui
    Đức Phật – Đạo sư / xin hãy gia lực / cho con đủ sức / làm nên việc này

    4. Pháp Quán Cho và Nhận  [Tong-len]

    [Hãy khởi tâm từ bi vô lượng đối với chúng sinh, nghĩ rằng:]

    “Thật tốt biết bao nếu tất cả chúng sinh đều thoát khỏi khổ đau và thoát cả nguyên nhân tạo khổ.”

    Gánh hết khổ nạn của chúng sinh về phần mình, nhất là khổ vì bệnh, khổ vì người thân. Nhận lãnh mọi khổ đau, mọi nguyên nhân tạo khổ, mọi mê muội tối ám—là điều không ai mong cầu— gom thành một khối ô nhiễm, tan vào tâm ngã ái. Ngã ái bị hủy diệt triệt để, và cái “ngã” mà tâm ngã ái này bám vào, cho rằng quí giá lắm, bây giờ trở thành không. Trú tâm vào nơi tánh không này càng lâu càng tốt.

    Khi tu pháp nhận, nên dành một ít thời gian để quán tánh không. Thỉnh thoảng mở lòng từ ái, mang thân thể, tài sản, ba thời công đức, cống hiến cho chúng sinh, đặc biệt là những ai thù ghét ta. Tuy vậy, chủ yếu vẫn là dành thời gian cho pháp nhận.

    5. Diệt Ngã Ái [Destroying the Self-Cherishing Thought]

    <LZR: Điều cần phải nhớ rõ, cần thường xuyên tự nhắc nhở mình như sau>

    Mọi khổ nạn đều phát sinh từ ngã ái. Mọi vấn đề xảy ra đều là do ngã ái ban tặng, chẳng việc gì  tôi phải nhận chịu. Vậy tôi nay hoàn trả về lại cho tâm ngã ái, cho ngã ái chịu khổ một mình.

    Bất cứ lúc nào, hễ gặp khổ nạn, quí vị cứ hãy làm theo như vậy. Cố gắng nhận diện ngã ái, dùng làm vũ khí diệt sạch ngã ái bằng cách trả mọi khổ nạn về lại cho nó.

    Mỗi khi gặp khổ nạn, thay vì thống trách hoàn cảnh bên ngoài, hãy nên trách tâm ngã ái, mang hết mọi vấn đề hoàn trả lại cho ngã ái. Phải luôn thấy ngã ái chính là kẻ thù độc hại nhất của ta, phải lánh xa như lánh rắn độc. Được vậy  bất kể gặp bao nhiêu vấn đề, dù to như quả địa cầu, dù nhiều như bão đá, liền tức khắc vấn đề đã không còn là vấn đề. Đó là pháp chuyển tâm Đại thừa trọng yếu bậc nhất, làm cách  nào chận đứng tức thì mọi vấn đề.

    6. Quán Tưởng  [Visualisation]

    Quán tưởng đức bổn tôn như trong tranh, là một với mọi đấng đạo sư mà quí vị đã chọn nương theo và đã kết nối [ví dụ đã thọ pháp dưới danh nghĩa đạo sư đệ tử]

    [Đức Vajrapani màu xanh đêm, vô cùng oai nộ, tay cầm chùy kim cang và rắn thòng lọng. Thân tướng nhiệm mầu của Ngài được trang điểm đầy đủ mọi phẩm trang sức nghĩa trang. Chân sải rộng trên đài sen và mặt trời, Ngài đứng giữa vùng lửa trí tuệ siêu việt chói sáng. Từ nơi thân Ngài phóng ra kim sí điểu lửa, bò cạp sắt, heo đen, gió, và lửa, với sức mạnh cuồng phong mãnh liệt như bão đá, tiêu diệt mọi ác bệnh, tật dịch, tà chướng, ác chướng.]

    7. Tụng Chú [Mantra Recitation]

    Trong khi tụng chú, dòng cam lồ ngũ sắc rót vào năm điểm khác nhau trên thân thể quí vị: sắc trắng từ trán, đỏ từ cổ, xanh dương từ tim, vàng từ bụng dưới, và xanh lá từ chỗ kín. Dòng cam lồ ngũ sắc này thanh tịnh năm loại phiền não, thanh tịnh mọi tập khí phiền não, mọi ác nghiệp do phiền não mà có, mọi mê muội, mọi ác nghiệp tích tụ từ vô lượng đời kiếp, mọi tật bịnh do long thần hay các loại tà ma ác quỉ tác hại. Tất cả đều thoát ra ngoài từ các lỗ chân lông và các cửa dưới, dưới dạng nước đen bẩn như khi giặt tắm. Tiếp theo, mọi tật bịnh—như bịnh ung thư hay các chứng bịnh ác hiểm khác mà quí vị đang phải chịu—đều thoát ra ngoài dưới dạng súc vật, rắn, ếch và các loài vật sống dưới biển.

    Minh Chú Hộ Luân Kim Cang Giáp [Dorje Gotrab Mantra]

    HUM VAJRA PHAT! OM PÄDMA SHAWA RI PHAT / NÄN PAR SHIG / NAGA NÄN/ TAD YA THA / SARVA BI RI TA / HANA HANA / VAJRE NA RAKSHA RAKSHA SVAHA

    <LZR: Mỗi lần tụng một tràng hạt 108 chú thì có 87 chú cho người tụng và 21 cho chúng sinh. Thổi vào nước sau khi tụng. Còn một cách khác, nấu nước rồi cho vào bình hay hủ lớn (hay bất cứ vật chứa gì khác) đặt trước mặt, quán tưởng dòng cam lồ ngũ sắc xuất ra từ Kim Cang Giáp, tan vào trong nước. Thổi vào nước thêm một lần nữa.>

    Khởi niềm tự tin rằng chắc nước này bây giờ trở thành nước cam lồ của đại trí vô thượng, đại bi vô lượng, và đại dũng lực có khả năng tức thì thanh tịnh và hàng phục mọi tật bịnh—như chứng ung thư hay tất cả mọi ác bịnh nào khác mà quí vị đang có—cùng tất cả  nhiễm tâm.

    Tụng xong một chuỗi hạt lại thổi vào nước. Cứ làm như vậy mỗi ngày bao nhiêu thời cũng được—ba hay bốn thời. Mỗi thời từ một đến một tiếng rưỡi đồng hồ hay nhiều hơn, phải cố gắng tiếp tục sám hối như vậy và gia trì cho nước.

    8. Pháp Quán Hoàn Tất [Concluding visualization]

    Cuối thời công phu, tất cả ác nghiệp tật bịnh tuôn ra dưới nhiều sắc dạng khác nhau, giờ chất lại như núi quanh quí vị, che lấp hết cõi địa cầu. Dưới chỗ quí vị ngồi, đất nẻ chín tầng sâu. Diêm Vương hiện ra, há miệng. Tất cả chui vào miệng Diêm Vương và đều biến thành nước cam lồ. Diêm Vương thập phần hoan hỉ, chày vàng kim cang niêm kín miệng, quay về chỗ ở của mình, rất xa nơi này, không thể nào trở lại. Đất khi nãy nẻ ra bây giờ khép lại liền lạc. Làm vậy thì pháp tu này sẽ là pháp trường thọ.

    9. Hồi Hướng  [Dedication]

    Bồ đề tâm trân quí
    Nơi nào chưa có, nguyện cho phát sinh; 
    Nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển; 
    Vĩnh viễn tăng trưởng, không bao giờ ngừng.

    Bài hồi hướng này Lama Zopa Rinpoche có nhiều cách triển khai khác nhau, phổ thông nhất là:

    Nương công đức ba thời / của con cũng như của / vô số Phật, bồ tát, / và vô số chúng sinh / nguyện cho bồ đề tâm / sinh trong tim chúng sinh / ở khắp cả sáu cõi / đặc biệt là trong tim / người cõi thế gian này, / bao gồm chúng đệ tử / thí chủ, thiện nguyện viên / ở FPMT, / người nương dựa vào con, / người mà con đã hứa / sẽ cầu nguyện giúp cho, / người đưa tên cho con. / Nguyện cho bồ đề tâm / sinh trong tim của con, / của thân nhân, gia đình / của người còn, kẻ mất. Nguyện cho bồ đề tâm / nơi nào đã khởi sinh / sẽ luôn luôn tăng trưởng.

    <LZR: Tưởng tượng cống hiến hết thân khẩu và ý của mình, cùng mọi sở hữu, tài sản, công đức ba thời, mọi quả an lạc hạnh phúc cho đến tận quả giác ngộ, mang hết ra cống hiến cho chúng sinh cõi địa ngục v.v…, cho khắp cả chúng sinh>

    Tất cả mọi nghiệp khổ / mà chúng sinh phải chịu / nguyện đổ về nơi con.  / Tất cả mọi công đức / mà con tích tụ được / nguyện hồi hướng chúng sinh.

    Với công đức ba thời / của con và chúng sinh, / của chư Phật, Bồ Tát, / nguyện mọi việc con làm / không bao giờ gây hại / nhỏ nhoi nào cho ai / ngược lại tạo lợi ích / cho tất cả mọi người.

    Đời sống dù có là  / khổ đau hay hạnh phúc / nguyện luôn làm nhân tố / cho tất cả chúng sinh / sớm đạt quả giác ngộ.

    Với công đức ba thời / của con và chúng sinh / của chư Phật, Bồ Tát,  / nguyện bao nhiêu chúng sinh / đang chịu nhiều bịnh khổ, / hoặc gặp chứng ung thư, / hoặc gặp chứng truyền nhiễm, / hoặc đeo nặng ác nghiệp / phải chịu quả tật bịnh, / những chúng sinh như vậy / nguyện cùng được thoát hết, / vĩnh viễn không bao giờ / phải chịu cảnh ốm đau.

    Với công đức ba thời / của con và chúng sinh, / của chư Phật, Bồ Tát,  / —thực chất chỉ là Không— / nguyện cho bản thân con  / —thực chất chỉ là Không—  / đạt địa vị toàn giác / của đạo sư pháp chủ / —thực chất chỉ là Không— / nguyện cho bản thân con / —thực chất chỉ là không / dựa vào sức một người  / mà dẫn dắt chúng sinh / —thực chất chỉ là Không— / mau chóng đạt giác ngộ / —thực chất chỉ là Không.

    Hướng dẫn hành trì [Practice Advice]

    Liên tục hành trì công phu này mỗi ngày ít nhất là một thời, nhiều hơn càng tốt. Nhắp ba, bốn, hay năm ngụm nước đầy sau mỗi thời công phu, nghĩ rằng tất cả mọi ác bịnh đều được thanh tịnh, và cả nguyên nhân của tật bịnh—là ác nghiệp, vọng tâm và phiền não—cũng đều được thanh tịnh. Sau khi uống nước, hãy nghĩ rằng mình vừa nhận được trí toàn giác viên mãn, được tâm từ bi vô lượng che khắp chúng sinh hữu tình, và được tất cả mọi tánh đức vô lượng của bậc chánh đẳng chánh giác.

    Đây là một trong những câu minh chú có năng lực hóa giải nghiệp ung thư mãnh liệt nhất, và cũng thường được dùng để giải trừ các loại nghiệp gây ác bịnh khác, giải nghiệp tà ma ám hại. Đọc minh chú này nhiều lần mỗi ngày có thể có được khả năng chữa bịnh cho người khác. Đọc tụng minh chú này để gia trì cho nước, rồi dùng nước ấy cho người bịnh uống.

    Xuất xứ:

    Nghi Thức này (bản Anh ngữ) do Lama Thubten Zopa Rinpoche soạn tại Genting, Malaysia, tháng 04/1997. Ven. Jampa Lundrup đánh máy và nhuận văn. Kendall Magnussen nhuận văn tháng 8, 2011. Phần để trong “[ ]” mô tả sắc tướng bổn tôn được trích từ nghi thức ngắn, thêm vào đây cho tiện việc hành trì.

    Phiên âm chú: . Tenzin Tsomo and Joona Repo, FPMT Education Services, May 2019. Các bài kệ sau đây được cập nhật: Quy y – Phát tâm bồ đề, Tám Thi Kệ Chuyển Tâm, Tứ Vô Lượng Tâm và bài hồi hướng đầu tiên và cuối cùng, tháng 10, 2019.

    Ấn bản Việt ngữ: Hồng Như Thupten Munsel dịch và thực hiện. Bản dịch đầu 2006. Cập nhật theo ấn bản Anh ngữ FPMT-2011: năm 2016. Cập nhật theo ấn bản FPMT-2019 – thêm hình: 02, 2020



  • Lama Zopa Rinpoche: ĐẠI BI TRƯỜNG CHÚ [có audio]

    Lama Zopa Rinpoche: ĐẠI BI TRƯỜNG CHÚ [có audio]

    -Đạo Sư (Teacher): Kyabje Lama Zopa Rinpoche giảng và tụng
    -Việt ngữ: Hồng Như dịch phần giảng
    Hạ tải văn bản <pdf>

    (more…)

  • Lama Zopa Rinpoche: HƯỚNG DẪN TU TONG-LEN ĐỂ PHÁT TÂM TỪ BI

    Lama Zopa Rinpoche: HƯỚNG DẪN TU TONG-LEN ĐỂ PHÁT TÂM TỪ BI

    The Preliminary Practice of Tong-len (click to access the English version)
    -Lama Zopa Rinpoche hướng dẫn tu Ngondro – Tong-len
    -Đạo Sư (Teacher ): Kyabje Lama Zopa Rinpoche (2006) –
    -Việt ngữ (translation): Hồng Như, bản dịch tháng 2 năm 2018

    (more…)