Tag: Kinh Pháp Hoa

  • KINH PHÁP HOA – Thượng nhân Thích Trí Quang dịch giải

    Lược Dẫn & Cuốn 1 | Cuốn 2 | Cuốn 3 | Cuốn 4 | Cuốn 5 | Cuốn 6 | Cuốn 7 | Phẩm Phổ Hiền | Kinh Pháp Hoa Toát Yếu |

    [1]

    KINH PHÁP HOA
    (Hoa Sen Của Chánh Pháp) 
    Phần CHÍNH VĂN
    Tỷ kheo Thích Trí Quang dịch

    Ký hiệu (cho lời lược dẫn)
    LƯỢC DẪN
    Lược nói chủ ý
    Lược xét văn bản
    Lược trình toàn văn
    Lược phân đại ý
    Lược nói đương cơ
    Lược điểm chi tiết
    Lược nói hiệu lực
    Lược giải đề kinh

    CUỐN 1
    Phẩm 1: Mở đầu
    Phẩm 2: Phương tiện

    Ký hiệu (cho lời lược dẫn)

    C : Đại tạng kinh bản Đại chính tân tu, thí dụ | C10/20t, là đại tạng ấy, tập 10, trang 20, khoảng trên (g: giữa, d : dưới). V : Tục tạng kinh bản chữ Vạn, thí dụ V10/20a, là tục tạng ấy, tập 10, tờ 20, mặt trước (b : mặt sau).

    CV : Chính văn, tức Diệu pháp liên hoa kinh của ngài La thập dịch, top

    hường gọi là CV, nằm trong C9/1-62.

    HD : Chánh pháp hoa kinh của ngài Pháp hộ dịch, thường gọi là Tấn dịch, nằm trong C9/63-134.

    ĐD : Thiêm phẩm Diệu pháp liên hoa kinh của các ngài Xà na quật đa và Cấp đa dịch, thường gọi là Tùy dịch, nằm trong C9/134-196.

    KD : Anh dịch Pháp hoa của Kern (bản dịch Việt văn của Lệ pháp Nguyễn Công Luận), tức Saddharma pundarika.

    PT : luận Pháp hoa (Diệu pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá) của bồ tát Thế thân, nằm trong
    C36/1-19.

    PB : Phật học đại từ điển của Đinh Phúc Bảo.

    PQ : Phật quang đại từ điển.


    LƯỢC DẪN

    Lược nói chủ ý

    Không có dịch phẩm nào của tôi dịch chữ Hoa và chữ Hoa Việt ra chữ Việt nhiều bằng Pháp Hoa. Không những cốt làm cho bớt nặng nề mà cốt vì một số chữ quen dùng nên hóa ra không hiểu hay hiểu sai: kiếp là số kiếp, duyên là duyên nợ, phổ môn là… phổ môn, vân vân. Thế nhưng trong các bản in 1 (với ảnh bìa Phổ Hiền), bản in 2 (với ảnh bìa Thế Chí), bản in 3 ( với ảnh bìa Hoa sen), bản in 4 (ở hải ngoại, với bìa Pháp luân), vẫn để nguyên vài chỗ, như 10 như thị, vân vân. Nay thì vài chỗ ấy cũng dịch cả. Lại chữa vài chữ cho thích đáng, thí dụ cúng dường (cung dưỡng) đã dịch là hiến cúng, nay có chỗ chữa là phụng sự, vân vân. Ngoài ra, những từ ngữ nói về số nhiều cũng phải chú ý. Một số để nguyên. Một số để nguyên mà còn dịch rõ hơn. Nhưng một số phải dịch gọn mới nói lên khái niệm nhiều, rất nhiều và cực nhiều.

    Kế đến, các bản in trước đây không chú trọng lược giải mà chỉ ghi chú và phụ lục. Nay thì lược giải gồm có ghi chú, phụ lục, lược giải và toát yếu. Do vậy, bản chữa lần này là định bản, gồm có hai tập, có thể in chung mà cũng có thể in riêng: Tập 1 gọi là phần chính văn, gồm có chính văn kinh Pháp Hoa, phụ lục phẩm Phổ Hiền và toát yếu kinh Pháp Hoa. Vì nhiều lý do, tôi không dịch hay dịch lược kinh Vô Lượng Nghĩa và kinh Quán Phổ Hiền, là 2 kinh hay được gồm với Pháp Hoa mà gọi là Pháp Hoa tam kinh. Tập 2 gọi là phần lược giải nội dung mới nói ở trên; ở đây xin nói thêm rằng chủ ý lược giải của tôi, nhất là ghi chú, cốt làm sáng ý của chính văn, vì chính văn có mấy chỗ chuyển văn hay chuyển ý mà rất cần phải tìm hiểu.

    Với tuổi đời 76, sức yếu, mắt kém, nhưng tôi ráng hiến cúng Pháp Hoa lần chót để như là tụng kinh lần chót, hồi hướng cho cha mẹ, sư trưởng, thiện hữu, tín thí, cho đồng loại và chúng sinh.

    Lược xét văn bản

    Pháp hoa có 3 bản dịch, nằm cả trong C9/1-198. Bản thứ nhất là Tần dịch (CV), bản thứ hai là Tấn dịch (HD), bản thứ ba là Tùy dịch (ĐD). Hãy lược xét về 3 văn bản ấy.

    Nói về thì gian thì HD có sớm nhất (288 dương lịch), CV tiếp theo (406 dương lịch), ĐD có sau đó (601 dương lịch).

    Nói về Phạn bản thì có thể suy đoán CV có sớm nhất, HD có tiếp theo, ĐD có sau đó. Hãy coi thêm các tiểu mục dưới đây.

    Nói về Phạn bản của CV thì bài tựa của ĐD (không có tên tác giả, nằm trong C9/134) suy đoán là bản Qui tư. Nhưng tài liệu này không nói rõ là Phạn văn lưu hành ở Qui tự hay là văn tự Qui tư. Còn tài liệu khác, C51/54t, thì nói Pháp hoa mà ngài La thập dịch là được truyền dạy bởi thầy ngài, tôn giả Tu lị da tô ma (Soryasoma), có nghĩa Phạn bản của CV là Phạn văn Ấn độ. Phạn bản của HD thì lời tựa ĐD suy đoán là bản Đa la (Đa la diệp: Lá đa la ?). Phạn bản của ĐD thì lời tựa tự cho cũng là bản Đa lạ.

    Nói về nội dung thì mục lược trình toàn văn sau đây sẽ nói. Ở đây chỉ nói rằng tôi suy đoán

    Phạn bản của CV có sớm và thuần hơn, đặc biệt tương đồng với PT (luận Pháp Hoa của ngài Thế Thân) hơn cả. Còn Phạn bản của HD và của ĐD, thêm nữa của KD, thì rõ ràng có chậm lắm, thêm thắt không ít, và những chỗ thêm thắt ấy không thích đáng với phong cách Pháp Hoa cả văn lẫn ý. Lời tựa của ĐD nói CV thiếu thì đáng lẽ phải nói các bản khác thêm và thừa (trừ chỉnh cú phẩm Phổ môn khá thích đáng, nhưng KD lại thêm hơn và vì vậy mà không đáng có).

    Nói về giá trị thì CV dĩ nhiên đặc tôn. Nhưng HD có cái sở trường là dịch từ ngữ, không đối chiếu với HD thì có những từ ngữ của CV sẽ bị hiểu lầm. Tức như từ ngữ châu giao lộ man mà không hiểu giao lộ mới là gạch nối. Còn ĐD thì chỉ thêm mấy chỗ mà lời tựa cho là thiếu (nhưng vẫn không đủ bằng HD), ngoài ra, toàn bộ chỉ sao lại CV, nên chẳng có giá trị bao nhiêu.

    Lược trình toàn văn

    Thật ra nên nói CV có 2 bản: CV nguyên hữu và CV bổ sung. Nguyên hữu là y nguyên của ngài La Thập dịch. Bổ sung là sau này thêm vào 2 chỗ.

    Đây là toàn văn CV nguyên hữu, trích và kê theo Pháp Hoa sớ (V150/396-412, được viết năm 432) của ngài Đạo Sinh (355-434, đứng đầu tứ kiệt của học đồ ngài La Thập) : phẩm 1 Mở đầu, phẩm 2 Phương tiện, phẩm 3 Ví dụ, phẩm 4 Tin hiểu, phẩm 5 Cây cỏ, phẩm 6 Thọ ký, phẩm 7 Tương quan xa xưa, phẩm 8 Năm trăm đệ tử tiếp nhận thọ ký, phẩm 9 Thọ ký cho các vị tu học tiếp tục và tu học hoàn tất, phẩm 10 Người diễn giảng Pháp Hoa, phẩm 11 Bảo tháp xuất hiện, phẩm 12 Kính giữ Pháp Hoa, phẩm 13 Sống yên vui, phẩm 14 Từ đất xuất hiện, phẩm 15 Sự sống lâu của đức Thế Tôn, phẩm 16 Phân tích thành quả, phẩm 17 Thành quả tùy hỷ, phẩm 18 Thành quả của người diễn giảng Pháp Hoa, phẩm 19 Bồ tát Thường bất Khinh, phẩm 20 Sức thần của đức Thế Tôn, phẩm 21 Giao phó trọng trách, phẩm 22 Việc cũ của bồ tát Dược Vương, phẩm 23 Bồ tát Diệu Âm, phẩm 24 Quan Âm đại sĩ: vị Toàn diện, phẩm 25 Tổng trì minh chú, phẩm 26 Việc cũ của Diệu Trang Nghiêm Vương, phẩm 27 Sự khuyến khích của bồ tát Phổ Hiền.

    CV nguyên hữu, như vậy, là rất gọn gàng và sáng sủa. Còn CV bổ sung thì thêm vào 2 chỗ: một, sau phẩm 11 thêm phẩm Đề bà đạt đa thành phẩm 12, và do vậy CV bổ sung có 28 phẩm; hai, phẩm 24 thêm phần chỉnh cú. Thế nhưng CV bổ sung lại là bản Pháp Hoa lưu hành, và có thể là định bản. Việc bổ sung 2 chỗ thành Pháp Hoa lưu hành và định bản này không rõ ai làm, lịch sử và dã sử đều chưa tìm thấy, chỉ xét thấy việc làm khá có ý thức, và phải có sau thời ngài Pháp Vân (467-529) viết Pháp Hoa ký (cũng giải thích CV nguyên hữu, làm cho kinh này thành vấn đề và có học thuyết hơn trước).

    Nay lại đối chiếu với HD, ĐD và KD để thấy CV bổ sung không có những gì nữa. Thì ngoài 2 chỗ bổ sung nói trên, còn có 5 chỗ nữa CV bổ sung không có, đó là không có nửa sau của phẩm Cây cỏ (điều này rất giống PT, vì ở đó không có cái ví dụ như nửa sau ấy), là không có 3 chỗ như HD, ở trong các phẩm 8, 10 và 11 (ghi theo số hiệu các phẩm của CV bổ sung), là không có 7 bài chỉnh cú nữa ở trong phẩm 25 như KD. Những chỗ không có trên đây (mà tôi nói không có, không nói là thiếu) sẽ được ghi chú và phụ lục ngay nơi mỗi chỗ, và đủ hơn cả lời tựa đầy nhược điểm của ĐD.

    Đến đây xin kết luận rằng, may, rất may, CV bổ sung chỉ có 2 chỗ như đã ghi.

    Lược phân đại ý

    Toàn văn CV bổ sung, như đã thấy, có 28 phẩm. Xét thẳng ý chính của 28 phẩm ấy, ta có thể, và nên, hệ thống hóa như sau, cực kỳ đơn giản. Phẩm 1 là ngài Di Lạc phát khởi. Phẩm 28 là ngài Phổ Hiền kết thúc. Còn 26 phẩm giữa thì chia làm 2 đại bộ phận. Đại bộ phận 1 gồm các phẩm 2-9, nói về nhất thừa. Đại bộ phận 2 gồm các phẩm 10-27, nói về sự quảng bá nhất thừa.

    Pháp Hoa cốt nói nhất thừa. Nhất thừa ở đây là Pháp Hoa. Pháp Hoa không công nhận La hán (hay Duyên giác) là cứu cánh. Pháp Hoa nói Phật xuất thế để làm cho người làm Phật. Phật không có đệ tử Thanh văn, chỉ có đệ tử Bồ tát. Thanh văn chỉ là phương tiện. Phương tiện ở đây có 2 nghĩa: Thanh văn chỉ là Phật phương tiện thiết lập, chỉ là nửa đường đi đến Phật.

    Bằng nhiều cách, Pháp Hoa xác quyết nhất thừa như vậy, trong đại bộ phận 1. Qua đại bộ phận 2, càng bằng nhiều cách, Pháp Hoa nói quảng bá như thế nào về nhất thừa, lại bổ túc nhiều mặt cho đại bộ phận 1.

    Cũng có thể bỏ sự hệ thống hóa đi, chỉ nhìn cái thế liên hoàn của 28 phẩm, càng có thể thấy, không như kinh khác, Pháp Hoa có lắm văn và ý độc đáo và đặc tôn.

    Lược nói đương cơ

    Một người hướng dẫn giỏi, dẫn một đoàn người vượt qua con đường hiểm mà dài để đến chỗ vàng ngọc. Nửa đường họ muốn trở lui. Người hướng dẫn phải tạo ra một đô thành giả cho họ nghỉ. Nghỉ thế mà họ cho là an toàn và đến rồi. Người hướng dẫn hủy diệt đô thành ấy, và bảo họ phải đi tới nữa: sắp đến chỗ vàng ngọc rồi.

    Phật cũng vậy. Đã hướng dẫn đệ tử, mà chủ yếu là Thanh văn, đến cái niết bàn của La hán rồi thì nay, ở Pháp Hoa, xác quyết rằng niết bàn ấy chỉ là giả thiết. Và rằng Phật xuất thế để đưa người làm Phật. Phật mới cứu cánh. Do vậy mà Thanh văn thành ra đương cơ, đối thoại chủ yếu của Pháp Hoa.

    Thế nhưng vẫn có một số Thanh văn tăng thượng mạn: tự thị La hán đã là cứu cánh. Loạn hơn, họ cho Phật cũng chỉ là La hán—dầu chính nguyên thỉ và tiểu thừa cũng nói, không như La hán, Phật có 10 lực, 4 vô úy, 18 bất cọng, đại bi tam niệm, tam bất hộ, vân vân. Do vậy, Thanh văn tăng thượng mạn không là đương cơ của Pháp Hoa. Họ rời khỏi đại hội Pháp Hoa ngay từ đầu—dầu sau đó Phật vẫn theo đuổi giáo hóa cho họ cũng được làm Phật. Còn lại là chư vị Thanh văn có thể trở thành Bồ tát, tự tín làm Phật. Họ là đương cơ của Pháp Hoa. Pháp Hoa không như Duy ma nói Thanh văn là mầm hư giống hỏng, tuyệt phần nhất thừa; Pháp Hoa nói, từ lâu và mãi hoài, Phật giáo hóa nhất thừa cho Thanh văn. Thanh văn thời Phật, hay sau đó và sau này, bao kiếp đi nữa rồi ra ai cũng làm Phật, không ai cố định là La hán.

    Lược điểm chi tiết

    Như đã nói Pháp Hoa có lắm văn và ý độc đáo và đặc tôn. Nhưng ở đây chỉ nêu lên một số cần thiết để làm sáng thêm đại ý của Pháp Hoa.

    Trước hết là Phật quan, Pháp Hoa khái niệm về Phật rất độc đáo. Cái gọi là đức Phật trong lịch sử, cái gọi là đức Phật cửu viễn thật thành, cái gọi là đức Phật phi sinh phi diệt, theo Pháp Hoa, toàn là Thích Ca. Phật không nhập diệt. Cái nhân bồ tát hạnh của Phật làm cho sự sống lâu của Phật đã không bao giờ hết. Phật ở bên ta. Ta không thấy Phật chỉ vì ta thấy là thấy sống chết mà Phật thì phi sinh diệt. Nhưng mù nên không thấy mặt trời mà vẫn sống nhờ ánh sáng của nó. Ta không thấy Phật nhưng ơn hóa độ của Phật không rời bỏ ta, ta vẫn luôn luôn được hưởng. Phật quan của Pháp Hoa là như vậy.

    Thứ hai là Pháp quan. Khái niệm 10 như vậy (hay 5 gì) về cái gọi là thật tướng, đã khá độc đáo trong văn cũng như ý, vì khái niệm như vậy thì Pháp chính là bản thân và thuộc tính của Phật. Nhưng rõ ràng hơn, chỉnh cú 101 và 102 của phẩm 2, tuy nói cả tánh đức và tu đức mà vẫn rõ ràng đề cao tu đức, khi nói giống Phật cũng phát từ các yếu tố. Pháp Hoa là như vậy, không những nói Pháp là đương xứ tiện thị, mà dẫu vì vốn và vẫn trong sáng nên tu được, nhưng tu mới là điều Pháp Hoa khuyến phát và đôn đốc.

    Thứ ba là Niết bàn. Pháp Hoa không công nhận tiểu thừa là không công nhận niết bàn của tiểu thừa. Pháp Hoa nói niết bàn ấy chỉ giải thoát hư ảo, chưa thật niết bàn, vì giải thoát mà chưa được tuệ giác vô thượng. Khái niệm không những phủ nhận niết bàn của tiểu thừa mà còn không cho niết bàn chỉ là đoạn đức. Niết bàn phải đủ hết đoạn đức trí đức và ân đức. Tựa như đứa con vẫn là đứa con, nhưng bỏ cha mà đi là con dại, biết cha mà nhận là con thật. Lăng nghiêm nói cánh tay vẫn là cánh tay, chỉ vì chỉ xuống nên gọi là ngược, khi chỉ lên thì gọi là xuôi. Niết bàn của Pháp Hoa là như vậy: hoạt dụng hơn cả sinh tử, với biết bao bất tư nghị nghiệp, khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến.

    Thứ tư là Nhất thừa. Pháp Hoa nói tam thừa là phương tiện, nói nhất thừa mới chân thật, cách nói nào cũng nói lên cái khái niệm “ai cũng có thể làm Phật”: tất cả Thanh văn đều được thọ ký làm Phật, và bất cứ người nào, và chỉ niệm Phật một tiếng đi nữa, rồi ra cũng làm Phật cả. Ý nghĩa này rất quan trọng, vì không những tu hành tiểu thừa cuối cùng cũng làm Phật, mà một điều thiện nhỏ nhặt đến mấy cũng không vô hiệu quả, vô lượng thì gian cũng không mất đi, và cuối cùng sẽ làm Phật tất cả. Chính trong ý nghĩa này mà ngài Đạo Sinh nhận định đầu tiên rằng Pháp Hoa là vạn thiện đồng quy. Pháp Hoa nhất thừa cao đến tột đỉnh mà lại bao trùm hết thảy.

    Thứ năm là Thanh văn. Thanh văn chủ yếu là hai bộ đại Tăng, có loại còn tu học có loại hết tu học, và có bốn đạo quả mà tột bậc là La Hán. Pháp Hoa nói về Thanh văn càng độc đáo. Tất cả Thanh văn, thời Phật cũng như thời nay và sau này, toàn đã là đệ tử của Phật – của vị Sa di Bồ tát thứ 16. Chưa hết, Thanh văn còn là “nội bí Bồ tát hạnh, ngoại hiện Thanh văn tướng.” Pháp Hoa thọ ký làm Phật cho Thanh văn, điều này kinh động tiểu thừa quá lắm, vì như thế là không công nhận La Hán đã cứu cánh, niết bàn của La Hán, dầu hữu dư (chỉ hết tập đế) dầu vô dư (hết cả khổ đế) đều chưa thật niết bàn. Thanh văn, kể cả Thanh văn La hán, tự cho đã cứu cánh thì bị Pháp Hoa gọi là kẻ Tăng thượng mạn. Thế nên tất cả Thanh văn phải, và có thể, làm Phật: đó là chủ ý của Pháp Hoa. Vì vậy mà đối tượng chính yếu của Pháp Hoa là Thanh văn, cũng vì vậy mà Pháp Hoa không công nhận có một loại Thanh văn cố định, vĩnh viễn không chuyển hướng đại thừa.

    Thứ sáu là Duyên giác. Phạn tự pratyeka buddha, ngoài chữ Duyên giác (giác ngộ đạo lý duyên khởi) còn dịch là Độc giác (độc lực giác ngộ đạo lý duyên khởi). Tra cứu cách nói của các danh tác thuộc cả đại thừa tiểu thừa và nguyên thỉ thì thấy nói Duyên giác có nhiều loại. Nhưng nói thế nào cũng không minh bạch Duyên giác là đệ tử của Phật, Phật có giáo pháp huấn dụ riêng cho, và giáo pháp ấy gọi là Duyên giác thừa. Trái lại, xét cách nói thì thấy Phật giáo thừa nhận có người đời trước hay những đời trước gặp Phật hoặc Phật pháp nên đời này không gặp mà vẫn tự ngộ tương đương với đạo lý duyên khởi. Pháp Hoa thì không thấy Phật thọ ký làm Phật cho ai gọi là Duyên giác. Thế nhưng Pháp Hoa nói đến Duyên giác lại minh bạch các vị này cũng là đệ tử của Phật, minh bạch có cái gọi là Duyên giác thừa. Không dưới vài chỗ nói ai cầu Thanh văn thì Phật nói cho 4 chân lý, ai cầu Duyên giác thì Phật nói cho 12 duyên khởi, ai cầu Bồ tát thì Phật nói cho 6 ba la mật. Phẩm 3 lại nói như sau về tam thừa, “Người nào theo Phật nghe Pháp mà tin tưởng tiếp nhận, thiết tha tinh tiến, nhưng ước muốn cấp tốc thoát ra 3 cõi nên cầu tự niết bàn, đó là theo cỗ xe Thanh văn. Người nào theo Phật nghe Pháp mà tin tưởng tiếp nhận, thiết tha tinh tiến, nhưng cầu tuệ giác tự nhiên, thích đơn độc, khéo vắng lặng, biết sâu nguyên lý duyên khởi của các pháp, đó là theo cỗ xe Duyên giác. Người nào theo Phật nghe Pháp mà tin tưởng tiếp nhận, thiết tha tinh tiến, nhưng cầu tuệ giác hoàn toàn, tuệ giác Phật đà, tuệ giác tự nhiên, tuệ giác không thầy, nói tóm là cầu sự thấy biết của Phật mà nội dung có đủ các phẩm chất như 10 đại năng lực, 4 sự không sợ, và cầu như vậy là vì thương tưởng, muốn đem lại sự yên vui cho vô số chúng sinh, cứu độ cho hết thảy, đó là theo cỗ xe vĩ đại. Bồ tát cầu cỗ xe vĩ đại ấy nên gọi là bậc vĩ đại”. Ngoài đoạn văn trên đây, phẩm 7 nói đức Trí Thắng mà cũng như nói đức Thích Ca, rằng Phật nói 4 chân lý rồi nói rộng thành 12 duyên khởi. Vậy có thể nói thế này: dầu 12 duyên khởi là Phật quảng diễn 4 chân lý, nhưng đối tượng là cho những người có trình độ hơn Thanh văn. Thế nhưng quả vị Duyên giác dẫu hơn Thanh văn về gì đi nữa cũng chỉ chứng niết bàn với trạng huống hữu dư và vô dư, với tận trí và vô sinh trí. Như vậy Duyên giác cũng là La hán mà đặc biệt một chút về trình độ thôi. Và trong Pháp Hoa thì Duyên giác được nói riêng vì trình độ ấy, nhưng vẫn bao gồm trong Thanh văn khi nói về đối tượng đương cơ của Pháp Hoa, về sự thọ ký làm Phật ở đó.

    Thứ bảy là Bồ tát. Một ít khái niệm về Bồ tát của Pháp Hoa càng phải chú ý. Một, rất đơn giản, Bồ tát có 2 loại cần nói: loại mới phát tâm chí (sơ phát tâm) và loại không còn thoái chuyển (bất thoái). Loại trước thì thấp nhất là Càn tuệ địa, cao nhất là Phát tâm trú; loại sau là Cực hỷ địa sắp lên. Hai, loại trước rất quan trọng, vì từ căn bản, Bồ tát phải có tâm chí xuất từ sự tự tín có thể làm Phật. Ba, Phật xuất thế cốt làm cho ai cũng làm Phật, do vậy, Pháp Hoa nói rõ, Phật chỉ có đệ tử Bồ tát, không có đệ tử Thanh văn. Nói cách khác, Pháp Hoa không công nhận có loại Thanh văn cố định là Thanh văn; Thanh văn nào rồi cũng là Bồ tát và được thọ ký làm Phật. Bốn, Bồ tát, đúng ra là tư cách Bồ tát (Bồ tát chủng tánh), mới được nói cho Pháp Hoa, thế nên cuối cùng, khi thấy Thanh văn đã có thể chuyển ra Bồ tát thì Phật nói cho Pháp Hoa. Thêm nữa, Pháp Hoa còn có một loại Bồ tát mà bản (gốc gác) và tích (dấu vết) đều rất cao. Thí dụ các ngài Quan Âm, Diệu Âm, Dược Vương, Văn Thù… Thí dụ các vị Bồ tát từ đất xuất hiện… Nhưng nói Bồ tát thì phải nói Bồ tát hạnh (việc làm của Bồ tát). Bồ tát hạnh mà Pháp Hoa nói thì tổng quát là “tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh” (làm sạch thế giới, làm nên chúng sinh).

    Thứ tám là thọ ký. Thọ ký là trao cho lời biết trước, lời phán quyết, lời ghi nhận. Thọ ký ở đây là Phật thọ ký cho làm Phật. Sự thọ ký này xác quyết ai cũng sẽ làm Phật, đặc biệt các vị Thanh văn La hán phải làm Phật mới là cứu cánh. Thế nên 5.000 người rời khỏi đại hội Pháp Hoa khi Phật sắp xác quyết La hán là giả thiết, Phật đà mới tột bậc. Họ là tăng thượng mạn, tự cho đã là cứu cánh. Họ không thể đương cơ Pháp Hoa, dẫu sau đó bao nhiêu đời kiếp đi nữa Phật vẫn theo đuổi giáo hóa cho họ cũng được làm Phật (không có vấn đề họ cố định là họ). Ngoài họ ra, Phật đã thọ ký cho tất cả Thanh văn, không phân giới tính và trình độ. Không những thọ ký cho Thanh văn, Pháp Hoa còn có mấy sự thọ ký nữa rất đặc thù. Thọ ký cho Đề bà đạt Đa để thấy cực ác cũng vẫn có thể sẽ làm Phật. Long Nữ thì Phật chứng kiến cho làm Phật để thấy bộ loại, giới tính và tuổi tác, không là chướng ngại cho sự làm Phật. Rồi Bồ tát Thường bất Khinh nói không dám khinh ai, ai cũng sẽ làm Phật, thì đó là điều mà Bồ tát Thế Thân ghi cũng là sự thọ ký. Sau hết, phải ghi nhận cũng là sự thọ ký về lời Phật nói sau đây, trong phẩm 10, “Dược Vương, sau khi Như Lai nhập diệt, nếu có người nào nghe kinh Pháp Hoa, thì dẫu chỉ nghe được một bài chỉnh cú, một câu đủ nghĩa, hay đến nỗi chỉ có được một ý niệm tùy hỷ mà thôi, Như Lai cũng thọ ký cho tất cả sẽ được tuệ giác vô thượng”.

    Thứ chín là kỳ vĩ. Pháp Hoa có lắm sự kỳ lạ, vĩ đại, tiêu biểu sâu xa cho ý nghĩa của kinh này. Trước hết hãy nói thêm về Phật, về đức Bổn sư Thích Ca. Đặc biệt phẩm 16, ở đó nói Phật ở cạnh ta; đỉnh Linh sơn là tịnh độ của Phật mà lửa hoại kiếp cũng không thiêu hủy được; Phật biểu hiện qua thân và việc mình hoặc qua thân và việc khác; Phật phi tồn tại phi nhập diệt, phi là một phi khác nhau; quả báo Bồ tát hạnh của Phật cũng đã làm cho Phật có thọ lượng bất tận. Phẩm 11 nói phân thân ở hướng đông của Phật mà đã ngồi đầy một thế giới Phật lớn đến ba ngàn hai trăm vạn ức lần trăm triệu quốc độ. Phẩm 7 nói tất cả đệ tử thời Phật, sau đó và sau này, toàn là đệ tử của Phật, Phật bao giờ cũng đeo đuổi giáo hóa cho bằng nhất thừa. Qua những cách nói trên đây cho thấy, không những cái thuyết 3 thân mà chính cái nghĩa bản tích cũng không đủ để nói, và nói rất khéo, về Phật. Điều phải chú ý là những cách nói này cho thấy Phật nói cho Pháp Hoa là quan trọng, nhưng quan trọng hơn nữa là Phật làm cho ta đến được trình độ để Phật nói cho Pháp Hoa. Bổ khuyết cho điều này, kinh Địa Tạng còn nói Phật biểu hiện mọi thân hình và mọi cảnh vật có tác dụng hóa độ; luận Khởi tín nói Phật biểu hiện đến cả tôi tớ và kẻ thù; “không phải biểu hiện chỉ có thân Phật”.

    Ngoài sự kỳ vĩ trên đây của đức Bổn sư, Pháp Hoa còn có sự xuất hiện của bảo tháp và toàn thân của đức Đa Bảo, xuất hiện với phong cách đến nỗi thuyết cửu triệt nói Đa Bảo là “bản Phật”, là pháp thân. Còn có ngài Thường bất Khinh, rất đơn sơ, đáng mến và gần gũi. Còn có hằng hà sa Bồ tát dũng xuất. Còn có thần dụng của các giác quan do cha mẹ sinh ra. Còn có Đề Bà được thọ ký và ai nghe Pháp Hoa nói về việc này mà không hoài nghi hay lầm lẫn thì sinh ra ở đâu cũng được nghe thuyết Pháp Hoa. Còn có Long Nữ không khác bao nhiêu với thiên nữ trong kinh Duy Ma (dầu ở đó Thanh văn than mình là mầm hư giống hỏng đối với đại thừa, không như trong Pháp Hoa Thanh văn được thọ ký làm Phật).

    Thứ mười là bà con. Pháp Hoa trọng thị sự liên hệ với nhau, nhất là liên hệ thành thân quyến (bà con thế gian) rồi thành pháp quyến (bà con Phật pháp). Phẩm 1, nhất là phẩm 7, chưa nói phẩm 27, không những là thân quyến, là pháp quyến, mà còn là khởi đầu về Pháp Hoa của đức Bổn sư. Sau này Lương Hoàng Sám đặc biệt đề cao cái gọi là “bồ đề quyến thuộc”, còn Cảnh Sách nguyện “bách kiếp thiên sinh đồng vi pháp lữ”, thì quả thật rất phù hợp với Pháp Hoa.

    Thứ mười một là quảng bá. Trước hết Pháp Hoa trọng thị sự thọ trì đọc tụng vị thuyết thư tả là vì Pháp Hoa đề cao sự quảng bá Pháp Hoa. Pháp Hoa còn đặc biệt đề cao sự tùy hỷ, nhất là 3 yếu tố và 4 cách sống. Riêng 3 yếu tố thật đáng cảm, “muốn thuyết Pháp Hoa thì hãy vào nhà của Phật, mặc áo của Phật, ngồi chỗ của Phật”. Quảng bá Pháp Hoa là như vậy, nên người làm việc này được Phật nói là “sứ giả của Như Lai làm việc của Như Lai”.

    Lược nói hiệu lực

    Pháp hạnh Pháp Hoa đem lại tướng tốt (mà Pháp Hoa rất trọng thị tướng tốt ấy, coi các phẩm 18, 28 và 23 thì biết), không bệnh tật, không chết yểu, sống mà chiêm bao cũng đẹp, hơi thở như hương sen, “ước nguyện không vô hiệu quả”. Nên khi chết thì được “cả ngàn đức Phật trao tay cho”, rồi hoặc sinh Cực lạc của đức Di Đà (phẩm 23) hoặc sinh Đâu suất của đức Di Lạc (phẩm 28) hoặc sinh Đao lợi (cũng phẩm 28) hoặc sinh trong nhân loại chư thiên hay trước chư Phật (phẩm 12). “Cả ngàn đức Phật trao tay cho”, điều này rất quan trọng, so sánh được với người niệm Phật thì lâm chung được Phật tiếp dẫn như thế nào.

     Lược giải đề kinh

    HD là Chánh Pháp Hoa, CV là Diệu Pháp Liên Hoa, đều có từ gốc Phạn tự Saddharma pundarika. Chánh pháp hay Diệu pháp là chỉ cho Nhất thừa (xác quyết ai cũng làm Phật). Nhất thừa ấy ví dụ như hoa sen. Hoa sen ở đây là thế nào?

    Một, khởi đầu như ngài Tăng Duệ giải thích hoa sen ở đây là phân đà lị (pundarika), là hoa sen mà nở đúng độ, không phải mới nở hay đã tàn. Đem Nhất thừa ví dụ như hoa sen ấy là nói sự viên mãn (C9/62).

    Hai, ngay khi mới thành đạo, Phật đã đem hoa sen ví dụ cho chúng sinh: có kẻ như hoa sen ngoi ra khỏi bùn, có kẻ như hoa sen ngoi lên nửa nước, có kẻ như hoa sen ngoi lên mặt nước, có kẻ như hoa sen ngoi lên khỏi mặt nước và nở ra. Nói theo ý nghĩa “vạn thiện đồng qui” thì Nhất thừa chẳng phải chỉ làm cho chúng sinh làm Phật, mà còn làm cho chúng sinh ngoi ra khỏi bùn cho đến ngoi lên mặt nước. Thế Thân đại sĩ nói càng sát ý Pháp Hoa, rằng hoa sen ở đây là lấy sự ngoi lên và nở ra: Nhất thừa làm cho Thanh văn ngoi lên khỏi bùn nước Tiểu thừa mà tín giải pháp thân của Phật (C26/3t). Pháp thân ở đây ngôn ngữ Pháp Hoa gọi là Phật tri kiến.

    Ba, thế nhưng chính trong phẩm 2, Phật nói Nhất thừa hiếm có như hoa ưu đàm. Ưu đàm là ưu đàm bát la (udumbara) mà nay có người nói tên khoa học là ficus glomerata. Ưu đàm là hoa thiêng quí hiếm hay là ficus glomerata thì tôi tồn nghi. Nhưng điều chắc chắn là ưu đàm không thể không liên hệ gì với hoa sen.

    Do vài điều sơ lược trên đây mà ít ra cũng biết nói hoa sen nhân quả đồng thời (mà thật ra đâu phải chỉ hoa sen mới là như vậy) chỉ là ý kiến mới có từ trung diệp bách kỷ 6.

    *

    Đến đây có thể tạm ngưng được để nói như lược lại, rằng tu học Pháp Hoa thì phải thấy mấy điều sau đây. Một, thấy chính cái thế giới này là tịnh độ của Phật. Phật thuyết Pháp Hoa tại Linh sơn thì Linh sơn là tịnh độ của Phật. Tịnh độ của Phật là đương xứ tiện thị: ở đâu và lúc nào cũng là tịnh độ của Phật. Hai, thấy Phật không nhập diệt. Phật siêu sống chết, siêu thì gian và không gian. Phật luôn luôn ở bên ta, trên ta và trong ta. Cái thấy của ta không cục bộ thì thế là thấy Phật. Ba, thấy đạo lý Pháp Hoa là “như vậy”: biểu hiện, đặc tính, bản thể, năng lực, động tác, nhân tố, duyên tố, kết quả, hình thành, toàn bộ, hết thảy các mặt của các pháp toàn là “như vậy”: toàn là Pháp Hoa. Nói ngay ta đây, tất cả những gì là ta thì chính tất cả những gì ấy là Phật, như cả cái cánh tay đang chỉ xuống chính là cả cái cánh tay sẽ chỉ lên. Bốn, thấy ta cũng từng là đệ tử của Phật, không của ngài Thường Bất Khinh thì của vị Sa di Bồ tát thứ 16. Năm, thấy làm gì cũng không vô hiệu quả: một câu con tôn kính Phật, một lời giới thiệu Pháp Hoa, rồi ra cũng làm Phật cả. Sáu, tu học Pháp Hoa là vào nhà Phật, mặc áo Phật, ngồi chỗ Phật. Bảy, chết thì được chư Phật trao tay cho, rồi sinh chỗ đức Di Đà, chỗ đức Di Lạc, sinh lại tại thế giới này, chưa kể chỉ sao chép ấn hành Pháp Hoa cũng sinh Đao lợi, kỳ lạ nữa là nghe kẻ cực ác được thọ ký mà tin hiểu chính xác thì hết còn đọa lạc đường dữ, sinh trong nhân loại hay chư thiên, sinh trước chư Phật.

    Rằm tháng 2, 2542 (3, 1998)

    TRÍ QUANG


    CUỐN 1

    Ngưỡng bạch Phật Pháp Tăng vô tận Tam bảo từ bi chứng minh. Đệ tử chúng con nguyện vì bản thân, vì cha mẹ bà con, vì người thân kẻ thù, vì mọi người và vì chúng sinh, trì tụng kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa.

    Mở đầu tụng kinh Pháp Hoa, chúng con xin kính lạy:

    Kính lạy kinh Diệu Pháp Liên Hoa, bản kinh của tuệ giác bình đẳng vĩ đại, bản kinh cho Bồ tát và được Phật giữ gìn. Kính lạy tất cả Pháp bảo trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ.

    Kính lạy đức Thích Ca Mâu Ni, đức Phật giáo chủ bổn sư, đã tuyên thuyết kinh Pháp Hoa. Kính lạy đức Đa Bảo, đức Phật đã làm chứng cho kinh Pháp Hoa toàn là chân thật. Kính lạy đức Di Lạc, đức Phật đương lai, đã phát khởi kinh Pháp Hoa và tiếp dẫn những người hành trì Pháp Hoa vãng sinh Đâu Suất tịnh độ. Kính lạy tất cả Phật bảo trong kinh Pháp Hoa, trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ.

    Kính lạy Bồ tát Văn Thù, vị Pháp sư Pháp Hoa. Kính lạy Bồ tát Phổ Hiền, vị khuyến phát Pháp Hoa. Kính lạy Bồ tát Quan Âm, vị Đại sĩ toàn diện. Kính lạy tất cả Tăng bảo là các vị Bồ tát, các vị Duyên giác và các vị Thanh văn trong kinh Pháp Hoa, trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ. 


    KINH PHÁP HOA

    Phẩm 1: Mở đầu

    Tôi nghe như vầy. Một thời đức Thế Tôn ở trong đỉnh Linh sơn, thuộc thành Vương Xá, cùng chúng đại Tỷ kheo mười hai ngàn vị, toàn là những bậc A La Hán mà sự sơ hở đã được tận diệt, sự phiền não không còn tái sanh, đã đạt được sự ích lợi của bản thân, đã dứt hết sự ràng buộc vào hiện hữu, tâm trí tự tại giải thoát. Tên các vị ấy là tôn giả Kiều Trần Như, tôn giả Đại Ca Diếp, tôn giả Tần Loa Ca Diếp, tôn giả Già Da Ca Diếp, tôn giả Na Đề Ca Diếp, tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả Mục Kiền Liên, tôn giả Ca Chiên Diên, tôn giả A Nâu Lâu Đà, tôn giả Kiếp Tân Na, tôn giả Kiều Phạm Ba Đề, tôn giả Ly Bà Đa, tôn giả Tất Lăng Già, tôn giả Bạc Câu La, tôn giả Câu Hy La, tôn giả Nan Đà, tôn giả Tôn Đà Ra Nan Đà, tôn giả Phú Lâu Na, tôn giả Tu Bồ Đề, tôn giả A Nan Đà, tôn giả La Hầu La, đại loại như vậy, những vị A La Hán mà mọi người đều biết. Lại có hai ngàn vị tu học tiếp tục và tu học hoàn tất, có Tỷ kheo ni Đại Thắng Sinh Chủ cùng với sáu ngàn người tùy thuộc, có thân mẫu tôn giả La Hầu La là Tỷ kheo ni Trì Dự cùng với những người tùy thuộc, đều đến tụ tập.

    Chúng đại Bồ tát có tám mươi ngàn, toàn là những vị không thoái chuyển đối với tuệ giác vô thượng, được các pháp tổng trì, được các tài hùng biện mà trong đó có sự biện thuyết hoan hỷ, biện thuyết về pháp không thoái chuyển; đã phụng sự vô lượng trăm ngàn chư Phật, vun trồng các gốc rễ công đức ở nơi chư Phật ấy, và thường được chư Phật ấy tán dương; sửa mình bằng đức tính từ bi, khéo nhập vào tuệ giác Phật đà, thông suốt tuệ giác vĩ đại, đạt đến bờ bến bên kia; danh tiếng vang khắp vô lượng quốc độ, hoá độ vô số trăm ngàn chúng sanh. Tên các vị ấy là Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát Quan Thế Âm, Bồ tát Đại Thế Chí, Bồ tát Thường Tinh Tấn, Bồ tát Bất Hưu Tức, Bồ tát Bảo Chưởng, Bồ tát Dược Vương, Bồ tát Dũng Thí, Bồ tát Bảo Nguyệt, Bồ tát Nguyệt Quang, Bồ tát Mãn Nguyệt, Bồ tát Đại Lực, Bồ tát Vô Lượng Lực, Bồ tát Việt Tam Giới, Bồ tát Hiền Hộ, Bồ tát Di Lạc, Bồ tát Bảo Tích, Bồ tát Đạo Sư, đại loại như vậy, tám mươi ngàn vị đại bồ tát đều đến tụ tập.

    Chư Thiên thì có Đế Thích cùng hai mươi ngàn thiên nhân tùy thuộc; Nguyệt thiên tử, Phổ Hương thiên tử, Bảo Quang thiên tử, và bốn vị đại thiên vương, cùng mười hai ngàn thiên nhân tùy thuộc; Tự Tại thiên tử và Đại Tự Tại thiên tử cùng ba mươi ngàn thiên nhân tùy thuộc; Phạn vương chủ thế giới hệ Kham nhẫn, cùng các Phạn vương đại loại Phạn vương Thi Khí, Phạn vương Quang Minh, và hai mươi ngàn thiên nhân tùy thuộc, đều đến tụ tập. Các bộ khác thì có tám Long vương là Hỷ, Hiền Hỷ, Diêm Hải, Cửu Đầu, Đa Thiệt, Vô Nhiệt Não, Từ Tâm và Hồng Liên Hoa, mỗi vị cùng mấy trăm ngàn tùy thuộc; có bốn Khẩn na la vương là Pháp và Diệu Pháp, Đại Pháp và Trì Pháp, mỗi vị cùng mấy trăm ngàn tùy thuộc; có bốn Càn thát bà vương là Nhạc và Nhạc Âm, Mỹ và Mỹ Âm, mỗi vị cùng mấy trăm ngày tùy thuộc; có bốn A tu la vương là Tối Thắng, Dục Cẩm, Yến Cư và Hấp Khí, mỗi vị cùng mấy trăm ngàn tùy thuộc; có bốn Ca lâu la vương là Đại Uy Đức, Đại Thân, Đại Mãn và Như Ý, mỗi vị cùng mấy trăm ngày tùy thuộc, đều đến tụ tập.

    Nhân loại thì có con Hoàng hậu Vi Đề Hy là Hoàng đế A Xà Thế, cùng mấy trăm ngàn tùy thuộc, cũng đến tụ tập.

    Tất cả các chúng trên đây, mỗi chúng đảnh lễ ngang chân đức Thế tôn, rồi lui lại mà ngồi mỗi chúng một chỗ.

    Vào lúc này, đức Thế Tôn được bốn chúng vây quanh, hiến cúng, cung kính, tôn trọng, tán dương. Ngài nói cho các vị Bồ tát bản kinh Đại thừa tên Nghĩa Vô Lượng, bản kinh dạy cho Bồ tát và được Phật giữ gìn. Nói kinh ấy rồi, đức Thế Tôn vẫn ngồi xếp bằng ở ngay giữa đại hội mà nhập định. Vị trí của Nghĩa Vô Lượng, thân thể và tâm trí đều không dao động. Ngay khi ấy chư thiên mưa xuống hoa mạn đà, hoa mạn đà lớn, hoa mạn thù, hoa mạn thù lớn, rải trên đức Thế Tôn và cả đại hội. Khắp cõi Phật này chấn động đủ cả sáu cách. Trong đại hội, bốn chúng là Tỷ kheo và Tỷ kheo ni, Ưu bà tắc và Ưu bà di; tám bộ là thiên, long, dạ xoa, càn thát bà, a tu la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la dà, toàn là những người không phải loài người, và các chúng khác mà trong đó có các vị quốc vương và các vị luân vương, hết thảy các chúng như vậy đều được sự chưa từng có, hoan hỷ, chắp tay, và chuyên chú chiêm ngưỡng đức Thế Tôn. Còn đức Thế Tôn thì từ nơi tướng lông trắng giữa hai đầu của hai hàng lông mày phóng ra ánh sáng, chiếu soi mười tám ngàn thế giới hệ ở về hướng đông, không thế giới hệ nào mà không chiếu soi dưới đến Vô gián ngục trên đến Sắc cứu cánh. Làm cho đại hội ở thế giới hệ này mà thấy hết chúng sinh trong sáu loài của các thế giới hệ ấy; lại thấy chư Phật hiện tại của các thế giới hệ ấy, nghe kinh pháp của chư Phật ấy nói, thấy bốn chúng, những người hành đạo và đắc đạo trong các thế giới hệ ấy; lại thấy các vị bồ tát đi theo đường đi của bồ tát bằng các thứ yếu tố, các cách tin hiểu và các loại hình thức; lại thấy chư Phật nhập diệt, thấy sau đó xá lợi của chư Phật ấy được đem ra xây dựng những ngôi tháp bằng bảy chất liệu quý báu mà tôn thờ.

    Bấy giờ đức Di Lạc suy nghĩ, hôm nay đức Thế Tôn biểu hiện cảnh tượng thần biến. Vì lý do gì mà có điềm lành như vậy? Đức Thế Tôn đang nhập định, sự thể ngoài sự nghĩ bàn ấy biểu hiện cảnh tượng hiếm có này, ta nên hỏi ai, ai giải đáp được? Đức Di Lạc lại nghĩ, bồ tát Văn Thù, vị thái tử của đức Pháp vương, đã từng thân gần phụng sự vô lượng chư Phật quá khứ, tất đã thấy được cảnh tượng hiếm có này, vậy ta nên hỏi người. Cùng lúc, cả bốn chúng, tám bộ và các chúng khác, ai cũng nghĩ rằng, cảnh tượng thần biến biểu hiện bởi ánh sáng của đức Thế Tôn như vầy, nên đem hỏi ai? Đức Di Lạc muốn giải quyết nghi ngờ của mình, lại xét tâm trí của cả đại hội, nên hỏi bồ tát Văn Thù, vì lý do nào mà có điềm lành—có cảnh tượng thần biến là đức Thế Tôn phóng ánh sáng lớn chiếu soi mười tám ngàn cõi Phật ở về hướng đông, làm cho đại hội ở đây mà thấy hết mọi sự huy hoàng của các cõi Phật ấy? Đức Di Lạc muốn lặp lại ý nghĩa đã hỏi, nên hỏi bồ tát Văn Thù bằng những lời chỉnh cú sau đây.

    (1) Văn Thù đại sĩ,
    vì lý do nào
    mà đức Thế Tôn,
    vị thầy dẫn đạo,
    từ nơi lông trắng
    giữa hai đầu mày,
    phóng ánh sáng lớn
    chiếu soi khắp cả?

    (2) Chư thiên mưa xuống
    bao nhiêu hoa quí
    mạn đà mạn thù,
    và thổi làn gió
    hơi thơm đàn hương,
    đẹp lòng đại hội.

    (3) Vì vậy mặt đất
    cả quốc độ này
    rực rỡ huy hoàng,
    và cả quốc độ
    đều chấn động lên
    đủ hết sáu cách.
    Làm cho bốn chúng
    hoan hỷ tất cả,
    cơ thể tâm trí
    đều thấy thích thú,
    cảm nhận sự thể
    chưa bao giờ có.

    (4) Chỉ một ánh sáng
    phóng từ lông trắng
    giữa hai đầu mày
    chiếu soi hướng đông,
    mà khiến một vạn
    tám ngàn quốc độ
    đều như màu sắc
    ánh từ vàng ròng.

    (5) Trong các quốc độ
    được chiếu như vậy,
    từ Vô gián ngục
    đến Sắc cứu cánh,
    hết thảy chúng sinh
    thuộc cả sáu loài
    sinh từ loài này
    chết đến loài khác,

    (6) hành vi lành dữ,
    kết quả tốt xấu,
    ở quốc độ này
    mà thấy rõ cả.

    (7) Lại thấy chư Phật,
    chúa của thánh hiền,
    tuyên thuyết kinh pháp
    tinh túy bậc nhất,
    bằng tiếng trong thanh
    xuất lời hòa nhã
    mà dạy bồ tát
    vô số ức vạn.

    (8) Bằng tiếng Phạn thiên
    thâm thúy kỳ diệu
    khiến người thích nghe,
    chư Phật ở nơi
    quốc độ của mình
    diễn giảng chánh pháp,
    vận dụng vô số
    yếu tố, ví dụ,
    soi sáng chánh pháp
    thức tỉnh chúng sinh:

    (9) Ai bị khổ não,
    chán già bịnh chết,
    thì nói cho họ
    về pháp niết bàn,
    để họ diệt tận
    biên cương khổ não.

    (10) Ai có phước đức
    từng hiến cúng Phật,
    chí cầu đạt được
    chân lý cao hơn,
    thì nói cho họ
    về pháp duyên giác.

    (11) Còn các con Phật
    làm mọi hạnh nguyện
    để cầu thành tựu
    tuệ giác vô thượng,
    thì nói cho họ
    tuệ giác trong suốt.
    *

    (12) Văn Thù đại sĩ,
    tôi ở nơi đây
    mà thấy và nghe
    đến như thế đó,
    có ngàn ức việc.
    Việc nhiều như vậy
    nay tôi chỉ kể
    một cách vắn tắt.

    (13) Tôi thấy bồ tát
    như cát sông Hằng,
    của trong tất cả
    thế giới hệ ấy,
    đem mọi yếu tố
    cầu tuệ giác Phật.

    (14) Có người thực hành
    hạnh nguyện bố thí:
    bạc, vàng, san hô,
    chân châu, ma ni,
    xa cừ, mã não,
    kim cương, của quí,
    tôi tớ, xe thuyền,
    vật để cỡi, chở,

    (15) xe liễn, xe dư
    trang hoàng vàng ngọc,
    cũng rất hoan hỷ
    mà đem hiến cho,
    rồi hồi hướng cả
    về nơi trí Phật,

    (16) nguyện được xe Phật
    cỗ xe bậc nhất
    trong cả ba cõi,
    được Phật tán dương.

    (17) Hoặc có bồ tát
    cho xe quí báu
    kéo bởi bốn ngựa,
    lại có lan can
    mui trần hoa mỹ
    mái riềm trang hoàng.

    (18) Lại thấy bồ tát
    cho thân cho thịt
    cho tay cho chân
    cho cả vợ con,
    quyết chí đạt đến
    tuệ giác vô thượng.

    (19) Lại thấy bồ tát
    cho đầu cho mắt
    cho cả thân thể _
    cho mà vui thích,
    để cầu thành tựu
    tuệ giác Phật đà.

    (20) Văn Thù đại sĩ,
    tôi thấy vua chúa
    đi đến chỗ Phật
    hỏi pháp vô thượng,
    rồi từ bỏ liền
    đất nước thịnh vượng,
    bỏ cả cung điện
    đình thần hậu phi,

    (21) cạo sạch râu tóc
    mà mặc pháp y.

    (22) Hoặc thấy bồ tát
    mà làm tỷ kheo,
    chỉ ở một mình
    nơi chỗ thanh vắng,
    vui vẻ thích thú
    đọc tụng kinh điển.

    (23) Lại thấy bồ tát
    dũng mãnh tinh tiến,
    vào chốn núi sâu
    suy nghĩ trí Phật.

    (24) Lại thấy bồ tát
    tách rời dục vọng,
    thường xuyên trú ở
    những chỗ trống vắng,
    tu sâu thuyền định
    được năm thần thông.

    (25) Lại thấy bồ tát
    chân đứng vững vàng
    tư tưởng tập trung
    hai tay chắp lại,
    đem cả ngàn vạn
    bài văn chỉnh cú
    hoan hỷ ca tụng
    các đấng Pháp vương.

    (26) Lại thấy bồ tát
    trí sâu, nhớ chắc
    có thể thưa hỏi
    chánh pháp nơi Phật,
    nghe rồi tiếp nhận
    ghi nhớ đủ cả.

    (27) Lại thấy con Phật
    đủ cả định tuệ,
    áp dụng vô số
    mọi sự ví dụ,
    diễn giảng chánh pháp
    cho các chúng khác;

    (28) lại vui thuyết pháp
    giáo hóa bồ tát,
    chiến thắng ma vương
    và binh đội nó,
    rồi gióng lớn lên
    tiếng trống chánh pháp.

    (29) Lại thấy bồ tát
    vắng bặt im lặng,
    trời rồng cung kính
    không lấy làm mừng.

    (30) Lại thấy bồ tát
    ở trong núi rừng
    mà phóng ánh sáng
    cứu khổ địa ngục,
    thức tỉnh cho họ
    hướng vào trí Phật.
    *

    (31) Lại thấy con Phật
    chưa từng ngủ nghỉ,
    kinh hành trong rừng
    siêng cầu trí Phật.

    (32) Lại thấy có vị
    giới pháp đầy đủ,
    uy nghi vẹn toàn,
    sạch sẽ trong suốt
    in như ngọc quí
    để cầu trí Phật.

    (33) Lại thấy con Phật
    trụ vào sức nhẫn,
    bao kẻ thượng mạn
    mắng nhiếc đánh đập
    vẫn nhẫn được cả
    để cầu trí Phật.

    (34) Lại thấy bồ tát
    từ bỏ trò chơi,
    bỏ luôn những kẻ
    thân thuộc ngu dốt,
    chỉ biết thân gần
    những người thánh trí,

    (35) chuyên nhất tâm ý
    trừ bỏ loạn động,
    trú ở núi rừng
    tập trung tư tưởng,
    trải qua ức vạn
    những năm như vậy
    để cầu thành tựu
    tuệ giác Phật đà.

    (36) Hoặc thấy bồ tát
    cỗ bàn quí trọng,
    thức uống, đồ ăn,
    các loại dược phẩm,
    đều đem hiến cúng
    Phật bảo Tăng bảo.

    (37) Y phục danh tiếng
    và thượng hảo hạng,
    giá trị ngàn vạn
    hoặc đến vô giá,
    đều đem hiến cúng
    Phật bảo Tăng bảo.

    (38) Nhà cửa quí báu
    bằng gỗ đàn hương,
    trong đó đồ nằm
    rất tốt và đẹp,
    nhà và đồ ấy
    nhiều đến vạn ức,
    đều đem hiến cúng
    Phật bảo Tăng bảo.

    (39) Vườn rừng quang đãng,
    trong đó đủ cả
    hoa trái tốt nhiều,
    suối chảy ao tắm,
    đều đem hiến cúng
    Phật bảo Tăng bảo.

    (40) Đồng đẳng như vậy,
    họ đem hiến cúng
    đủ hết những thứ
    rất là tinh tế,
    mà lòng hoan lạc
    không biết nhàm chán,
    chí quyết đạt đến
    tuệ giác vô thượng.

    (41) Hoặc có bồ tát
    bằng nhiều minh chứng,
    nói về nguyên lý
    tuyệt đối vắng lặng,
    huấn dụ vô số
    các loại chúng sinh.

    (42) Hoặc thấy bồ tát
    xét thấy bản thể
    tất cả vạn hữu
    in như hư không:
    không những khái niệm
    thuộc về nhị biên.
    Lại thấy con Phật
    tâm không vướng mắc,
    đem tuệ mầu này
    cầu tuệ vô thượng.
    *

    (43) Văn Thù đại sĩ,
    có những bồ tát
    Phật nhập diệt rồi
    hiến cúng xá lợi.

    (44) Lại thấy con Phật
    dựng bao chùa tháp
    nhiều bằng Hằng sa
    tô điểm quốc độ.

    (45) Tháp thì tráng lệ,
    làm bằng bảy báu,
    chiều cao có đến
    năm ngàn do tuần,
    chu vi rộng đến
    hai ngàn do tuần.

    (46) Mỗi một chùa tháp
    cờ phan cả ngàn,
    màn được kết ngọc,
    chuông nhỏ hòa reo,
    tám bộ thiên long,
    loài người loài khác,
    thường đem hiến cúng
    hoa hương, kịch nhạc.

    (47) Văn Thù đại sĩ,
    những con Phật ấy
    chính vì hiến cúng
    xá lợi của Phật
    mà cố trang hoàng
    những ngôi chùa tháp,
    nên cả quốc độ
    tự nhiên tráng lệ
    tuyệt diệu tuyệt hảo,
    in như cây chúa
    của trời Đế Thích
    toàn bộ nở hoa.

    *

    (48) Thế Tôn chỉ phóng
    một đường ánh sáng
    mà làm cho tôi
    và cả đại hội
    thấy quốc độ này
    đủ mọi vẻ đẹp.

    (49) Những thần thông lực
    của đức Thế Tôn
    thật là hiếm có:
    chỉ phóng một đường
    ánh sáng rực rỡ
    mà chiếu khắp cả
    vô lượng quốc độ.

    (50) Làm cho chúng tôi
    nhìn cảnh tượng này
    ai cũng cảm được
    sự chưa từng có.
    Phật tử Văn Thù,
    xin hãy giải thích
    cho nỗi nghi ngờ
    của cả đại hội.

    (51) Tất cả bốn chúng
    thích thú trông ngóng,
    nhìn vào nhân giả
    và nhìn vào tôi.

    (52) Ai cũng muốn biết
    tại sao Thế Tôn
    phóng ra ánh sáng
    đến như thế này?

    (53) Phật tử Văn Thù,
    hãy đáp ứng gấp,
    giải tỏa nghi ngờ
    cho họ hoan hỷ:
    vì ích lợi nào
    mà đức Thế Tôn
    phóng ra ánh sáng
    đến như thế này –

    (54) Chánh pháp tinh túy
    mà đức Thế Tôn
    đã chứng ngộ được
    trong khi mới ngồi
    nơi bồ đề tràng,
    ngài muốn tuyên thuyết
    về chánh pháp ấy,
    hay muốn thọ ký?

    (55) Ánh sáng Thế Tôn
    đã làm hiện ra
    cho chúng tôi thấy
    bao nhiêu cõi Phật
    đẹp và sáng lên
    với những ngọc quí,
    lại được thấy cả
    chư vị Phật đà,
    thì đó không phải
    là sự kiện nhỏ.

    (56) Văn Thù đại sĩ,
    nên biết tất cả
    bốn chúng tám bộ
    và các chúng khác,
    nhìn xem nhân giả
    nói cho rhế nào?

    Lúc ấy bồ tát Văn Thù nói với đức Di Lạc, và các vị đại sĩ khác, chư vị thiện nam tử, theo tôi suy xét thì đức Thế Tôn hiện nay muốn nói chánh pháp vĩ đại, đổ mưa chánh pháp vĩ đại, thổi loa chánh pháp vĩ đại, đánh trống chánh pháp vĩ đại, diễn nghĩa chánh pháp vĩ đại. Chư vị thiện nam tử, nơi chư Phật quá khứ, tôi đã từng thấy điềm lành như vậy. Các ngài phóng ra ánh sáng này rồi là nói về chánh pháp vĩ đại. Do đó, chư vị nên biết, đức Thế Tôn hiện nay phóng ra ánh sáng thì cũng sẽ làm như vậy. Muốn làm cho chúng sinh ai cũng nghe biết được cái pháp mà cả thế gian đều khó tin, nên đức Thế Tôn biểu hiện điềm lành như vầy.

    Chư vị thiện nam tửû, như trong quá khứ, lâu đến rất nhiều thời kỳ vô số, bấy giờ có đức Phật danh hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, đủ mười đức hiệu: bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và khắp, bậc Hoàn hảo sự sáng, bậc Khéo qua niết bàn, bậc Lý giải vũ trụ, bậc Không ai trên nữa, bậc Thuần hóa mọi người, bậc Thầy cả trời người, bậc Tuệ giác hoàn toàn: bậc Tôn cao nhất đời. Ngài tuyên thuyết chánh pháp một cách phần đầu phần giữa phần cuối ba phần đều tuyệt hảo, nghĩa lý sâu xa, lời tiếng tukyệt diệu, thuần nhất không tạp, đủ hết sắc thái phạn hạnh trắng trong. Ấy là người cầu Thanh văn thì nói mà đáp ứng bằng bốn chân lý, để họ vượt qua sinh, già, bịnh, chết, cứu cánh niết bàn; người cầu Duyên giác thì nói mà đáp ứng bằng mười hai duyên khởi; còn các vị Bồ tát thì nói mà đáp ứng bằng sáu ba la mật, làm cho họ được tuệ giác vô thượng, nghĩa là thành bậc Tuệ giác biết tất cả.

    Kế đó lại có đức Phật cũng tên Nhật Nguyệt Đăng Minh, kế đó nữa lại có đức Phật cũng tên Nhật Nguyệt Đăng Minh. Như vậy có hai mươi ngàn đức Phật đều cùng một tên, tên Nhật Nguyệt Đăng Minh, và cùng một họ, họ Phả La Đọa. Di Lạc đại sĩ, đại sĩ nên biết, đức Phật đầu tiên cũng như đức Phật cuối cùng đều cùng một tên Nhật Nguyệt Đăng Minh, cùng đủ mười đức hiệu, và pháp mà các ngài tuyên thuyết cũng phần đầu phần giữa phần cuối ba phần đều tuyệt hảo. Đức Phật cuối cùng, khi chưa xuất gia, có tám vương tử, thứ nhất tên Hữu Ý, thứ hai tên Thiện Ý, thứ ba tên Vô Lượng Ý, thứ tư tên Bảo Ý, thứ năm tên Tăng Ý, thứ sáu tên Trừ Nghi Ý, thứ bảy tên Hướng Ý, thứ tám tên Pháp Ý. Cả tám vương tử đều uy đức tự tại, thống lãnh bốn đại lục. Khi nghe phụ hoàng xuất gia, thành tựu tuệ giác vô thượng, thì tám vương tử ấy cùng bỏ ngôi vua mà xuất gia theo, phát tâm Đại thừa, thường hành phạn hạnh, và cùng làm pháp sư, vì đã từng gieo trồng các gốc rễ điều lành ở nơi ngàn vạn đức Phật. Bấy giờ đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh cũng đã nói bản kinh Đại thừa tên Nghĩa Vô Lượng, bản kinh dạy cho bồ tát và được Phật giữ gìn. Nói kinh ấy rồi, đức Phật ấy cũng đã ở ngay giữa đại hội mà ngồi xếp bằng, nhập định vị trí của nghĩa vô lượng, thân thể và tâm trí đều không dao động. Lúc ấy chư thiên cũng mưa xuống hoa Mạn Đà, hoa Mạn Đà lớn, hoa Mạn Thù, hoa Mạn Thù lớn, rải trên đức Phật và cả đại hội. Khắp cõi Phật này cũng chấn động đủ hết sáu cách. Trong đại hội, bốn chúng, tám bộ và các chúng khác, hết thảy các chúng như vậy cũng được sự chưa từng có, hoan hỷ, chắp tay, chuyên chú mà chiêm ngưỡng đức Phật. Còn đức Phật thì cũng từ nơi tướng lông trắng giữa hai đầu của hai hàng lông mày phóng ra ánh sáng, chiếu soi mười tám ngàn cõi Phật ở về hướng đông, không cõi Phật nào mà không chiếu soi khắp cả, y như những cõi Phật mà ngày nay chư vị đang thấy.

    Di Lạc đại sĩ, đại sĩ nên biết, trong đại hội lúc ấy có hai mươi ức bồ tát ưa thích nghe pháp. Các vị bồ tát này thấy ánh sáng của Phật chiếu khắp các cõi Phật như vậy thì cũng được sự chưa từng có, và cũng muốn biết mục đích của ánh sáng ấy. Bấy giờ có một vị bồ tát tên Diệu Quang, có tám trăm đệ tử. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh xuất định, nhân bồ tát Diệu Quang mà nói bản kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa, bản kinh dạy cho bồ tát và được Phật giữ gìn. Ngài nói đến sáu mươi thời kỳ bậc nhỏ, không đứng dậy khỏi pháp tòa. Đại hội thính giả lúc ấy cũng ngồi một chỗ, trải qua sáu mươi thời kỳ bậc nhỏ mà thân thể và tâm trí đều bất động, nghe đức Phật nói thì cho rằng chỉ bằng thì gian một bữa ăn. Cả đại hội không một ai mà thân thể hay tâm trí sinh nhác sinh mệt. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh Pháp Hoa trong sáu mươi thời kỳ bậc nhỏ rồi, liền ở giữa đại hội các chúng phạn vương, ma vương, sa môn, bà la môn, và chư thiên, nhân loại, tu la, tuyên ngôn rằng giữa đêm hôm nay Như Lai sẽ nhập niết bàn hoàn toàn.

    Bấy giờ có bồ tát tên Đức Tạng, đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh liền thọ ký cho, bằng cách nói với chư vị Tỷ kheo, rằng vị bồ tát Đức Tạng này sẽ kế tiếp làm Phật, danh hiệu Tịnh Thân, bậc Đến như chư Phật, bậc Thích ứng hiến cúng, bậc Biết đúng và kháép. Thọ ký rồi, ngay giữa đêm ấy, đức Phật nhập niết bàn hoàn toàn. Sau đó bồ tát Diệu Quang ghi nhớ Pháp Hoa, diễn giảng cho người trọn tám mươi thời kỳ bậc nhỏ. Tám vương tử con đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều tôn thờ bồ tát Diệu Quang làm thầy, bồ tát ấy giáo hóa, làm cho tám vương tử vững chắc đối với tuệ giác vô thượng. Tám vương tử, sau đó, phụng sự rất nhiều ức đức Phật rồi, được thành Phật cả, và vị thành Phật cuối cùng danh hiệu là Nhiên Đăng. Trong tám trăm đệ tử của bồ tát Diệu Quang, có một vị tên là Cầu Danh, đam mê danh lợi, dẫu cũng đọc tụng kinh pháp mà không thông suốt, phần nhiều quên mất, nên mới có cái tên Cầu Danh. Nhưng vị này cũng nhờ sự gieo trồng các gốc rễ điều lành mà được gặp rất nhiều ức đức Phật, hiến cúng, cung kính, tôn trọng và tán dương. Di Lạc đại sĩ, đại sĩ nên biết bồ tát Diệu Quang lúc ấy đâu phải ai khác, mà chính là tôi đây, còn bồ tát Cầu Danh thì chính là đại sĩ. Ngày nay thấy điềm lành như vầy so với ngày xưa không khác gì cả, nên tôi nghĩ rằng đức Thế Tôn hiện nay sẽ tuyên thuyết về bản kinh Đại thừa tên là Pháp Hoa, bản kinh dạy cho bồ tát và được Phật giữ gìn.

    Lúc ấy, ở giữa đại hội, bồ tát Văn Thù muốn lập lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (57) Tôi nhớ quá khứ
    vô số thời kỳ,
    có đức Phật đà,
    bậc tôn cao nhất,
    danh hiệu ngài là
    Nhật Nguyệt Đăng Minh.

    (58) Đức Phật đà ấy
    tuyên thuyết chánh pháp
    hóa độ vô lượng
    các loại chúng sinh,
    và vô số ức
    các vị Bồ tát,
    làm cho vào được
    tuệ giác Phật đà.

    (59) Có tám vương tử
    con của Phật sinh
    lúc chưa xuất gia,
    thấy Phật xuất gia
    cũng xuất gia theo
    thực hành phạn hạnh.

    (60) Bấy giờ Phật nói
    bản kinh đại thừa
    tên Nghĩa Vô Lượng,
    giảng giải rộng rãi
    nghĩa lý vô lượng
    cho cả đại hội.

    (61) Phật tuyên thuyết xong
    bản kinh ấy rồi,
    liền ngồi xếp bằng
    ngay trên pháp tòa,
    nhập định Vị trí
    của nghĩa vô lượng.

    (62) Chư thiên mưa xuống
    hoa mạn đà la,
    và trống chư thiên
    tự kêu vang rền;
    tám bộ thiên long
    dùng hoa trống ấy
    hiến cúng lên bậc
    tôn cao nhất người.

    (63) Toàn cõi Phật này
    đồng thời chấn động.
    Và rồi đức Phật
    phóng ra ánh sáng
    từ nơi lông trắng
    giữa hai đầu mày,
    biểu hiện đủ cả
    cảnh tượng hiếm có.
    *

    (64) Ánh sáng như vậy
    chiếu soi một vạn
    tám ngàn cõi Phật
    ở về hướng đông,
    biểu hiện cho thấy
    tất cả những chỗ
    các loại chúng sinh
    sinh ra chết đi,
    hành động lành dữ,
    hưởng chịu tốt xấu.

    (65) Lại được nhìn thấy
    có những cõi Phật
    toàn thể trang hoàng
    bằng bao vàng ngọc,
    ánh lên màu sắc
    lưu ly pha lê;
    đại hội thấy được
    đến như thế này
    là do ánh sáng
    của Phật chiếu soi.

    (66) Lại thấy tất cả
    tám bộ thiên long
    cùng với nhân loại
    tại mỗi quốc độ
    cùng nhau hiến cúng
    đức Phật của mình.

    (67) Lại thấy chư Phật
    tự thành Phật tuệ,
    thân như núi vàng
    cực kỳ tráng lệ.
    Các ngài ở giữa
    đại hội thánh hiền
    diễn giảng nghĩa ý
    của pháp sâu xa,
    thì trông giống như
    những tượng vàng thật
    hiện trong các khối
    lưu ly trong suốt.

    (68) Trong mỗi cõi Phật,
    thanh văn vô số,
    cũng nhờ ánh sáng
    của Phật chiếu soi
    mà thấy rõ cả
    chúng thanh văn ấy.

    (69) Thấy chư tỷ kheo
    ở trong núi rừng,
    tinh tiến giữ giới
    như giữ ngọc sáng.

    (70) Lại thấy bồ tát
    nỗ lực bố thí
    kiên trì nhẫn nhục,
    số bồ tát ấy
    nhiều như hằng sa
    mà thấy được cả,
    là do ánh sáng
    của Phật chiếu soi.

    (71) Thấy các bồ tát
    tinh tiến nhập định
    một cách sâu xa,
    thân tâm bất động,
    đem thiền định ấy
    cầu trí vô thượng.

    (72) Thấy các bồ tát
    biết rất thấu suốt
    thật tướng vắng lặng
    của tất cả pháp,
    thuyết thật tướng ấy
    nơi quốc độ mình,
    đem bát nhã này
    cầu thành trí Phật.

    (73) Bấy giờ bốn chúng
    được thấy đức Phật
    Nhật Nguyệt Đăng Minh
    biểu hiện thần lực
    đến như thế ấy,
    lòng họ hoan hỷû
    và cùng hỏi nhau,
    rằng cảnh tượng này
    vì lý do nào
    mà Phật biểu hiện?
    *

    (74) Khi ấy đức Phật,
    đấng mà trời người
    ai cũng tôn thờ,
    vừa mới xuất định,
    tức thì khen ngợi
    bồ tát Diệu Quang:

    (75) Ông là con mắt
    của cả thế gian!
    Ai cũng qui về
    tin tưởng nơi ông!
    Ông kính giữ được
    kho tàng chánh pháp!
    Kho tàng chánh pháp
    mà rồi Như Lai
    sẽ nói hết ra,
    chỉ ông chứng biết!

    (76) Đức Phật khen ngợi
    làm cho bồ tát
    Diệu Quang hoan hỷ,
    rồi nói Pháp Hoa
    suốt hết sáu mươi
    thời kỳ bậc nhỏ.

    (77) Và pháp tối thượng
    tuyệt diệu như vậy
    được Phật tuyên thuyết
    mà không đứng dậy
    rời khỏi pháp tòa,
    pháp sư Diệu Quang
    vẫn tiếp nhận được
    và ghi nhớ cả.

    (78) Đức Phật tuyên thuyết
    về kinh Pháp Hoa
    làm cho các chúng
    hoan hỷ cả rồi,
    liền trong ngày ấy
    ngài bảo các chúng:

    (79) Thật tướng các pháp
    Như Lai đã đem
    nói cho các người.
    Giữa đêm hôm nay
    Như Lai sẽ nhập
    niết bàn hoàn toàn.

    (80) Các người cần phải
    một lòng tinh tiến
    chuyên chú vào pháp
    Như Lai đã nói,
    còn sự phóng dật
    nên tránh thật xa;
    vì lẽ chư Phật
    rất là khó gặp,
    vạn ức thời kỳ
    mới thấy một lần.

    (81) Đệ tử của Phật
    nghe Phật loan báo
    sắp sửa nhập diệt,
    ai cũng đau buồn
    nghĩ Phật nhập diệt
    sao mà mau chóng.

    (82) Vị chúa thánh triết
    và vua các pháp
    an ủi các chúng:
    sau khi Như Lai
    nhập niết bàn rồi
    các người đừng lo.

    (83) Bồ tát Đức Tạng
    tâm trí thấu triệt
    thật tướng thuần khiết,
    sẽ kế Như Lai
    thành đức Phật đà
    danh hiệu Tịnh Thân,
    và cũng hóa độ
    vô lượng các chúng.

    (84) Rồi giữa đêm ấy
    đức Phật nhập diệt
    như củi mà hết
    thì lửa cũng tắt.
    Sau đó xá lợi
    được phân bủa ra
    và xây dựng lên
    vô số bảo tháp.

    (85) Chư vị tỷ kheo
    và tỷ kheo ni
    số lượng nhiều đến
    như cát sông Hằng,
    lại càng nỗ lực
    tinh tiến hơn lên
    để cầu đạt được
    tuệ giác vô thượng.
    *

    (86) Phần ngài Diệu Quang,
    pháp sư bồ tát,
    kính giữ kho tàng
    chánh pháp của Phật,
    trải qua tám mươi
    thời kỳ bậc nhỏ
    tuyên thuyết rộng rãi
    Diệu Pháp Liên Hoa.

    (87) Còn tám vương tử
    thì nhờ bồ tát
    Diệu Quang khai hóa,
    tất cả đều được
    vững chắc đối với
    tuệ giác vô thượng,
    nên sau gặp được
    vô số Phật đà.

    (88) Các vị phụng sự
    chư Phật như vậy,
    cùng nhau đi theo
    con đường vĩ đại,
    nên kế tiếp nhau
    được thành Phật cả,
    và theo thứ tự
    thọ ký cho nhau.

    (89) Đức Phật cuối cùng,
    vị trời nhất trời,
    danh hiệu ngài là
    Nhiên Đăng Như Lai,
    bậc thầy dẫn đạo
    các vị hiền triết,
    độ cho giải thoát
    vô số các chúng.

    (90) Pháp sư Diệu Quang
    có một đệ tử
    tính thường biếng nhác
    đam mê danh lợi,

    (91) cầu hồ danh lợi
    một cách không chán,
    nên hay giao du
    với nhà dòng dõi,
    bỏ bê kinh pháp
    đã được tụng tập,
    nên hay quên mất
    chứ không thông suốt.

    (92) Vì lý do ấy
    có tên Cầu Danh.

    (93) Nhưng cũng thực hành
    đủ các pháp lành,
    gặp được vô số
    chư vị Phật đà,
    phụng sự hiến cúng
    Phật đà như vậy
    và cũng đi theo
    con đường vĩ đại,
    hoàn thiện sáu pháp
    đến bờ bên kia,
    nên nay lại gặp
    Sư tử họ Thích.

    (94) Thì gian sau ngài,
    sẽ kế làm Phật
    với danh hiệu là
    Di Lạc từ tôn,
    cứu độ rộng rãi
    các loại chúng sinh
    mà số lượng ấy
    không thể tính kể.
    *

    (95) Sau khi đức Phật
    Nhật Nguyệt Đăng Minh
    nhập niết bàn rồi,
    người hay biếng nhác
    chính là đại sĩ,
    còn vị pháp sư
    bồ tát Diệu Quang
    là bản thân tôi.

    (96) Chính tôi xưa kia
    Ở nơi đức Phật
    Nhật Nguyệt Đăng Minh
    đã từng thấy được
    điềm lành ánh sáng
    như tôi vừa nói.

    (97) Vì vậy tôi biết
    Thế Tôn ngày nay
    chủ ý muốn nói
    về kinh Pháp Hoa.

    (98) Cảnh tượng hiện nay
    giống điềm lành cũ,
    và là phương tiện
    của chư Thế Tôn:
    Thế Tôn ngày nay
    phóng ánh sáng lớn
    là để hổ trợ
    phát hiện thật tướng.

    (99) Chư vị nên biết
    chủ ý như vậy,
    và hãy chắp tay
    nhất tâm mà chờ.
    Thế Tôn sẽ đổ
    nước mưa chánh pháp,
    sung túc những người
    cầu tuệ giác Phật.

    (100) Tất cả những người
    cầu ba cỗ xe
    nếu có điều gì
    hoài nghi hối tiếc,
    thì vị Toàn giác
    sẽ giải trừ cho –
    giải trừ sạch hết,
    không còn sót lại

    Phẩm 2: Phương tiện

    Khi ấy đức Thế Tôn thung dung xuất định, nói với tôn giả Xá lợi Phất, tuệ giác Như Lai sâu xa vô tận, cửa ngõ tuệ giác ấy khó biết khó vào. Hết thảy Thanh văn Duyên giác không thể biết thấu. Vì sao, vì Như Lai đã từng thân gần vô số chư Phật, thực hành trọn vẹn vô số các pháp đạt đến tuệ giác vô thượng mà chư Phật ấy đã thực hành, dũng mãnh tinh tiến, danh tiếng vang khắp, và thành tựu sự chưa từng có rất là sâu xa, ấy là tùy nghi thuyết pháp, ý hướng khó hiểu. Xá lợi Phất, từ khi trở thành bậc Toàn giác cho đến ngày nay, Như Lai đem mọi thứ yếu tố và mọi sự ví dụ mà diễn rộng các cách lập luận, vận dụng vô số phương tiện ấy dẫn dắt chúng sinh thoát được sự vướng mắc vào điểm này hay điểm khác. Tại sao Như Lai làm được như vậy? Vì Như Lai đã hoàn thành sự thấy biết toàn hảo và sự phương tiện toàn hảo. Xá lợi Phất, sự thấy biết của Như Lai rộng lớn sâu xa: những phẩm chất của sự thấy biết ấy đại loại như bốn tâm vô hạn, bốn trí thông suốt, mười đại năng lực, bốn sự không sợ, bốn thiền, bốn định, tám sự giải thoát, ba pháp tam muội, Như Lai đã đi sâu vào một cách không có giới hạn, nên thành tựu sự chưa từng có nói trên. Do đó, Xá lợi Phất, Như Lai phân tích và khéo nói các pháp, lời chữ hòa nhã, đẹp lòng mọi người. Lấy cốt yếu mà nói, thì sự chưa từng có có tính cách vô lượng vô biên, Như Lai đã thành tựu đầy đủ.

    Xá lợi Phất, thôi, không nên nói nữa, vì sự chưa từng có, và khó hiểu bậc nhất ấy, mà Như Lai đã thành tựu, là chỉ Như Lai với chư vị Như Lai mới cứu xét cùng tận và tuyên thuyết khéo léo về thật tướng các pháp. Thật tướng ấy là biểu hiện như vậy, đặc tính như vậy, bản thể như vậy, năng lực như vậy, động tác như vậy, nhân tố như vậy, duyên tố như vậy, kết quả như vậy, hình thành như vậy, toàn bộ như vậy.

    Khi ấy đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (1) Vô lượng những bậc
    anh hùng trong đời,
    chư thiên nhân loại
    hết thảy chúng sinh,
    không ai hiểu thấu
    đối với Như Lai.

    (2) Mười đại năng lực
    bốn sự không sợ
    tám sự giải thoát
    ba pháp tam muội
    cùng với bao nhiêu
    phẩm chất Phật đà
    mà Như Lai có,
    thì không một ai
    có thể biết được
    một cách tận tường.

    (3) Vốn từ vô số
    chư Phật Như Lai
    Như Lai trọn vẹn
    thực hành các pháp
    tuệ giác vô thượng,
    là pháp cực kỳ
    sâu xa tinh túy
    khó mà thấy biết.

    (4) Trải qua vô lượng
    vạn ức thời kỳ,
    thực hành trọn vẹn
    các pháp ấy rồi,
    Như Lai đến ngồi
    nơi bồ đề tràng,
    được đại thành quả
    biết rõ tất cả.

    (5) Đại thành quả này
    biết rõ những nghĩa
    biểu hiện như vậy
    đặc tính như vậy…
    chỉ có Như Lai
    cùng với mười phương
    chư Như Lai khác
    mới biết như vậy.

    (6) Và pháp như vậy
    không thể phô bày,
    khái niệm ngôn ngữ
    bặt dấu ở đây.

    (7) Hết thảy chúng sinh
    không ai hiểu nổi,
    trừ chư bồ tát
    đức tin vững chắc.

    (8) Những con Phật khác
    dẫu từng hiến cúng
    chư Phật Như Lai,
    phiền não đã hết,
    đã đến trạng thái
    thân này là thân
    sống chết cuối cùng,
    các vị như vậy
    năng lực của họ
    cũng vẫn bất kham.

    (9) Giả sử tràn đầy
    thế giới loài người
    ai nấy đều như
    Xá lợi Phất cả,
    cùng tận tư duy
    chung nhau suy lường,
    cũng không lường được
    tuệ giác Như Lai.

    (10) Nếu thật đầy khắp
    mười phương quốc độ
    ai nấy đều như
    Xá lợi Phất cả,
    hoặc như các vị
    đại đệ tử khác
    cũng đầy khắp cả
    mười phương quốc độ,

    (11) cùng tận tư duy
    chung nhau suy lường,
    vẫn không biết được
    tuệ giác Như Lai.

    (12) Các vị Duyên giác
    trí tuệ lanh lợi
    phiền não không còn,
    thân họ cũng là
    cái thân cuối cùng;
    các vị như vậy
    cũng đầy mười phương
    như một rừng tre,

    (13) cùng nhau một lòng,
    trải qua vô lượng
    vạn ức thời kỳ,
    suy nghĩ cho thấu
    tuệ giác chân thật
    mà Như Lai có,
    cũng vẫn không thể
    biết được ít phần.

    (14) Các vị bồ tát
    mới phát tâm chí,
    phụng sự vô số
    chư Phật Như Lai,
    thấu triệt pháp nghĩa
    lại khéo thuyết pháp;

    (15) các vị như vậy
    như lúa như tre,
    tràn đầy khắp cả
    mười phương quốc độ,

    (16) kết hợp vận dụng
    trí tuệ tinh tế,
    trải qua thời kỳ
    nhiều bằng hằng sa,
    chung sức tư duy
    chung nhau ước lượng,
    cũng không biết được
    tuệ giác Như Lai.

    (17) Các vị bồ tát
    đã không thoái chuyển,
    số lượng nhiều bằng
    cát của sông Hằng,
    cùng nhau tìm xét
    cũng không biết được.

    (18) Này Xá lợi Phất,
    cái pháp cực kỳ
    sâu xa, tinh túy,
    không còn sai sót,
    ngoài tầm nghĩ bàn,
    Như Lai đã biết
    một cách đầy đủ.
    Và chỉ Như Lai
    mới biết pháp ấy,
    cũng như chư vị
    Như Lai mười phương
    mới biết như vậy.

    (19) Này Xá lợi Phất,
    tôn giả nên biết
    lời Như Lai nói
    không có mâu thuẫn.
    Đối với cái pháp
    của Như Lai nói,
    các người phải có
    đức tin lớn lao.
    Bởi vì nguyên tắc
    của chư Như Lai
    sau thì gian dài
    phải nói sự thật.

    (20) Cho nên ngày nay
    Như Lai tuyên cáo
    với chư Thanh văn
    và chư Duyên giác,
    những người đã được
    Như Lai làm cho
    thoát khổ thắt buộc
    đạt được niết bàn,

    (21) rằng đó chỉ là
    Như Lai vận dụng
    năng lực phương tiện
    thiết ba cỗ xe,
    để ai vướng mắc
    bất cứ chỗ nào
    Như Lai cũng dắt
    cho được thoát ra.

    Lúc ấy trong đại hội có một ngàn hai trăm vị A la hán đã hết phiền não, thuộc chúng Thanh văn, đại loại như tôn giả Kiềàu trần Như, cùng tỷ kheo và tỷ kheo ni, ưu bà tắc và ưu bà di, những người tâm chí thanh văn duyên giác, đều nghĩ như vầy, tại sao hôm nay đức Thế Tôn ân cần tán dương sự phương tiện, bằng cách nói rằng pháp Như Lai được cực kỳ sâu xa tinh túy và khó hiểu, rằng Như Lai nói gì ý hướng cũng khó biết, rằng hết thảy thanh văn duyên giác không thể đạt đến? Đức Thế Tôn nói về sự giải thoát đồng nhất thì chúng ta cũng thành tựu sự ấy, đạt đến niết bàn. Nhưng hôm nay thì chúng ta không biết sự ấy về đâu.

    Tôn giả Xá lợi Phất biết nỗi hoài nghi trong lòng bốn chúng và chính mình cũng chưa thấu triệt, nên thưa rằng, bạch đức Thế Tôn, vì yếu tố chính và yếu tố phụ nào mà đức Thế Tôn ân cần tán dương sự phương tiện bậc nhất của ngài là pháp sâu xa, tinh túy và khó hiểu? Hồi nào đến giờ con chưa hề nghe đức Thế Tôn nói như vậy. Hiện giờ bốn chúng đều nghi ngại. Con thỉnh cầu đức Thế Tôn giải thích vấn đề này cho chúng con: vì lý do nào mà ngài ân cần tán dương sự phương tiện của ngài là sâu xa, tinh túy và khó hiểu? Tôn giả Xá lợi Phất muốn lặp lại ý nghĩa đã hỏi, nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (22) Mặt trời tuệ giác,
    bậc đại thánh triết,
    lâu rồi mới nói
    điều đặc biệt này.
    Là ngài tự nói
    bao nhiêu phẩm chất
    mà Như Lai có,
    đại loại như là
    mười đại năng lực
    bốn sự không sợ
    ba pháp tam muội
    bốn thiền bốn định
    tám sự giải thoát,
    toàn là những pháp
    trên sự tư duy
    ngoài tầm thảo luận.

    (23) Ngài tự nói đến
    pháp mà ngài biết
    trong khi ngài ngồi
    nơi Bồ đề tràng,
    chứ không một ai
    có thể hỏi thấu.
    Ngài lại tự nói
    ý ngài khó biết,
    điều này cũng không
    một ai hỏi được.

    (24) Không ai hỏi được,
    chỉ ngài tự nói,
    tán dương con đường
    mà ngài đã đi,
    tán dương tuệ giác
    cực kỳ tinh túy
    mà như chư Phật,
    ngài đã đạt được.

    (25) Các vị La Hán
    đã hết phiền não,
    cùng với những vị
    cầu được Niết bàn,
    hôm nay cùng sa
    vào lưới ngờ vực:
    Thế Tôn vì gì
    tự nói như vậy?

    (26) Những vị cầu được
    tuệ giác duyên giác,
    các vị tỷ kheo
    và tỷ kheo ni,
    cùng với tất cả
    tám bộ thiên long,
    ai cũng bối rối
    mà nhìn lẫn nhau
    và nhìn lên ngài,
    một bậc hoàn hảo
    cả hai phương diện
    phước đức tuệ giác.

    (27) Bạch đức Thế Tôn,
    việc này thế nào?
    xin ngài giải thích
    cho chúng con rõ.

    (28) Trong chúng Thanh văn,
    Thế Tôn nói con
    là bậc thứ nhất,
    nhưng nay chính con
    tự mình đối với
    tuệ giác của mình
    cũng sinh nghi hoặc:
    không rõ tuệ ấy
    đã là cứu cánh
    hay phải tới nữa?

    (29) Bao nhiêu con Phật
    sinh từ miệng Phật
    nay đang chắp tay
    ngước nhìn chờ đợi,
    ước mong Thế Tôn
    xuất ra âm thanh
    cực kỳ tuyệt diệu,
    kịp thời nói cho
    về pháp của ngài
    đúng như pháp ấy.

    (30) Tám bộ thiên long
    số bằng hằng sa,
    chư vị Bồ tát
    cầu tuệ giác Phật
    số lượng đại khái
    cũng có tám vạn.

    (31) Lại còn xuất từ
    vạn ức các nước,
    các vị luân vương
    cùng nhau đến đây,
    ai cũng chắp tay
    đem lòng cung kính
    mong muốn được nghe
    con đường hoàn hảo.

    Đức Thế Tôn bảo tôn giả Xá Lợi Phất, thôi thôi, không nên nói. Nói vấn đề này thì cả thế gian, trong đó có chư thiên và nhân loại, sẽ kinh sợ ngờ vực. Tôn giả Xá Lợi Phất lại thưa, bạch đức Thế Tôn, xin đức Thế Tôn dạy cho vấn đề này, vấn đề này xin đức Thế Tôn dạy cho. Vì đại hội này nhiều đến trăm ngàn, vạn ức, vô số, có nhiều người từng gặp chư Phật, các căn lanh lợi, trí tuệ sáng tỏ, nghe đức Thế Tôn dạy thì có thể kính tin. Tôn giả Xá Lợi Phất muốn lặp lại ý nghĩa đã thưa, nên nói lời chỉnh cú sau đây:

    (32) Bạch đức Vô Thượng,
    vị vua các pháp!
    xin ngài dạy cho
    không cần e ngại.
    Đại hội các chúng
    vô số như vầy,
    tất có những người
    có thể kính tin.

    Đức Thế Tôn lại ngăn tôn giả Xá Lợi Phất, rằng nếu Như Lai nói vấn đề này thì cả thế gian, trong đó có chư thiên, nhân loại và tu la, sẽ cùng kinh sợ, ngờ vực, những vị tỷ kheo tăng thượng mạn sẽ rơi xuống hố lớn. Đức Thế Tôn lặp lại ý ngài bằng lời chỉnh cú sau đây:

    (33) Thôi thôi, đừng hỏi!
    Pháp của Như Lai
    tinh túy, khó biết.
    Những kẻ thượng mạn
    nghe nói pháp ấy
    tất không kính tin.

    Tôn giả Xá Lợi Phất lại thưa, bạch đức Thế Tôn, xin đức Thế Tôn dạy cho vấn đề này, vấn đề này xin đức Thế Tôn dạy cho. Nay trong đại hội này, những người như con, và trăm ngàn vạn ức người, đời đời đã từng tiếp nhận sự giáo hóa của đức Thế Tôn; những người như vậy chắc chắn có thể kính tin, ổn định lâu dài và lợi ích lớn lao. Tôn giả Xá Lợi Phất lặp lại ý mình bằng những lời chỉnh cú sau đây.

    (34) Thưa đấng Vô Thượng,
    phước trí toàn hảo!
    xin ngài dạy cho
    cái pháp bậc nhất.
    Con là con trưởng
    của đức Thế Tôn,
    con thỉnh cầu ngài
    dạy cho chúng con.
    Trong đại hội này
    có vô số người
    có thể kính tin
    về pháp ngài dạy.

    (35) Đời đời liên tiếp,
    Thế Tôn đã từng
    giáo hóa tiếp độ
    những người như vầy.
    Nay họ chắp tay
    đồng nhất tâm nguyện
    muốn nghe và nhận
    lời Thế Tôn nói.

    (36) Những người như con
    một ngàn hai trăm,
    cùng với các vị
    cầu tuệ giác Phật,
    xin đức Thế Tôn
    vì những người này
    rủ lòng thương xót
    mà giảng giải cho.
    Những người này đây
    nghe được pháp này
    thì lòng sinh ra
    hoan hỷ cùng cực.

    Khi ấy đức Thế Tôn bảo tôn giả Xá lợi Phất, tôn giả đã thiết tha thỉnh cầu đến lần thứ ba, nên Như Lai không thể không nói. Vậy tôn giả hãy lắng nghe, hãy khéo nghĩ và khéo nhớ! Như Lai sẽ phân tích giảng giải cho tôn giả. Khi đức Thế Tôn dạy như vậy, trong đại hội có đến năm ngàn tỷ kheo và tỷ kheo ni, ưu bà tắc và ưu bà di, tức thì đứng dậy khỏi chỗ họ ngồi, đảnh lễ đức Thế Tôn mà lui ra. Những người này gốc rễ tội lỗi về tăng thượng mạn thật là sâu nặng, chưa được tự cho đã được, chưa chứng tự cho đã chứng, lầm lẫn đến thế nên họ không ở lại. Đức Thế Tôn cũng yên lặng mà không ngăn cản. Ngài bảo tôn giả Xá lợi Phất, đaị hội này của Như Lai nay không còn trấu lép, mà chỉ toàn là hạt chắc. Xá lợi Phất, tăng thượng mạn như những người kia thì lui ra cũng tốt. Bây giờ tôn giả hãy nghe cho khéo, Như Lai sẽ giảng giải cho tôn giả. Tôn giả Xá lợi Phất thưa, dạ, bạch đức Thế Tôn; chúng con ước nguyện và thích thú muốn nghe.

    Đức Thế Tôn bảo tôn giả Xá lợi Phất, cái pháp tinh túy này Như Lai thỉnh thoảng mới nói, như hoa ưu đàm thỉnh thoảng mới xuất hiện một lần. Xá lợi Phất, chư vị hãy tin lời Như Lai nói không trống rỗng, dối trá. Xá lợi Phất, Như Lai tùy nghi thuyết pháp, ý hướng khó hiểu. Tại sao, vì Như Lai hoạt dụng vô số phương tiện, trong đó gồm có các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, mà diễn đạt về pháp. Pháp ấy không phải tư duy phân tích mà lĩnh hội được. Pháp ấy chỉ có chư Phật Như Lai mới chứng biết.

    Sự thể là chư Phật Như Lai chỉ vì lý do duy nhất và trọng đại mà xuất hiện thế gian. Xá lợi Phất, lý do duy nhất và trọng đại mà chư Phật Như Lai xuất hiện thế gian là gì? Là chư Phật Như Lai muốn làm cho chúng sinh khai mở sự thấy biết của Phật được trong sáng nên xuất hiện thế gian, muốn chỉ thị cho chúng sinh sự thấy biết của Phật được trong sáng nên xuất hiện thế gian, muốn làm cho chúng sinh tỉnh ngộ sự thấy biết của Phật được trong sáng nên xuất hiện thế gian, muốn làm cho chúng sinh nhập vào con đường thấy biết của Phật được trong sáng nên xuất hiện thế gian. Xá lợi Phất, như thế đó là lý do duy nhất và trọng đại mà chư Phật Như Lai xuất hiện thế gian. Và Xá lợi Phất, như thế đó tức là chư Phật Như Lai chỉ giáo hóa bồ tát, nghĩa là làm gì cũng thường vì một việc, ấy là đem sự thấy biết của Phật mà chỉ thị cho chúng sinh tỉnh ngộ.

    Xá lợi Phất, Như Lai chỉ đem cỗ xe duy nhất là cỗ xe Phật đà mà thuyết pháp cho chúng sinh, không có cỗ xe nào khác dầu là cỗ xe thứ hai hay là cỗ xe thứ ba. Xá lợi Phất, pháp của chư Phật mười phương cũng là như vậy. Xá lợi Phất, chư Phật quá khứ đã vận dụng vô số phương tiện, trong đó gồm có các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, mà thuyết pháp cho chúng sinh, pháp ấy toàn là của cỗ xe Phật đà duy nhất, nên chúng sinh nghe pháp nơi chư Phật ấy thì cứu cánh đều được tuệ giác biết tất cả. Chư Phật vị lai sẽ xuất hiện thế gian cũng vận dụng vô số phương tiện, trong đó gồm có các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, mà thuyết pháp cho chúng sinh, pháp ấy toàn là của cỗ xe Phật đà duy nhất, nên chúng sinh nghe pháp nơi chư Phật ấy thì cứu cánh cũng đều được tuệ giác biết tất cả. Hiện tại, trong vô lượng cõi Phật khắp cả mười phương, chư Phật đang làm lợi ích và yên vui rất nhiều cho chúng sinh, chư Phật như vậy cũng vận dụng vô số phương tiện, trong đó gồm có các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, mà thuyết pháp cho chúng sinh, pháp ấy toàn là của cỗ xe Phật đà duy nhất, nên chúng sinh nghe pháp nơi chư Phật ấy thì cứu cánh cũng đều được tuệ giác biết tất cả. Xá lợi Phất, chư Phật ba đời trong mười phương làm như vậy là đồng nghĩa với việc chỉ giáo hóa bồ tát: muốn đem sự thấy biết của Phật khai mở cho chúng sinh, muốn đem sự thấy biết của Phật chỉ thị cho chúng sinh, muốn đem sự thấy biết của Phật thức tỉnh cho chúng sinh, muốn dẫn chúng sinh nhập vào con đường thấy biết của Phật. Xá lợi Phất, nay Như Lai cũng làm như vậy. Như Lai biết rõ những thị hiếu và vướng mắc của các loại chúng sinh; tùy bản tính của họ, Như Lai vận dụng các thứ yếu tố, ví dụ và lời chữ, nghĩa là vận dụng năng lực phương tiện, mà thuyết pháp. Xá lợi Phất, Như Lai làm như vậy toàn là để cho họ cùng được tuệ giác biết tất cả của cỗ xe Phật đà duy nhất.

    Xá lợi Phất, như vậy là trong mười phương quốc độ, cỗ xe thứ hai còn không có, huống chi có cỗ xe thứ ba. Nhưng, Xá lợi Phất, chư Phật Như Lai xuất hiện trong thời kỳ dữ dội thì đó là thời kỳ đủ cả năm thứ vẩn đục: thời kỳ vẩn đục, tâm lý vẩn đục, con người vẩn đục, kiến thức vẩn đục, mạng sống vẩn đục. Khi thời kỳ vẩn đục loạn lên, thì chúng sinh dơ bẩn dày nặng, keo lẫn, tham lam, ganh ghét, hoàn thành đủ thứ bất thiện, nên chư Phật Như Lai phải vận dụng năng lực phương tiện: chính nơi cỗ xe duy nhất là cỗ xe Phật đà mà giả thiết ra, nói có ba cỗ xe. Do đó, Xá lợi Phất, nếu là đệ tử của Như Lai, tự gọi là La hán, là Duyên giác, mà không nghe không biết đến việc Như Lai chỉ giáo hóa bồ tát như trên, thì những người ấy không phải đệ tử của Như Lai: không phải La hán, không phải Duyên giác. Những vị tỷ kheo và tỷ kheo ni như vậy tự cho đã thành La hán, thân mình là thân cuối cùng, mình cứu cánh niết bàn, rồi không còn có chí mong cầu tuệ giác vô thượng, thì tôn giả nên biết họ toàn là người tăng thượng mạn. Vì lẽ nếu có vị nào thật được thành La hán mà không tin pháp này thì vô lý, trừ ra sau khi Như Lai đã nhập diệt, trước mặt họ không có Như Lai nữa – Sau khi Như Lai nhập diệt, kinh Pháp Hoa này có ai tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, lý giải ý nghĩa…, người ấy thật khó có. Nếu gặp đức Phật khác thì đối với kinh này họ nhận thức được ngay.

    Nói tóm, Xá lợi Phất, chư vị hãy nhất tâm mà tin tưởng, lý giải, tiếp nhận và ghi nhớ lời của Như Lai nói. Lời của chư Phật Như Lai nói thì không trống rỗng, dối trá, nói rằng không có cỗ xe nào khác mà chỉ có cỗ xe duy nhất là cỗ xe Phật đà.

    Khi ấy đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa đã nói, nên nói những lời chỉnh cú sau đây.

    (37) Chư vị tỷ kheo
    và tỷ kheo ni
    mà có thượng mạn,
    cùng ưu bà tắc
    và ưu bà di
    mà lòng không tin,
    bốn chúng như vậy
    số có năm ngàn.

    (38) Họ không tự thấy
    mình đã khinh suất.
    Họ thiếu giới hạnh,
    che giấu tỳ vết.
    Hạng trí nhỏ ấy
    đã lui hết rồi.

    (39) Trong đại hội này
    họ là cặn bã.
    Họ lui là vì
    uy thần Như Lai.
    Họ là những kẻ
    thiếu cả phước đức,
    không kham tiếp nhận
    diệu pháp như vầy.

    (40) Trong đại hội này
    nay hết trấu lép,
    còn lại chỉ có
    toàn là hạt chắc.

    (41) Này Xá lợi Phất,
    hãy nghe cho khéo
    về pháp Như Lai
    đã thành tựu được,
    và về phương tiện
    Như Lai hoạt dụng
    để nói pháp ấy
    cho các chúng sinh.
    *

    (42) Quan niệm, đạo hạnh,
    thị hiếu, khuynh hướng,
    hành vi lành dữ
    đời trước đã làm,
    tất cả điều này
    của các chúng sinh
    Như Lai nhận thức
    rất là rõ ràng.

    (43) Thế rồi Như Lai
    sử dụng mọi thứ
    yếu tố, ví dụ,
    cùng với lời chữ,
    nghĩa là dùng đến
    năng lực phương tiện,
    làm cho chúng sinh
    hoan hỷ tất cả.

    (44) Cho nên Như Lai
    đã nói tản văn,
    chỉnh cú độc lập,
    việc cũ, đời trước,
    việc hiếm, nguyên do,
    hoặc nói ví dụ,
    chỉnh cú thích ứng,
    cùng với thảo luận.

    (45) Những kẻ ám độn
    chỉ thích pháp nhỏ,
    vướng mắc sinh tử;
    nơi vô số Phật
    họ đã không đi
    theo đường tuyệt diệu.
    Họ bị đau khổ
    dày vò tác loạn.
    Như Lai vì họ
    mà nói niết bàn.

    (46) Như Lai thiết lập
    phương tiện như vậy,
    chủ ý làm cho
    họ được nhập vào
    tuệ giác Phật đà,
    nhưng chưa hề nói
    tất cả các người
    đều sẽ thành Phật.

    (47) Sở dĩ Như Lai
    chưa nói như vậy
    là vì chưa đến
    thì gian đáng nói.
    Nhưng nay là lúc
    Như Lai quyết định
    nói về giáo pháp
    cỗ xe vĩ đại.
    *

    (48) Giáo pháp ở trong
    chín thể loại trên,
    là do Như Lai
    tùy thuận chúng sinh
    mà tuyên thuyết ra,
    nhưng mà bản ý
    là dẫn họ vào
    cỗ xe vĩ đại.
    Vì lý do ấy,
    ngày nay Như Lai
    nói về bản kinh
    Diệu Pháp Liên Hoa.

    (49) Có những con Phật
    tâm trí trong sáng
    tánh tình ôn hòa
    các căn lanh lợi,
    đã từng đi theo
    con đường tuyệt diệu
    ở nơi vô lượng
    chư Phật Như Lai;
    chính vì những người
    con Phật như vậy
    mà nay Như Lai
    nói kinh Pháp Hoa,
    bản kinh thuộc về
    cỗ xe vĩ đại.

    (50) Qua đó Như Lai
    sẽ thọ ký cho
    những con Phật ấy
    trong thì vị lai
    được thành Phật đà _
    Được thành vì họ
    đã đem tâm chí
    cực kỳ sâu xa
    tưởng niệm Phật đà
    nghiêm giữ giới pháp.

    (51) Những con Phật ấy
    nghe được thành Phật
    thì nỗi mừng lớn
    tràn khắp cơ thể.
    Như Lai biết rõ
    tâm chí cùng với
    đạo hạnh của họ,
    nên mới nói cho
    bản kinh thuộc về
    cỗ xe vĩ đại.

    (52) Và là thanh văn
    hay là bồ tát,
    nghe kinh như vậy
    của Như Lai nói,
    thì dẫu chỉ được
    một bài chỉnh cú,
    cũng thành Phật cả,
    không nghi gì được.
    *

    (53) Khắp cả cõi Phật
    trong cả mười phương,
    chỉ có diệu pháp
    cỗ xe duy nhất.
    Cỗ xe thứ hai
    đã không thực có,
    cũng không thực có
    cỗ xe thứ ba,
    trừ ra Như Lai
    phương tiện tuyên thuyết –
    là chỉ thiện dụng
    những danh từ giả
    mà dẫn dắt cho
    các loại chúng sinh.

    (54) Chính vì công bố
    tuệ giác Phật đà,
    cho nên Như Lai
    xuất hiện thế gian.
    Chỉ một việc này
    là việc đích thực,
    còn hai việc khác
    không đích thực đâu.
    Như Lai tuyệt đối
    không muốn sử dụng
    cỗ xe thấp nhỏ
    mà chở chúng sinh.

    (55) Như Lai tự ngồi
    cỗ xe vĩ đại,
    cỗ xe được có
    những pháp như là
    định, tuệ và lực
    trang sức huy hoàng,
    Như Lai sử dụng
    mà chở chúng sinh.

    (56) Như Lai tự chứng
    tuệ giác vô thượng
    là xe vĩ đại
    có tính bình đẳng.
    Nếu đem hóa độ
    bằng xe thấp nhỏ,
    thì dẫu hóa độ
    một người mà thôi,
    Như Lai cũng rơi
    vào sự tham lẫn:
    ấy là một việc
    không chấp nhận được.

    (57) Mọi người tín ngưỡng
    qui y Như Lai.
    Như Lai không hề
    lừa dối ai cả,
    không cả tâm ý
    tham lam ganh ghét,
    triệt hết sự xấu
    ở trong các pháp.
    Cho nên khắp trong
    mười phương quốc độ,
    chỉ có Như Lai
    không e sợ gì.

    (58) Với cái thân thể
    tướng hảo trang nghiêm,
    với cái tuệ giác
    soi sáng tất cả,
    và được vô lượng
    chúng sinh tôn trọng,
    Như Lai công bố
    ấn tín thật tướng.

    (59- Này Xá lợi Phất
    60) tôn giả nên biết
    Như Lai vốn lập
    chí nguyện cao rộng
    là muốn làm cho
    hết thảy chúng sinh
    đều như Như Lai
    không khác gì cả.
    Đúng như chí nguyện
    Như Lai đã lập,
    ngày nay Như Lai
    thực hiện đầy đủ,
    cho nên Như Lai
    giáo hóa tất cả,
    làm cho vào được
    tuệ giác Phật đà.

    (61) Nhưng nếu Như Lai
    gặp ai cũng đem
    tuệ giác Phật đà
    mà giáo hóa cho,
    thì kẻ vô trí
    sẽ bị thác loạn,
    mù mờ, lầm lẫn,
    không thể tiếp nhận.

    (62) Như Lai nhận thức
    những kẻ như vậy
    chưa từng sửa sang
    gốc rễ pháp lành,
    dính chắc vào nơi
    năm thứ dục lạc,
    khổ não vì những
    mù quáng, đam mê.

    (63) Chính vì nhân tố
    năm thứ dục lạc
    mà họ sa vào
    ba đường độc dữ.
    Luân hồi khắp cả
    sáu nẻo sống chết,
    lãnh chịu đủ hết
    khổ sở độc địa.
    Hình hài hèn kém
    có bởi bào thai,
    đời đời liên tiếp
    cứ thêm lên mãi.
    Họ là những kẻ
    mỏng đức thiếu phước,
    và bị đủ thứ
    khổ não bức bách.

    (64) Nên họ lạc vào
    rừng rậm tà kiến,
    chấp có thế này
    chấp không thế khác.
    Căn cứ những thứ
    tà kiến như vậy,
    họ lần đủ cả
    sáu hai tà kiến,
    đắm sâu vào trong
    chủ thuyết hư vọng,
    chấp nhận cứng chắc
    không thể xả bỏ.

    (65) Họ đầy ngã mạn,
    tự cao, dua nịnh,
    quanh co, xảo trá.
    Vạn ức thời kỳ
    họ không nghe được
    danh từ Phật đà,
    chánh pháp Phật đà
    càng không nghe thấy.
    Những người như vậy
    thật khó hóa độ.

    (66) Này Xá lợi Phất,
    vì những người ấy
    cho nên Như Lai
    lập chước phương tiện:
    nói cho họ biết
    con đường diệt khổ,
    chỉ cho họ rõ
    về sự niết bàn.
    Nhưng mà Như Lai
    dẫu nói niết bàn,
    sự niết bàn đó
    chưa thật niết bàn.

    (67) Vì vậy Như Lai
    khai thị nguyên lý:
    các pháp xưa nay
    thường tự vắng lặng.
    Con Phật đi trọn
    đường đi của mình
    thì trong tương lai
    được thành Phật đà,
    như thế mới là
    niết bàn đích thực.

    (68) Như vậy đủ thấy
    do phương tiện lực
    mà Như Lai có,
    Như Lai khai thị
    đủ hết các pháp
    của ba cỗ xe;
    kỳ thật tất cả
    chư Phật Như Lai
    đều chỉ nói đến
    cỗ xe duy nhất.

    (69) Ngày nay đại hội
    hãy bỏ nghi hoặc.
    Lời chư Phật nói
    không khác sự thật:
    chỉ có cỗ xe
    Phật đà duy nhất,
    không hai cỗ xe
    thứ hai thứ ba.
    *

    (70) Vô số thời kỳ
    thuộc thì quá khứ,
    vô lượng chư Phật
    đã nhập niết bàn;
    những loại số mục
    trăm ngàn vạn ức
    không thể đem ra
    mà tính cho được.

    (71) Chư Phật như vậy
    đã dùng đủ thứ
    yếu tố, ví dụ
    của phương tiện lực,
    diễn đạt thật tướng
    tất cả các pháp.

    (72) Nghĩa là các ngài
    cũng nói giáo pháp
    cỗ xe duy nhất,
    giáo hóa chúng sinh
    làm cho vào được
    tuệ giác Phật đà.

    (73) Chư Phật quá khứ,
    những chúa thánh triết,
    biết rõ thị hiếu
    từ trong thâm tâm
    của cả thế gian,
    trong đó bao gồm
    chư thiên, nhân loại
    và bao loài khác,
    cho nên sử dụng
    phương tiện khác nhau
    để giúp phát lộ
    chân lý bậc nhất.

    (74- Ấy là ai gặp
    75) chư Phật quá khứ,
    được nghe thuyết pháp
    và rồi bố thí,
    giữ giới, nhẫn nhục,
    cùng với tinh tiến,
    thiền định, trí tuệ,
    làm đủ các pháp
    của cả hai loại
    phước đức tuệ giác,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (76) Chư Phật quá khứ
    nhập Niết bàn rồi,
    ai có tâm lý
    tốt đẹp mềm dịu,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (77-78) Chư Phật quá khứ
    nhập Niết bàn rồi,
    những ai hiến cúng
    xá lợi các ngài,
    bằng cách xây dựng
    vạn ức chùa tháp,
    lại đem bạc, vàng,
    cùng với pha lê,
    xa cừ, mã não,
    mai khôi, lưu ly,
    trang hoàng quang đãng
    trần thiết tráng lệ,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (79-80) Ai dựng chùa tháp
    bằng đá cẩm thạch,
    bằng những thứ gỗ
    đàn hương, trầm hương,
    cùng với gỗ mật
    và gỗ quý khác;
    ai dựng chùa tháp
    bằng gạch, đất sét;
    hay nơi hoang dã
    đắp nổi gò đất
    tạo thành chùa tháp
    chư Phật quá khứ;

    (81) thậm chí trẻ con
    vui đùa đắp tháp
    mà tưởng tượng rằng
    xây dựng tháp Phật,
    tất cả người này
    đã thành Phật tuệ.

    (82) Ai vì chư Phật
    trong thì quá khứ
    mà tạo hình tượng
    chạm trỗ tướng tốt,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (83) Hoặc tạo tượng Phật
    bằng bảy chất quý,
    bằng các loại đồng
    vàng đỏ và trắng,

    (84) bằng chì, thiết, sắt,
    gỗ với đất sét;
    hoặc dùng các thứ
    keo, sơn, vải bố,
    bồi đắp tô chuốt
    mà làm tượng Phật;
    tất cả người này
    đã thành Phật tuệ.

    (85) Hoặc dùng hội họa
    vẽ ra tượng Phật
    đủ cả các tướng
    trăm phước trang nghiêm,
    tự mình vẽ ra
    hay nói người vẽ,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (86) Đến nỗi trẻ con
    dùng cỏ, cây, bút,
    ngón tay, móng tay,
    vẽ chơi tượng Phật,

    (87) thì những trẻ ấy
    công đức dồn chứa,
    từ bi hoàn hảo,
    đã thành Phật tuệ,
    và chỉ giáo hóa
    chư vị Bồ tát,
    cứu độ vô lượng
    các loại chúng sinh.

    (88) Nếu ai đối với
    chùa tháp, hình tượng,
    tượng ngọc, tượng vẽ
    chư Phật quá khứ,
    mà đem bông hoa
    các loại hương liệu
    tràng phan bảo cái
    cung kính hiến cúng;

    (89-92) nếu ai tấu nhạc,
    đánh trống, thổi còi,
    thổi ốc, ống tiêu,
    ống sáo, đàn cầm,
    đàn hầu, tỳ bà,
    chiên nhỏ, bạt đồng,
    đem hết âm thanh
    nghe hay như vậy
    hiến lên chư Phật
    trong thì quá khứ;
    hoăëc là hoan hỷ
    ca hát, ngâm vịnh,
    tán dương đức tính
    chư Phật quá khứ;
    và làm như vậy
    dầu một tiếng nhỏ;
    tất cả người này
    đã thành Phật tuệ.

    (93) Những ai trong lòng
    tư tưởng xao lãng,
    chỉ được mỗi một
    bông hoa mà thôi,
    và chỉ hiến cúng
    tượng vẽ mà thôi,
    cũng vẫn dần dần
    gặp vô số Phật.

    (94) Ai biết lễ bái,
    hay chỉ chắp tay,
    đến nỗi đưa lên
    chỉ một cánh tay,
    hoặc chỉ hơi khẽ
    cúi đầu mình xuống,
    hiến cúng tượng Phật
    bằng những cách ấy
    cũng đã dần dần
    gặp vô lượng Phật,
    tự thành tựu được
    tuệ giác vô thượng,
    hóa độ rộng rãi
    vô số các chúng,
    và rồi nhập vào
    Niết bàn hoàn toàn
    tựa như củi hết
    thì lửa cũng tắt.

    (95) Những kẻ trong lòng
    tư tưởng xao lãng,
    bước vào chùa tháp
    chư Phật quá khứ,
    chỉ nói một tiếng
    con tôn kính Phật,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (96) Ở nơi chư Phật
    quá khứ như vậy,
    mà lúc các ngài
    đang còn ở đời
    hay lúc các ngài
    nhập Niết bàn rồi,
    những ai nghe danh
    của pháp như vầy,
    thì những người ấy
    đã thành Phật tuệ.

    (97) Chư Phật Như Lai
    trong thì vị lai
    số lượng vô số,
    các ngài cũng dùng
    mọi cách phương tiện
    tuyên thuyết về pháp.

    (98) Các ngài cũng dùng
    vô số phương tiện
    cứu thoát chúng sinh,
    dẫn vào tuệ giác
    không còn sai sót
    của chư Phật đà.

    (99) Những người được nghe
    pháp các ngài thuyết,
    thì không một ai
    không thành Phật đà.
    Bởi vì các ngài
    cũng lập thệ nguyện
    nguyện đem trí Phật
    mà mình hoàn thành
    dìu dắt hết thảy
    các loại chúng sinh
    cũng được hoàn thành
    trí Phật như vậy.

    (100) Chư Phật vị lai
    dẫu cũng sẽ nói
    về các pháp môn
    nhiều đến vạn ức,
    kỳ thật chỉ vì
    cỗ xe duy nhất.

    (101) Chư Phật: các đấng
    phước tuệ hoàn hảo,
    thấy biết các pháp
    thường không cố định,
    giống Phật cũng phát
    từ các yếu tố;
    thấy biết như vậy
    nên chư Phật đà
    tuyên thuyết giáo pháp
    cỗ xe duy nhất.

    (102) Chính vì vốn là
    bản thể an trú,
    bản thể nguyên vị,
    cho nên thật tướng
    của chính thế gian
    cũng vẫn thường trú;
    tại Bồ đề tràng
    các đức Đạo sư
    biết rõ như vậy,
    nên dùng phương tiện
    tuyên thuyết giáo pháp
    cỗ xe duy nhất.

    (103) Chư Phật hiện tại
    ở khắp mười phương,
    toàn là những bậc
    trời người hiến cúng,
    số lượng nhiều như
    cát của sông Hằng.
    Chư Phật như vậy
    xuất hiện thế gian,
    vì muốn làm cho
    chúng sinh yên vui
    nên cũng tuyên thuyết
    về diệu pháp này.

    (104) Chư Phật như vậy
    thấu triệt nguyên lý
    vắng lặng bậc nhất,
    và rồi áp dụng
    năng lực phương tiện,
    phô bày đủ hết
    các loại chánh pháp;
    tuy làm như vậy
    mà thật chỉ vì
    cỗ xe Phật đà.

    (105-106) Tính nết, quan niệm,
    việc làm đời trước,
    thị hiếu, khuynh hướng,
    nổ lực, năng lực,
    các căn lanh chậm,
    chư Phật biết rõ
    tất cả điều này
    của các chúng sinh.
    Thế rồi các ngài
    áp dụng đủ thứ
    yếu tố, ví dụ,
    cùng với lời chữ,
    tùy sự nên nói
    phương tiện mà nói.

    (107) Ngày nay Như Lai
    cũng làm như vậy.
    Để làm yên vui
    cho các chúng sinh,
    Như Lai thiện dụng
    các cách huấn dụ,
    tuyên thuyết biểu thị
    tuệ giác Phật đà.

    (108) Với trí tuệ lực,
    Như Lai nhận thức
    bản tính, thị hiếu
    của các chúng sinh,
    phương tiện thuyết pháp
    làm hoan hỷ cả.

    (109) Này Xá Lợi Phất,
    tôn giả nên biết,
    Như Lai sử dụng
    mắt Phật mà nhìn
    thì thấy chúng sinh
    trong cả sáu đường
    đều quánghèo nàn
    phước đức tuệ giác,
    lạc vào đường hiểm
    của chốn sống chết,
    cái khổ liên tục
    không hề dứt mất.

    (110) Họ dính sâu xa
    vào năm dục lạc,
    như bò đuôi dài
    tự cưng đuôi nó.
    Tham lam đam mê
    tự che phủ lấy,
    làm họ đui mù
    không thấy gì cả:
    không biết tìm Phật
    bậc cực hùng mạnh,
    không biết cầu pháp
    yếu tố dứt khổ.

    (111) Họ đi sâu vào
    chủ thuyết sai lầm,
    sử dụng đau khổ
    mong hết đau khổ.
    Chính vì bao kẻ
    như thế này đây,
    Như Lai động lòng
    thương xót lớn lao.

    (112-113) Trong khi mới ngồi
    nơi Bồ Đề tràng,
    vừa thành tựu được
    tuệ giác vô thượng,
    Như Lai nhìn vào
    Bồ đề đại thọ,
    lại còn kinh hành
    quanh đại thọ ấy,
    ba tuần liên tiếp
    suy nghĩ như vầy:
    Tuệ giác Như Lai
    đã thành tựu được
    thì rất tinh túy
    cao tột bậc nhất;
    còn như các căn
    của bao chúng sinh
    thì quá chậm chạp,
    lại bị cái ngu
    vì ham dục lạc
    làm mù tâm trí,
    những kẻ như vậy
    làm sao hóa độ?

    (114-116) Khi ấy các vị
    Phạn Vương, Đế Thích,
    bốn đại Thiên Vương
    hộ vệ thế gian,
    Đại Tự Tại Thiên,
    cùng các thiên chúng
    tùy thuộc của họ
    nhiều đến ngàn vạn,
    cung kính chắp tay
    đảnh lễ thỉnh cầu
    Như Lai chuyển đẩy
    bánh xe chánh pháp.
    Như Lai tức thì
    suy nghĩ như vầy:
    Nếu chỉ tán dương
    cỗ xe Phật đà,
    những kẻ chìm ngập
    ở trong đau khổ
    không thể tin được
    về pháp như vậy.
    Rồi vì phá hoại
    không tin vào pháp,
    nên rơi vào lại
    trong ba đường dữ.
    Như vậy thà là
    Như Lai không nói,
    mà nên mau chóng
    nhập vào Niết bàn.

    (117) Nhưng rồi Như Lai
    tức thì nhớ đến
    chư Phật Như Lai
    trong thì quá khứ,
    nhớ đến phương tiện
    các ngài thi hành,
    và nghĩ như vầy:
    Tuệ giác vô thượng
    mà nay Như Lai
    đã thực hiện được,
    Như Lai cũng phải
    áp dụng phương tiện
    mà tuyên thuyết ra
    đủ ba cỗ xe.

    (118) Ngay khi Như Lai
    suy nghĩ như vậy,
    chư Phật mười phương
    đều hiện trước mắt,
    dùng tiếng Phạn thiên
    khuyến khích Như Lai,
    nói rằng tốt lắm
    Thích Ca Thế Tôn!

    (119) Ngài là vị thầy
    dẫn đạo bậc nhất!
    Ngài đã hoàn thành
    cái pháp tối thượng,
    thì nên thể theo
    hết thảy chư Phật
    mà cùng dùng đến
    nghệ thuật phương tiện.

    (120) Chư Phật chúng tôi
    cũng hoàn thành được
    cái pháp bậc nhất
    rất tinh túy ấy,
    và vì chúng sinh
    các loại khác nhau
    nên phải phân ra
    nói ba cỗ xe.
    Vì kẻ trí nhỏ
    chỉ thích pháp nhỏ,
    không thể tự tín
    mình sẽ làm Phật.

    (121) Do vậy chúng tôi
    áp dụng phương tiện,
    phân nói các loại
    tuệ giác ba xe,
    và tuy nói cả
    tuệ giác ba xe,
    kỳ thật chỉ dạy
    các vị Bồ tát.

    (122) Này Xá Lợi Phất,
    tôn giả nên biết,
    Như Lai nghe được
    tiếng nói tuyệt diệu
    trong thanh thâm thúy
    của chư Như Lai –
    những bậc sư tử
    của các thánh triết,
    tức thì hoan hỷ
    và thốt lên rằng:
    Tôi xin tôn kính
    chư vị Phật đà!

    (123) Như Lai lại nghĩ:
    Như Lai xuất hiện
    nhằm vào thời kỳ
    dữ dội vẩn đục,
    thì như lời lẽ
    của chư Phật nói,
    Như Lai cũng phải
    thể theo mà làm.

    (124) Như Lai nghĩ rồi
    liền đến Lộc Uyển.
    Thật tướng các pháp
    vốn rất vắng lặng,
    không thể diễn tả
    bằng những lời chữ,
    nhưng mà Như Lai
    áp dụng phương tiện
    nói pháp ấy ra
    cho năm Tỷ kheo.

    (125) Như vậy gọi là
    quay bánh xe pháp,
    thế gian liền có
    danh hiệu Niết bàn,
    lại còn có cả
    danh hiệu La Hán,
    có pháp có Tăng
    danh hiệu khác biệt.

    (126) Từ đó đến nay
    Như Lai ca tụng
    Niết bàn hết hẳn
    cái khổ sống chết.
    Như Lai thường xuyên
    đã nói như vậy.

    (127) Nhưng Xá Lợi Phất,
    tôn giả nên biết,
    Như Lai lại thấy
    có những con Phật
    quyết chí cầu được
    tuệ giác Phật đà.
    Số ấy nhiều đến
    vô lượng vạn ức.

    (128) Ai cũng cung kính
    đến chỗ Như Lai,
    vì các đời trước
    họ đã từng nghe
    pháp mà chư Phật
    phương tiện tuyên thuyết.

    (129) Như Lai lúc ấy
    suy nghĩ như vầy:
    Sở dĩ Như Lai
    xuất hiện thế gian
    là để tuyên thuyết
    tuệ giác Phật đà,
    thì nay chính là
    thì gian tuyên thuyết.

    (130) Này Xá Lợi Phất,
    tôn giả nên biết,
    những kẻ trí nhỏ,
    các căn chậm chạp,
    chấp trước hình thức,
    kiêu căng ngạo mạn,
    thì không thể nào
    tin được pháp này.
    Nhưng mà pháp này
    Bồ tát sẽ nghe.

    (131) Thế nên ngày nay
    Như Lai cảm thấy
    hoan hỷ hết sức,
    chứ không e ngại.
    Ngay giữa đại chúng
    chư vị Bồ tát,
    Như Lai thẳng thắn
    loại bỏ phương tiện,
    chỉ còn nói đến
    tuệ giác vô thượng.

    (132) Chư vị Bồ tát
    nghe được pháp này
    thì lưới ngờ vực
    thoát bỏ được cả,
    mà ngàn hai trăm
    chư vị La hán
    ai nấy cũng sẽ
    được làm Phật đà.

    (133-134) Cho nên y như
    thể thức thuyết pháp
    của chư Phật đà
    trong ba thì gian,
    ngày nay Như Lai
    cũng làm như vậy:
    Tuyên thuyết về pháp
    không có khác nhau.

    (135) Chư Phật xuất thế
    là sự khó có,
    vì lẽ lâu xa
    mới gặp một lần.
    Mà dẫu chư Phật
    đã xuất thế rồi,
    nói về pháp này
    là sự khó có.
    Vô số thời kỳ
    mới nghe pháp này,
    nên sự nghe ấy
    là sự khó có.
    Và rồi những ai
    nghe nổi pháp này,
    thì người như vậy
    là người khó có.

    (136) Như hoa Ưu đàm
    ai cũng ưa thích,
    đến như chư thiên
    cũng thấy hiếm có,
    vì lẽ thỉnh thoảng
    mới trổ một lần.

    (137) Những người nghe nổi
    pháp như thế này,
    nghe rồi hoan hỷ
    ca tụng tán dương,
    thì dẫu đến nỗi
    chỉ pháp một lời,
    cũng đã hiến cúng
    tam thế chư Phật.
    Nên người như vậy
    hết sức khó có,
    khó có hơn cả
    hoa thiêng Ưu đàm.

    (138) Tất cả các chúng
    các người đừng nghi!
    Như Lai là bậc
    vua của các pháp,
    phổ cáo các người
    biết rằng Như Lai
    chỉ đem giáo pháp
    cỗ xe duy nhất
    mà giáo hóa cho
    chư vị Bồ tát.
    Như Lai không có
    đệ tử Thanh văn.

    (139) Này Xá Lợi Phất,
    tất cả các người,
    bất luận Thanh văn
    hay là Bồ tát,
    đều phải biết rằng
    pháp tinh túy này
    chính là bí yếu
    của chư Phật đà.

    (140) Thời kỳ dữ dội
    đầy năm vẩn đục,
    con người chỉ thích
    đắm say dục lạc,
    không bao giờ muốn
    cầu tuệ giác Phật.

    (141) Nên những kẻ ác
    trong tương lai ấy
    dẫu được nghe đến
    cỗ xe duy nhất
    của Như Lai nói,
    cũng ngu và lầm,
    không thể tin tưởng,
    không chịu tiếp nhận
    phá hoại pháp ấy
    và sa đường dữ.

    (142) Chỉ có những ai
    hổ thẹn, trong sạch,
    quyết chí tìm đến
    tuệ giác Phật đà,
    thì cần phải vì
    những người như vậy
    tán dương rộng rãi
    cỗ xe duy nhất.

    (143) Này Xá Lợi Phất,
    chư vị phải biết,
    nguyên tắc chư Phật
    là như thế đó:
    Vận dụng phương tiện
    tùy nghi thuyết pháp.
    Ai không tu học
    không thể hiểu thấu.

    (144) Đến như chư vị
    khi đã biết được
    sự thể tùy nghi
    phương tiện thuyết pháp
    của chư Phật đà,
    bậc thầy thế gian,
    thì đừng còn nữa
    những sự nghi hoặc.
    Tất cả chư vị
    hãy vui mừng lên,
    khi tự biết chắc
    mình sẽ làm Phật.


    Kết thúc tụng kinh Pháp Hoa, chúng con xin hồi hướng:
    Vạn ức thời kỳ
    không thể nói được
    mới được có lúc
    Phật nói Pháp Hoa.
    Vạn ức thời kỳ
    không thể nói được
    mới được có lúc
    nghe nói Pháp Hoa.
    Chúng con nương nhờ
    Phật Pháp Tăng lực
    mới được trì tụng
    Diệu Pháp Liên Hoa.
    Chúng con nguyện đem
    công đức như vầy
    hiến khắp tất cả
    các loại chúng sinh,
    cầu cho chúng con
    cùng với chúng sinh
    đều được thành tựu
    tuệ giác chư Phật.

    Kính lạy kinh Diệu Pháp Liên Hoa, bản kinh của tuệ giác bình đẳng vĩ đại, bản kinh dạy cho Bồ tát và được chư Phật giữ gìn. Kính lạy tất cả Pháp bảo trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ.

    Kính lạy đức Thích Ca Mâu Ni, đức Phật giáo chủ bổn sư, đã tuyên thuyết kinh Pháp Hoa. Kính lạy đức Đa Bảo, đức Phật đã làm chứng cho kinh Pháp Hoa toàn là chân thật. Kính lạy đức Di Lạc, đức Phật đương lai đã phát khởi kinh Pháp Hoa và tiếp dẫn những người hành trì Pháp Hoa vãng sinh Đâu Suất tịnh độ. Kính lạy tất cả Phật bảo trong kinh Pháp Hoa, trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ.

    Kính lạy Bồ tát Văn Thù, vị pháp sư Pháp Hoa. Kính lạy Bồ tát Phổ Hiền, vị khuyến phát Pháp Hoa. Kính lạy Bồ tát Quán Âm, vị đại sĩ toàn diện. Kính lạy tất cả Tăng bảo là các vị Bồ tát, các vị Duyên giác và các vị Thanh văn trong kinh Pháp Hoa, trong quốc độ này và trong mười phương quốc độ.


     

    Lược Dẫn & Cuốn 1 | Cuốn 2 | Cuốn 3 | Cuốn 4 | Cuốn 5 | Cuốn 6 | Cuốn 7 | Phẩm Phổ Hiền | Kinh Pháp Hoa Toát Yếu |

    Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9

  • THÂU ÂM KINH PHẬT  (audio)

    THÂU ÂM KINH PHẬT (audio)

    Pháp Ảnh Lục là bộ  kinh sách do Trưởng lão Thích Trí Quang  dịch từ Hán văn. Nay trong lòng muốn ghi âm nên từ từ đọc và thâu. Không dám nghĩ xa, đơn giản từng trang kinh một. 

    Thâu âm như vậy để mang theo bên mình. Bất cứ ở đâu lúc nào, được chút ít thời gian là có thể lắng tâm đọc theo lời Phật.

    Xin chia sẻ
    10/2019
    Đệ tử tại gia Hồng Như

    [/expand]

    Di Huấn của Trưởng Lão Thích Trí Quang

    8/11/2019: Ôn Trí Quang vừa mới thị tịnh, để lại di huấn như sau:
    
    1 - Sau giờ chết rồi độ 6 giờ là liệm.
    2 - Liệm rồi các Pháp tử lạy 3 lạy rồi đưa ra xe tang.
    3- Không bàn thờ, bát nhang, báo tang, thành phục, đưa đám, phúng điếu.
    4- Chuyển đến lò thiêu; thiêu rồi đem về chùa làm tuần, chung thất, trăm ngày, tiểu tường và đại tường.
    5- Mỗi lễ chỉ tụng một trong các kinh: Địa Tạng, Kim Cương, Bồ Tát Giới, Pháp Hoa, và Thủy Sám.
    6- Mỗi lễ đều không thông báo và mời ai dự cả.
    
    Xin từ từ thâu các bộ kinh Địa Tạng, Kim Cương, Bồ Tát Giới, Pháp Hoa, và Thủy Sám trong di huấn.
    
    Với lòng biết ơn vô cùng vô tận.
    Đệ tử tại gia Hồng Như

    1. KINH KIM CƯƠNG: ĐÃ CÓ

    KINH KIM CƯƠNG – [Diamond Cutter Sutra]

    🖹 Văn Bản (text) http://hongnhu-archive.org/kinh-kim-cuong

    Phần 1 – CHÁNH VĂN

    Phần 2 – DẪN NHẬP


    Phần 3 – LƯỢC GIẢI:

    Không thâu âm, xin đọc văn bản

    2. Kinh Pháp Hoa: đang thâu

    3. Kinh Địa Tạng: thâu rồi, sẽ up

    4. KINH THỦY SÁM: ĐÃ CÓ

    KINH THỦY SÁM

    🖹 Văn Bản (text) http://hongnhu-archive.org/thuy-sam

    5. PHẨM PHỔ HIỀN, trích Kinh Hoa Nghiêm: ĐÃ CÓ

    PHẨM PHỔ HIỀN, KINH HOA NGHIÊM
    [Samantabhadra King of Prayers]

    🖹 Văn Bản (text):  http://hongnhu-archive.org/pham-pho-hien-kinh-hoa-nghiem/

    6. KINH SÁM DƯỢC SƯ: ĐÃ CÓ

    KINH SÁM DƯỢC SƯ
    [Medicine Buddha Sutra and Confessions]

    đọc không hay, để thâu lại.


    🖹Văn Bản (text)  http://hongnhu-archive.org/duoc-su-kinh-sam/

    7. KINH ÁNH SÁNG HOÀNG KIM: ĐÃ CÓ

    KINH ÁNH SÁNG HOÀNG KIM – [Golden Light Sutra]

    🖹 Văn bản: <WEB – Trì Tụng, mỗi ngày một ít >

    Nghe trọn bộ 8h