Tag: luan-an-do

  • Long Thọ: TRUNG QUÁN LUẬN

    Tác giả: Thánh giả Long Thọ – Nagarjuna

    Điều kiện hành trì: Ai cũng có thể đọc và tu theo sách này, không cần quán đảnh.
    Điều kiện sử dụng: Tùy nghi sử dụng, in ra giấy cho cá nhân hay cho pháp hội không cần xin phép, với điều kiện không sửa đổi nội dung và không bán kiếm lời. Nếu có ý định in, xin mời đáo trở lại trang web này tìm bản mới hơn.

    TRUNG QUÁN LUẬN

    དབུ་མ་རྩ་བའི་ཚིག་ལེའུར་བྱས་པ་ཤེས་རབ་ཅེས་བྱ་བ།་
    còn gọi là Căn Bản Trí Tuệ Trung Quán Luận Tụng hay Trung Luận
    Tác giả: Thánh giả Long Thọ – Nagarjuna
    Hồng Như Thupten Munsel chuyển Việt ngữ
    từ bản Tạng ngữ của Ngài Patsab Nyima Drakpa

    Mọi sai sót là của người dịch,
    Mọi công đức xin hồi hướng pháp giới chúng sinh

    Bản đã duyệt theo luận giải Minh Cú Luận.
    Cập nhật mới nhất ngày 26/03/2026

    Ghi Chú: Ở đây, lời của chư vị theo hệ tri kiến khác với tri kiến Ứng Thành Phái được đặt trong ngoặc kép «…». Đó là căn cứ theo Minh Cú Luận của Ngài Nguyệt Xứng.


    TRUNG QUÁN LUẬN

    Tựa đề tiếng Phạn: Mūlamadhyamakakārikā
    Tựa đề tiếng Tạng: དབུ་མ་རྩ་བའི་ཚིག་ལེའུར་བྱས་པ་ཤེས་རབ་ཅེས་བྱ་བ། །་
    Tựa đề tiếng Việt: Trung Quán Luận

    [Tựa đề quen thuộc với Việt nam là Trung Quán Luận hay Trung Luận. Dịch sát nguyên văn Phạn ngữ là Căn Bản Trung Quán Luận Tụng, dịch sát nguyên văn Tạng ngữ là Căn Bản Trí Tuệ Trung Quán Luận Tụng gọi tắt là Căn Bản Trí Tuệ.


    Kính lạy đức Văn Thù Đồng Tử.

    > PHẨM 1: QUÁN DUYÊN

    [Khai Luận] Bất cứ thứ gì / đã duyên sinh thì
    Không diệt; không sinh;
    Không đoạn; không thường;
    Không đến; không đi;
    Không khác; không một;
    Tịch niệm, tịnh yên.
    Bậc thuyết pháp này / là Phật chánh giác,
    Thù thắng nhất trong / các đấng thuyết sư,
    Đệ tử kính xin / đê đầu đảnh lễ.

    [1:1.] Không từ chính mình; / không từ thứ khác;
    Không từ cả hai; / không là không nhân:
    Sự vật thứ gì / ở đâu lúc nào
    Cũng chẳng từng có / sinh ra bao giờ.

    [1:2.] — « Duyên sinh có bốn: / đó là: nhân duyên;
    Cùng sở duyên duyên; / với thứ đệ duyên;
    Và cũng tương tự, / có tăng thượng duyên.
    Chỉ thế không hề / có duyên thứ năm. »

    [1:3.] Tự tánh sự vật / không hề nằm ở
    Nơi duyên hay là / ở nơi nào khác.
    Nếu như ngã tánh / đã là không có,
    Vậy thì tha tánh / cũng không là có.

    [1:4.] Không có việc nào / ứng cùng với duyên;
    Không ứng cùng duyên / thì không có việc.
    Duyên không ứng việc / chẳng phải là duyên;
    Duyên ứng với việc / cũng là như thế.

    [1:5.] Nhờ vào điều này / nên mới khởi sinh
    Do đó mà gọi / điều này là duyên.
    Nhưng trước khi sinh, / tại sao khi ấy
    Điều này lại chẳng / là không phải duyên?

    [1:6.] Cho dù là có / hay là không có,
    Cũng vẫn không hề / tương ứng với duyên.
    Đã không, thì duyên / là duyên của ai?
    Đã có, thì duyên / là để làm gì?

    [1:7.] Khi mà các pháp / dù có, dù không,
    Vừa có vừa không, / đều không thiết lập,
    Vậy thứ thiết lập / sao gọi là nhân?
    Nếu là như thế / thì không đúng lý.

    [1:8.] Pháp có này đây / đối cảnh của nó
    Thật sự không có / lại bảo rằng có.
    Nếu như các pháp / đã không đối cảnh
    Vậy có sở duyên / là có ở đâu?

    [1:9.] Các pháp khi mà / chưa có sinh ra
    Thì đâu lý nào / lại là có diệt.
    Nếu vẫn diệt thì / lấy gì làm duyên?
    Nên thứ đệ duyên / là điều phi lý.

    [1:10.] Bởi vì không hề / có sự vật nào
    Không có tự tánh / mà có hiện hữu,
    Cho nên nói rằng, / « vì cái này có
    Nên cái kia sinh, »  / là không đúng lý.

    [1:11.] Dù duyên riêng lẻ / hay duyên tập hợp,
    Quả vẫn không hề / có ở nơi duyên.
    Điều gì vốn đã / không có nơi duyên,
    Làm sao có thể / từ duyên sinh khởi?

    [1:12.] Nếu bảo — « Quả dù / không có nơi duyên
    Cũng vẫn có thể / từ duyên sinh khởi, »
    Thế thì tại sao / lại không thể nào
    Từ nơi không phải / là duyên sinh ra?

    [1:13.] Nếu quả là mang / tự tánh của duyên,
    Nhưng duyên thì lại / không có tự tánh.
    Thứ không có tánh / thì quả của nó
    Đâu thể nào mang / tự tánh của duyên.

    [1:14.] Nên quả không cùng / tự tánh với duyên,
    Không cùng tự tánh / với không phải duyên.
    Quả đã không có / thì dù là duyên
    Hay không phải duyên / cũng đâu thể có?

    Đến đây hết Phẩm 1, tên là Quán Duyên.


    > PHẨM 2: QUÁN SỰ ĐI LẠI

    [2:1.] Trước hết, không đi / ở chỗ đã đi.
    Cũng không có đi / ở chỗ chưa đi.
    Ngoại trừ những chỗ / đã đi, chưa đi,
    Biết còn chỗ nào / để mà đang đi?

    [2:2.] — « Ở đâu chuyển động / ở đó có đi.
    Có sự chuyển động / ở chỗ đang đi,
    Không động ở chỗ / đã đi, chưa đi,
    Nên có sự đi / ở chỗ đang đi. »

    [2:3.] Nói có sự đi / ở chỗ đang đi,
    Điều này đâu thể / là điều hợp lý.
    Vì bởi khi mà / không có sự đi,
    Thì chỗ đang đi / trở thành phi lý.

    [2:4.] Ai nói sự đi / ở chỗ đang đi,
    Ắt có đang đi / mà không có đi.
    Vướng nghịch lý này / là vì cho rằng
    Sự đi là nằm / ở chỗ đang đi.

    [2:5.] Nếu ở chỗ đi / mà có sự đi
    Thì sự đi ấy / ắt phải có hai:
    Một là sự đi / ở chỗ đang đi,
    Hai là sự đi / ở thứ đang đi.

    [2:6.] Nếu như sự đi / đã là có hai,
    Vậy thì người đi / cũng phải có hai.
    Là vì nếu như / không có người đi,
    Thì sự đi cũng / không thể nào có.

    [2:7.] Nếu như người đi / đã là không có
    Thì đâu lý nào / lại có sự đi.
    Không có sự đi / vậy thì người đi
    Tìm đâu cho có?

    [2:8.] Trước hết người đi / thì không có đi.
    Không phải người đi / cũng không có đi.
    Ngoài người đi và / không phải người đi,
    Đâu có trường hợp / thứ ba nào đi?

    [2:9.] Khi mà sự đi / đã là không có
    Thì đâu lý nào / lại có người đi.
    Nếu như nói rằng / « người đi có đi »
    Làm sao có thể / là điều hợp lý?

    [2:10.] Ai theo quan niệm / « người đi có đi »
    Thì cũng sẽ phải / chấp nhận nghịch lý.
    Là có người đi / mà không có đi,
    Vì đã khẳng định / « người đi có đi. »

    [2:11.] Nếu như cho rằng / người đi có đi,
    Vậy thì cũng phải / có hai sự đi:
    Sự đi làm cho / thành có người đi,
    Và sự đi của / người đi khi đi.

    [2:12.] Sự đi không khởi / ở chỗ đã đi;
    Cũng không phát khởi / ở chỗ chưa đi;
    Cũng không phát khởi / ở chỗ đang đi.
    Vậy thì sự đi / phát khởi chỗ nào?

    [2:13.] Thời điểm trước khi / phát khởi sự đi
    Thì sự đi ấy / bắt đầu từ đâu?
    Không phải ở chỗ / đang đi, đã đi,
    Đâu thể nào nằm / ở chỗ chưa đi?

    [2:14.] Mọi điểm xuất phát / của sự đi kia
    Đều không thể thấy. / Đã là như vậy
    Thì có gì là / đã đi, đang đi,
    Hay là chưa đi, / để mà phân biệt?

    [2:15.] Trước hết, người đi / thì không đứng lại.
    Không phải người đi / cũng không đứng lại.
    Ngoài người đi và / không phải người đi,
    Đâu còn trường hợp / thứ ba nào đứng?

    [2:16.] Khi mà sự đi / đã là không có
    Thì đâu lý nào / lại có người đi!
    Vậy thì nói rằng / « người đi đứng lại »
    Làm sao có thể / là điều hợp lý?

    [2:17.] Ở chỗ đang đi / thì không đứng lại,
    Cũng không đứng chỗ / đã đi, chưa đi.
    Đang đi, khởi đi / hay là đứng lại,
    Cũng đều tương tự / giống như là đi.

    [2:18.] Nói rằng sự đi / chính là người đi
    Thì nói như vậy / là không đúng lý.
    Nói rằng sự đi / khác với người đi
    Thì nói như vậy / cũng không đúng lý.

    [2:19.] Sự đi, người đi,
    Nếu chỉ là một
    Người làm, việc làm,
    Ắt phải là một.

    [2:20.] Sự đi người đi
    Nếu cho rằng khác,
    Ắt có sự đi / mà không người đi,
    Và có người đi / mà không sự đi.

    [2:21.] Một cũng không thành,
    Khác cũng không thành,
    Hai pháp này đây
    Làm sao thiết lập?

    [2:22.] Sự đi nào làm / thành có người đi
    Thì không phải là / sự đi khi đi.
    Vì trước khi đi / người đi không có
    Thì nào có ai / đi đâu bao giờ?

    [2:23.] Sự đi nào làm / thành có người đi
    Thì không khác với / sự đi khi đi,
    Đó là bởi vì / chỉ một người đi
    Có hai sự đi / là không đúng lý.

    [2:24.] Thật là người đi,
    Thì ba cách đi / người ấy không làm.
    Không thật người đi,
    Thì ba cách đi / người ấy không làm

    [2:25.] Vừa thật người đi / vừa là không thật
    Thì ba cách đi / người ấy không làm.
    Vì thế cho nên / đi hay người đi.
    Hay chỗ đi đều / không phải là có.

    Đến đây hết Phẩm 2, tên là Quán Sự Đi Lại.


    > PHẨM 3: QUÁN CĂN [GIÁC QUAN]

    [3:1.] — « Sự thấy, sự nghe, / sự ngửi, sự nếm,
    Sự chạm, sự biết, / là sáu giác quan.
    Đối cảnh của chúng
    Là sắc trần và / năm trần còn lại. »

    [3:2.] Sự thấy vốn không
    Tự thấy chính mình.
    Điều gì chính mình / còn không tự thấy,
    Làm sao có thể / thấy được thứ khác?

    [3: 3.] Lấy ví dụ lửa / để lập sự thấy,
    Nhưng ví dụ này / vốn là vô năng.
    Đã, đang, chưa đi, / những thứ này đây
    Đã được đáp trả / cùng với sự thấy.

    [3:4.] Khi mà chút gì / cũng không nhìn thấy,
    Thì không phải là / cái làm việc thấy.
    Gọi sự thấy là / « cái làm việc thấy »
    Chẳng phải là điều / phi lý lắm sao?

    [3:5.] Sự thấy tự nó / không thể nhìn thấy
    Không phải sự thấy / cũng không nhìn thấy.
    Cần phải hiểu rằng / chính nhờ sự thấy
    Nên mới có thể / nói đến người thấy.

    [3:6.] Rời sự thấy thì / người thấy cũng không;
    Không rời thì cũng / không có người thấy.
    Người thấy đã không / thì thứ được thấy
    Hay sự nhìn thấy / đâu thể nào có.

    [3:7] — « Cũng giống như là / đứa con sinh ra
    Là nhờ dựa vào / nơi cha và mẹ
    Cũng vậy, nhờ dựa / nhãn căn và sắc
    Mà thức phát sinh. »

    [3:8] Được thấy và thấy / đều là không có
    Nên bốn thứ như / thức và đại loại

    [2]
    Cũng đều không có / đã như vậy thì
    Thủ và đại loại

    [3] / làm sao có được?

    [3:9] Sự thấy là vậy, / nên nghe và ngửi,
    Nếm, chạm, và ý,
    Người nghe, sự nghe, / các thứ đại loại,
    Phải hiểu đều cùng / một nghĩa như trên.

    Đến đây hết Phẩm 3, tên là Quán Các Căn.


    > PHẨM 4: QUÁN UẨN

    [4:1.] Nhân này của sắc / nếu như tách lìa,
    Thì sắc ấy cũng / không thể nào thấy.
    Cái gọi là sắc / nếu như tách lìa,
    Thì nhân của sắc / không thể nào hiện.

    [4:2.] Giả sử lìa nhân / mà vẫn có sắc,
    Vậy thì sắc ấy / là sắc không nhân.
    Đâu có lý nào / có chuyện như vậy,
    Thứ không có nhân / chẳng tìm đâu thấy.

    [4:3.] Giả sử lìa sắc
    Mà nhân của sắc / cũng vẫn có được,
    Vậy thì nhân ấy / là nhân không quả.
    Nhân không có quả / là điều không có.

    [4:4.] Sắc nếu là có
    Thì nhân của sắc / đâu lý nào có.
    Sắc nếu không có
    Thì nhân của sắc / đâu lý nào có.

    [4:5.] Sắc mà không nhân,
    Dứt khoát là không! / Không thể nào có!
    Vì lý do ấy, thấy sắc đừng nên
    Khởi lên bất cứ / niệm phân biệt nào.

    [4:6.] Nói quả và nhân / đều giống như nhau
    Là không hợp lý.
    Nói quả và nhân / không giống như nhau
    Cũng không hợp lý.

    [4:7.] Với thọ, tưởng, hành,
    Và thức, cùng với / tất cả mọi thứ,
    Trên đủ mọi mặt / hãy nên áp dụng
    Cùng một trình tự / như là với sắc.

    [4:8.] Biện về tánh không,
    Nếu như có ai / đưa lời đối đáp,
    Mọi đối đáp ấy / không đáp được gì,
    Là vì nói giống / điều cần chứng minh.

    [4:9.] Giảng về tánh không,
    Nếu như có ai / đưa lời bắt lỗi,
    Mọi bắt lỗi ấy / không bắt được gì,
    Vì đều nói giống / điều cần chứng minh.

    Đến đây hết Phẩm 4, tên là Quán Các Uẩn.


    > PHẨM 5: QUÁN GIỚI CHỦNG

    [5:1.] Tướng của không gian / nếu chưa có, thì
    Không gian chút gì / cũng đều không có.
    Còn nếu không gian / mà có trước tướng,
    Thì ắt phải là / thứ không có tướng.

    [5:2.] Thứ không có tướng
    Chẳng tìm đâu ra.
    Đã không thứ gì / là không có tướng,
    Vậy thì tướng ấy / ứng vào chỗ nào?

    [5:3.] Không thể ứng vào / chỗ không có tướng;
    Cũng không thể ứng / vào chỗ có tướng.
    Ngoài chỗ có tướng / và không tướng ra,
    Đâu chỗ nào khác / cho tướng ứng vào.

    [5:4.] Nếu như tướng đã / không thể ứng vào,
    Vậy thì sở tướng / đâu lẽ nào có.
    Sở tướng theo lẽ / đã là không có,
    Vậy thì tướng ấy / cũng là không có.

    [5:5.] Vì thế cho nên / không có sở tướng,
    Và chính tướng ấy / cũng không là có.
    Lìa hết sở tướng / cùng với tướng ra,
    Thì sự vật cũng / không phải là có.

    [5:6.] Nếu sự vật đã / không phải là có,
    Vậy thứ không có / lại là thứ gì?
    Pháp có hay không / đều đã không thuận,
    Thử hỏi lấy gì / biết có, biết không?

    [5:7.] Cho nên không gian / không phải là có,
    Không phải không có, / không phải sở tướng,
    Không phải là tướng / năm chủng còn lại
    Cũng đều tương tự / như là không gian.

    [5:8.] Những người trí mọn / nhìn vào sự vật
    Hoặc thấy là có / hoặc thấy là không.
    Họ không thấy được / cảnh giới tịnh yên
    An nhiên tịch tĩnh.

    Đến đây hết Phẩm 5, tên là Quán Giới Chủng.


    > PHẨM 6: QUÁN THAM VÀ NGƯỜI THAM

    [6:1.] Giả sử « trước khi / có sự tham dục
    Là đã có sẵn / người tham không tham,
    Rồi dựa vào đó / mới có sự tham.
    Người tham có rồi / mới có sự tham. »

    [6:2.] Người tham nếu như / đã là không có
    Vậy sự tham ấy / biết có ở đâu?
    Đối với người tham / cũng như sự tham
    Có hay không có, / đều xét giống nhau.

    [6:3.] Tham và người tham
    Cùng nhau sinh ra / là không hợp lý.
    Như vậy thì tham / cùng với người tham
    Sẽ không có mối / tương quan tùy thuộc.

    [6:4.] Là một thì không / thật sự cùng có:
    Không thể cùng có / với chính bản thân.
    Còn nếu là khác
    Thì đâu làm sao / có thể cùng có.

    [6:5.] Nếu như là một / mà vẫn cùng có,
    Thì không có cặp / vẫn sẽ cùng có.
    Nếu như là khác / mà vẫn cùng có,
    Thì không có cặp / vẫn sẽ cùng có.

    [6:6.] Nếu như là khác / mà vẫn cùng có,
    Phải chăng « người tham / cùng với sự tham
    Được thiết lập là / khác biệt với nhau,
    Rồi sau đó mới / trở thành cùng có ? »

    [6:7.] Tham và người tham
    Nếu đã thiết lập / là khác với nhau
    Thì cớ sao lại
    Nghĩ là cùng có?

    [6:8.] Không thể thiết lập / là khác với nhau
    Nên mới cho rằng / chúng là « cùng có. »
    Để thiết lập là / cùng có với nhau,
    Liệu có cho rằng / chúng là khác biệt?

    [6:9.] Vì thứ khác biệt / đã không thể lập
    Nên thứ cùng có / cũng không thể lập.
    Đâu có sự vật / nào là khác biệt
    Để mà nói đến / sự vật cùng có?

    [6:10.] Đã như vậy thì / tham và người tham
    Cùng có hay không / đều không thiết lập.
    Tương tự như tham, / hết thảy các pháp
    Cùng có hay không / đều không thiết lập.

    Đến đây hết Phẩm 6, tên là Quán Tham Và Người Tham.


    > PHẨM 7: QUÁN SINH TRÚ HOẠI

    [7:1.] Sinh này nếu như / là pháp hữu vi,
    Thì nhất định phải / có đủ ba tướng.
    Sinh này nếu như / là pháp vô vi,
    Thì đâu thể nào / làm tướng hữu vi.

    [7:2.] Sinh, trú, và hoại / tách riêng từng tướng
    Không có khả năng / làm tướng hữu vi.
    Nhưng ở một chỗ, / trong cùng một lúc,
    Hội đủ cả ba / là điều không thể.

    [7:3.] Ở nơi ba tướng / sinh, trú, hoại này
    Có hay không có / tướng hữu vi khác?
    Có thì lâm vòng / hồi quy bất tận,
    Không thì ba tướng / không là hữu vi.

    [7:4.] — « Sự sinh của sinh
    Chỉ sinh bổn sinh,
    Bổn sinh sinh rồi
    Thì sẽ sinh ra / sự sinh của sinh. »

    [7:5.] Sự sinh của sinh, / nếu như ông nói,
    Sinh ra bổn sinh, / vậy thì thử hỏi
    Thứ mà bổn sinh / chưa sinh ra ấy,
    Làm sao có thể / sinh được bổn sinh?

    [7:6.] Nếu thứ sinh từ / bổn sinh của ông
    Lại chính là thứ / sinh ra bổn sinh,
    Nhưng bổn sinh mà / thứ ấy chưa sinh,
    Làm sao có thể / sinh được thứ ấy?

    [7:7.] Giả sử cái thứ / chưa được sinh ra
    Cũng có khả năng / sinh được thứ khác,
    Có như vậy thì / mới như ông nói,
    Thứ đang sinh này / sinh được thứ kia.

    [7:8.] — « Cũng như lửa đèn
    Có thể soi sáng / mình và thứ khác,
    Sự sinh cũng vậy, / mình và thứ khác
    Sinh được cả hai. »

    [7:9.] Nhưng mà lửa đèn / cùng chỗ của nó
    Vốn không có tối,
    Vậy lửa đèn này / soi sáng gì đây?
    Soi sáng thì phải / là xua bóng tối.

    [7:10.] Khi mà lửa đèn / còn đang đốt lên
    Thì chưa tiếp xúc / với lại bóng tối.
    Vậy thì lửa đèn / còn đang đốt kia
    Làm sao có thể / xua bóng tối này!

    [7:11.] Nếu như lửa đèn / không cần tiếp xúc
    Cũng vẫn có thể / xua được bóng tối,
    Vậy thì bóng tối / của khắp thế gian,
    Đèn một chỗ này / xua tan được cả.

    [7:12.] — « Nếu như lửa đèn / có thể soi sáng
    Mình và thứ khác, / vậy thì chắc chắn
    Không chút hoài nghi, / rằng bóng tối cũng
    Có thể che ám / mình và thứ khác. »

    [7:13.] Sự sinh này đây / nếu như chưa sinh,
    Làm sao có thể / tự sinh chính mình?
    Còn nếu sinh từ / sự sinh đã sinh,
    Thì đã sinh rồi / còn sinh gì nữa?

    [7:14.] Đã sinh, chưa sinh, / hay là đang sinh,
    Bất kể cách nào / cũng đều không sinh.
    Điều này trước đây / đã được giải thích
    Qua sự đã đi, / chưa đi, đang đi.

    [7:15.] Cho dù là có / sự sinh chăng nữa,
    Thì thứ đang sinh / cũng vẫn chưa thành.
    Vậy biết lấy gì / để mà nói rằng
    Dựa vào sự sinh, / có thứ đang sinh?

    [7:16.] Điều gì đã là / tùy duyên sinh khởi,
    Bản tánh điều ấy / vốn là tịnh yên.
    Vì thế cho nên / những thứ đang sinh,
    Cũng như sự sinh, / đều là yên tịnh.

    [7:17.] Nếu ở đâu đó / có thứ chưa sinh,
    Thứ ấy dù gì / rồi cũng được sinh.
    Nhưng thứ chưa sinh / thì đâu đã có,
    Vậy thì thứ gì / là thứ được sinh?

    [7:18.] Nếu như nói rằng / « nhờ sự sinh ấy
    Nên mới sinh ra / sự đang sinh này, »
    Vậy sự sinh ấy / nay phải nhờ vào
    Sự sinh nào nữa / để được sinh ra?

    [7:19.] Nếu sinh ra nhờ / một sự sinh khác
    Vậy là lâm vòng / hồi quy bất tận.
    Còn nếu như dù / không sinh vẫn sinh
    Thì tất cả đều / phải sinh như thế.

    [7:20.] Cho dù là có, / hay là không có,
    Thì sự sinh đều / phi lý như nhau.
    Cũng giống « vừa có, / vừa là không có, »
    Như đã giải thích / trong phần trước đây.

    [7:21.] Không có lý nào / lại có thứ gì
    Đang diệt mà sinh.
    Không có lý nào / lại có thứ gì
    Không đang diệt mà / vẫn có thể có.

    [7:22.] Sự vật đã trú / thì không có trú,
    Sự vật chưa trú / thì không có trú,
    Sự vật đang trú / cũng không có trú,
    Đâu có thứ gì / không sinh mà trú.

    [7:23.] Không có lý nào / lại có thứ gì
    Đang diệt mà trú.
    Không có lý nào / lại có thứ gì
    Không đang diệt mà / vẫn có thể có.

    [7:24.] Hết thảy sự vật / ở khắp mọi thời
    Đều là những thứ / có già và chết.
    Có sự vật nào / không già không chết
    Để mà trú đây?

    [7:25.] Trú không trú nhờ / cái trú nào khác,
    Trú nhờ chính mình / cũng là phi lý.
    Giống như là sinh, / không tự mình sinh,
    Cũng không sinh nhờ / sự sinh nào khác.

    [7:26.] Nếu như đã diệt / thì không có diệt.
    Nếu như chưa diệt, / cũng không có diệt.
    Nếu như đang diệt / thì cũng vậy thôi,
    Đâu có thứ gì / không sinh mà diệt.

    [7:27.] Trước tiên hết là / sự vật mà trú
    Thì không lý nào / lại là có diệt.
    Còn nếu như là / sự vật không trú
    Cũng không lý nào / lại là có diệt.

    [7:28.] Trạng thái trú này / không tự diệt bằng
    Cùng một trạng thái,
    Cũng không diệt bằng
    Trạng thái nào khác.

    [7:29.] Một khi toàn bộ / hết thảy các pháp
    Đã chẳng lý nào / mà lại có sinh,
    Thì như thế là / hết thảy các pháp
    Cũng chẳng lý nào / lại là có diệt.

    [7:30.] Trước tiên hết là / sự vật mà có
    Thì không lý nào / lại là có diệt.
    Một thứ mà lại / vừa có vừa không
    Là không thuận lý.

    [7:31.] Còn nếu như là / sự vật không có
    Cũng không lý nào / lại là có diệt.
    Tương tự như là / cái đầu thứ hai,
    Đâu thể chặt đứt.

    [7:32.] Diệt thì không phải / tự một mình diệt,
    Cũng không diệt nhờ / sự diệt nào khác.
    Giống như là sinh, / không tự mình sinh,
    Cũng không sinh nhờ / sự sinh nào khác.

    [7:33.] Sinh, trú, và hoại, / đã không thiết lập
    Thì pháp hữu vi / cũng không thiết lập.
    Nếu pháp hữu vi / đã không thiết lập
    Thì pháp vô vi / lập bằng cách nào?

    [7:34.] Như là chiêm bao, / như là huyễn cảnh,
    Như là thành quách / của Càn thát bà,
    Sinh, trú và hoại
    Được thuyết như vậy.

    Đến đây hết Phẩm 7, tên là Sinh, Trú, Hoại.


    > PHẨM 8: QUÁN NGHIỆP VÀ NGƯỜI TẠO

    — Ghi chú: Nghiệp là những gì do tạo tác mà có, đồng nghĩa với việc làm, hành động, sở tác, v.v… bao gồm tất cả mọi thứ xuất phát từ sự làm.

    [8:1.] Người tạo là thật
    Thì nghiệp nào thật / người ấy không tạo.
    Người tạo không thật
    Thì nghiệp không thật / người ấy không tạo.

    [8:2.] Đã là thật thì / không có việc tạo,
    Vậy là có nghiệp / mà không người tạo.
    Đã là thật thì / không có việc tạo
    Vậy có người tạo / mà không có nghiệp.

    [8:3.] Nếu như người tạo / không phải là thật,
    Tạo tác thứ nghiệp / không phải là thật,
    Vậy thì nghiệp ấy / là nghiệp không nhân,
    Và người tạo ấy / cũng là không nhân.

    [8:4.] Đã không có nhân / thì dù là quả
    Hay dù là nhân / đâu lẽ nào có.
    Đã không có thì / việc tạo, người tạo,
    Hay tác nhân tạo / đều thành phi lý.

    [8:5.] Việc, người, tác nhân / đã là phi lý
    Thì đâu thể có / pháp hay phi pháp.
    Pháp và phi pháp / đã là không có,
    Thì không thể nào / từ đó sinh quả.

    [8:6.] Quả đã không có / thì đường giải thoát
    Hay là cõi trời / đâu lẽ nào có.
    Nếu đã như vậy, / ắt phải suy ra
    Rằng mọi việc làm / đều là vô nghĩa.

    [8:7.] Người tạo vừa thật / vừa là không thật
    Thì không tạo thứ / vừa thật vừa không.
    Cùng một thứ mà / vừa thật vừa không
    Mâu thuẫn với nhau / tìm đâu cho có?

    [8:8.] Người tạo mà thật
    Thì nghiệp không thật / người ấy không tạo.
    Người tạo không thật / thì thứ nghiệp thật / người ấy không tạo.
    Bằng không ắt vướng / mọi lỗi nêu trên.

    [8:9.] Người tạo là thật
    Thì nghiệp không thật / hay là thứ nghiệp
    Vừa thật vừa không / đều không tạo tác.
    Lý do như đã / giải thích trên đây.

    [8:10.] Người tạo không thật
    Thì dù nghiệp thật / hay là thứ nghiệp
    Vừa thật vừa không / đều không tạo tác.
    Lý do như đã / giải thích trên đây.

    [8:11.] Người tạo vừa thật / vừa là không thật
    Thì không tạo nghiệp / thật hay không thật.
    Cũng cần phải hiểu / lý do điều này
    Nhờ vào những gì / đã nói trên đây.

    [8:12.] Vì duyên nơi nghiệp / nên có người tạo,
    Và duyên người tạo / nên mới có nghiệp.
    Ngoài sự tùy duyên / sinh khởi này ra,
    Không thấy có nhân / sinh khởi nào khác.

    [8:13.] Phải biết rằng thủ / cũng giống như vậy,
    Là vì đã quét / nghiệp và người tạo.
    Hiểu được nghiệp và / người tạo này đây,
    Thì biết tất cả / mọi thứ còn lại.

    Đến đây hết Phẩm 8, tên là Quán Nghiệp Và Người Tạo.


    > PHẨM 9: QUÁN CHỖ TRÚ TRƯỚC

    [9:1.] Có người nói rằng: / — « Thấy, nghe, đại loại,
    Và thọ các thứ,
    Ai người sở hữu / những thứ này đây,
    Với những thứ ấy / phải là có trước.

    [9:2.] « Vì nếu không có / cái gì có trước,
    Thấy và đại loại / làm sao khởi sinh?
    Thế nên trước khi / có những thứ này
    Thì phải có sẵn / cái làm chỗ trú. »

    [9:3.] Nhưng trước khi có / thấy, nghe, đại loại,
    Và thọ, các thứ,
    Mà đã có sẵn / cái làm chỗ trú,
    Vậy chỗ trú ấy / lấy gì lập danh?

    [9:4.] Thấy, nghe đại loại / nếu như chưa có
    Mà chỗ trú vẫn / có thể có được,
    Vậy chẳng hoài nghi, / thấy, nghe, đại loại,
    Dù không chỗ trú / vẫn có thể có.

    [9:5.] Nhờ thứ kia nên / hiện rõ cái này,
    Nhờ cái này nên / hiện rõ thứ kia.] .
    Thứ kia không có, / đâu cái gì có?
    Cái này không có, / thứ gì có được?

    [9.6.] — « Ở trước hết thảy / thấy và đại loại,
    Tuy không có gì / là cái có trước, »
    — « Thấy và đại loại / vẫn từng thứ một
    Ở từng thời điểm / mà làm hiện ra. »

    [9:7.] Ở trước hết thảy / thấy và đại loại
    Đã không có gì / là cái có trước,
    Vậy thì ở trước / từng món riêng lẻ,
    Cái có trước ấy / làm sao có được?

    [9:8.] Giả sử người thấy / chính là người nghe,
    Và cũng chính là / người có cảm thọ,
    Vậy phải có trước / mỗi một thứ này.
    Nhưng mà như vậy / thật là phi lý.

    [9:9.] Giả sử người thấy / khác với người nghe,
    Và cũng khác với / người có cảm thọ,
    Vậy có người thấy, / cũng có người nghe,
    Thành ra phải có / rất nhiều cái ngã.

    [9:10.] Thấy, nghe, đại loại,
    Và thọ các thứ,
    Đều là từ nơi / tứ đại sinh ra,
    Kể cả chỗ này / cũng vẫn không có.

    [9:11.] Thấy, nghe, đại loại,
    Và thọ các thứ,
    Thứ chúng thuộc về / đã là không có,
    Vậy bản thân chúng / cũng đều không có.

    [9:12.] Thứ gì đối với / thấy và đại loại,
    Trước, sau, cùng lúc / đều là không có,
    Thì ở chỗ ấy / mọi niệm phân biệt
    Là có, là không / hết thảy đoạn lìa.

    Đến đây hết Phẩm 9, tên là Quán Chỗ Trú Trước.


    > PHẨM 10: QUÁN LỬA VÀ CỦI

    [10:1.] Nếu như củi này / chính là lửa ấy,
    Vậy thì chủ thể / đối tượng là một.
    Nếu như lửa này / khác với củi ấy,
    Vậy thì không củi / lửa vẫn phát sinh.

    [10:2.] Lửa sẽ lúc nào / cũng luôn là cháy,
    Không phải do nhân / làm cháy sinh ra.
    Việc khơi lửa cháy / trở thành vô nghĩa,
    Đã vậy thì nghiệp / cũng đều không có.

    [10:3.] Vì không tùy thuộc / vào thứ gì khác
    Nên không từ nhân / làm cháy sinh ra.
    Nếu như lúc nào / cũng luôn là cháy,
    Thì việc khơi lửa / trở thành vô nghĩa.

    [10:4.] Nếu nghĩ như vậy / rồi lại thấy rằng
     « Sự đốt này đây / chính là củi đốt, »
    Nhưng nếu nó chỉ / đơn thuần là thế,
    Thì biết lấy gì / đốt cháy củi đây?

    [10:5.] Khác thì không chạm. / Không chạm nhau thì
    Không có đốt cháy. / Không đốt cháy thì
    Không có tàn lụi. / Không tàn lụi thì
    Tự tướng thế nào / cũng sẽ y nguyên.

    [10:6.] Bảo rằng « cũng giống / như nữ và nam:
    Nữ chạm vào nam, / hay nam chạm nữ. »
    Lửa này giả sử / khác với củi ấy,
    Thì củi lửa mới / có thể chạm nhau.

    [10:7.] Giả sử lửa này / cùng với củi ấy
    Cái này mâu thuẫn / loại trừ cái kia,
    Có là như vậy / mới có thể nói
    Củi, lửa khác nhau / nhưng vẫn chạm nhau.

    [10:8.] Nếu như có lửa / là nhờ vào củi,
    Và nếu có củi / là nhờ vào lửa,
    Vậy lửa và củi / nhờ đâu mà có?
    Thứ nào có trước?

    [10:9.] Nếu như lửa này / có nhờ củi kia,
    Vậy lửa có rồi / mà lại có nữa,
    Và cũng sẽ có / đối tượng là củi
    Mà không có lửa.

    [10:10.] Nếu có thứ nhờ / tùy thuộc mà có,
    Nhưng lại tùy thuộc / vào chính cái thứ
    Có được là nhờ / tùy thuộc vào nó,
    Vậy tùy cái gì / mà có gì đây?

    [10:11.] Đâu có thứ gì / có nhờ tùy thuộc?
    Nếu như chưa có / làm sao tùy thuộc?
    Nếu như đã có / mà còn tùy thuộc,
    Chẳng phải là điều / phi lý lắm sao?

    [10:12.] Không có lửa nào / là tùy vào củi.
    Không tùy vào củi / thì lửa cũng không.
    Không có củi nào / là tùy vào lửa,
    Không tùy vào lửa / thì củi cũng không.

    [10:13.] Lửa này không đến / từ những thứ khác,
    Lửa cũng không hề / có ở nơi củi.
    Tương tự như củi, / những thứ còn lại
    Đều đã nói trong / “đã, chưa, đang đi.”

    [10:14.] Lửa này không phải / chính là củi ấy,
    Nhưng ngoài củi ra / thì lửa cũng không.
    Lửa này không phải / là có củi ấy.
    Trong lửa không củi / trong củi không lửa.

    [10:15.] Nhờ lửa và củi / cho nên quá trình
    Đầy đủ trọn vẹn / của ngã và thủ,
    Cùng với các thứ / như bình, hay vải,
    Không sót thứ gì / đều được giải thích.

    [10:16.] Ai người thuyết rằng / ngã với các pháp
    Đi cùng với nhau, / hay là khác nhau,
    Thì người như vậy / giáo pháp Phật dạy
    Tôi không nghĩ rằng / người ấy khéo hiểu.

    Đến đây hết Phẩm 10, tên là Quán Lửa Và Củi.


    > PHẨM 11: QUÁN TRƯỚC VÀ SAU

    [11:1.] Hỏi: Điểm khởi thủy / có biết được chăng?
    Đức Đại Mâu Ni / đáp rằng không thể.
    Luân hồi này vốn / không trước, không sau,
    Không có khởi đầu / cũng không kết thúc.

    [11:2.] Khởi đầu, kết thúc / nếu đã không có,
    Vậy biết lấy gì / để có khúc giữa?
    Vì thế cho nên / dù trước, dù sau,
    Hay cùng một lúc / đều là không thể.

    [11:3.] Giả sử trước sinh,
    Sau mới già, chết,
    Thì sẽ có sinh / mà không già chết,
    Và không già chết / mà vẫn có sinh.

    [11:4.] Giả sử sinh sau,
    Già chết có trước
    Nhưng già và chết / mà không có sinh
    Thì không có nhân, / làm sao mà có?

    [11:5.] Sinh và già chết
    Cũng không thể nào / có cùng một lúc,
    Bằng không lúc sinh / cũng là lúc chết,
    Và cả hai đều / sẽ thành không nhân.

    [11:6.] Những thứ mà dù / là trước, hay sau,
    Hay là cùng có, / đều không thể có.
    Đã vậy thì sinh, / hay là già chết,
    Cớ gì lại phải / động niệm phân biệt?

    [11:7.] Không chỉ luân hồi
    Mới là không có / khởi đầu, kết thúc,
    Cả nhân và quả,
    Tướng và sở tướng,

    [11:8.] Cảm thọ cùng với / chỗ có cảm thọ,
    Bao nhiêu hữu pháp, / bất kể thứ gì,
    Cũng đều như vậy,
    Không có khởi điểm.

    Đến đây hết Phẩm 11, tên là Quán Trước Và Sau.


    > PHẨM 12: QUÁN TỰ TẠO VÀ THA TẠO

    [12:1.] Có người nói rằng / khổ do tự tạo,
    Hoặc do tha tạo, / hoặc do cả hai.
    Hoặc là nói khổ / không nhân mà tạo,
    Những việc như vậy / đều không hợp lý.

    [12:2.] Nếu như khổ ấy / là do tự tạo,
    Vậy thì không phải / do nhân duyên tạo.
    Thật ra phải nhờ / khối năm uẩn kia,
    Rồi mới có được / khối năm uẩn này.

    [12:3.] Giả sử thứ kia / khác với thứ này,
    Hay là thứ này / khác với thứ kia,
    Có vậy khổ mới / do thứ khác tạo:
    Do thứ khác kia / tạo ra thứ này.

    [12:4.] Nếu nói « là do / cá nhân chính mình
    Tạo nên khổ đau. » / Nhưng ngoài khổ ra
    Làm gì có ai / tạo nên khổ đau
    Để cho cá nhân / chính mình phải chịu?

    [12:5.] Nếu nói « là từ / cá nhân nào khác
    Mà có khổ đau. » / Nhưng ngoài khổ ra
    Đâu làm gì có / cá nhân nào khác
    Tạo nên khổ đau / cho mình phải chịu?

    [12:6.] Nếu nói: « khổ là / của cá nhân khác. »
    Nhưng ngoài khổ ra / đâu làm gì có
    Cá nhân nào khác / tạo nên khổ đau,
    Rồi đưa khổ ấy / cho ai khác chịu?

    [12:7.] Khổ tự mình tạo / vốn đã không thành,
    Làm sao có khổ / do người khác tạo?
    Khổ đau nào là / do người khác tạo,
    Với người khác ấy / chính là tự tạo.

    [12:8.] Trước tiên không có / khổ đau tự tạo:
    Không gì có thể / tự tạo chính mình.
    Đã không ai khác / tạo nên khổ này,
    Thì khổ tha tạo / tìm đâu cho có.

    [12:9.] Nếu cả hai bên / bên nào cũng tạo
    Thì mới có khổ / đến từ cả hai.
    Đã không tự tạo / cũng không tha tạo,
    Khổ đau không nhân / tìm đâu cho có?

    [12:10.] Không chỉ có khổ
    Là không hiện hữu / qua bốn cách này,
    Hết thảy ngoại vật / cũng là như vậy,
    Không hề hiện hữu / qua bốn cách này.

    Đến đây hết Phẩm 12, tên là Quán Tự Tạo Và Tha Tạo.


    > PHẨM 13: QUÁN CÁC HÀNH

    [13:1.] Đức Phật dạy rằng:
    Pháp nào hư vọng / thì đều là giả.
    Hết thảy các hành / đều là hư vọng
    Nên đều là giả.

    [13.2.] Nếu như bất cứ / pháp hư vọng nào
    Cũng đều là giả, / vậy cái gì vọng?
    Đức Phật Thế tôn / thuyết giảng điều ấy,
    Chính để khai thị / ý nghĩa tánh không.

    [13:3.] — « ‘Tất cả mọi thứ / đều không có tánh
    Là vì thấy chúng / biến thành thứ khác.’ »
    « Không có thứ gì / là không có tánh,
    Bởi vì mọi thứ / đều có tánh không. »

    [13:4.] « Nếu như sự vật / đều không có tánh,
    Vậy thì cái gì / biến thành thứ khác? »
    Nhưng nếu sự vật / đều là có tánh,
    Làm sao có thể / biến thành thứ khác?

    [13:5.] Ở chỗ chính mình / không có biến đổi;
    Ở chỗ khác mình / cũng không biến đổi.
    Vì bởi người trẻ / không biến thành già,
    Mà người già cũng / không biến thành già.

    [13:6.] Nếu chính sự vật / biến thành thứ khác,
    Thì chính sữa này / sẽ thành sữa chua.
    Nhưng ngoài sữa ra / đâu còn gì khác
    Có thể biến thành / cái thứ sữa chua?

    [13:7.] Nếu có chút gì / không phải là không,
    Thì sẽ có được / chừng nấy pháp không.
    Nhưng không chút gì / không phải là không,
    Thử hỏi không này / tìm đâu cho có?

    [13:8.] Chư Phật tối thắng / thuyết rằng tánh không
    Là để giúp ta / thoát mọi chấp kiến.
    Nếu như có ai / chấp vào không kiến,
    Người ấy sẽ không / thành tựu được gì. »

    Đến đây hết Phẩm 13, tên là Quán Pháp Hữu Vi.


    > PHẨM 14: QUÁN SỰ TIẾP XÚC

    [14:1.] Đối tượng được thấy, / cái thấy, người thấy,
    Bộ ba này dù / riêng lẻ từng cặp,
    Hay dù gộp lại / đủ hết cả ba,
    Cũng không thể nào / tiếp xúc với nhau.

    [14:2.] Tương tự như vậy, / tham và người tham,
    Cùng với đối tượng / của lòng tham muốn,
    Các phiền não khác, / các giới còn lại,
    Đều phải thấy là / cùng một bộ ba.

    [14:3.] Phải có khác nhau / mới có tiếp xúc.
    Vậy cái được thấy, / và những thứ kia
    Vì không hiện hữu / khác biệt với nhau
    Cho nên không hề / có sự tiếp xúc.

    [14:4.] Không chỉ riêng gì / đối tượng được thấy,
    Với những thứ kia / mới là không khác,
    Bất kể thứ gì / đã là cùng có
    Mà lại khác nhau / là không đúng lý.

    [14:5.] Khác được là nhờ / khác với thứ khác.
    Không có thứ khác / thì khác với ai?
    Thứ gì phải nhờ / thứ khác mới có,
    Với thứ khác ấy / không thể khác nhau.

    [14:6.] Nếu thứ khác ấy / khác với thứ khác,
    Khi ấy không cần / thứ khác vẫn khác.
    Nhưng không thứ khác, / lấy gì để khác?
    Nên sự khác ấy / cũng là không có.

    [14:7.] Sự khác không có / ở nơi thứ khác,
    Và cũng không có / ở thứ không khác.
    Nếu như sự khác / đã là không có,
    Là khác, là mình / cũng đâu thể có.

    [14:8.] Là mình thì không / tiếp xúc với mình,
    Là khác cũng không / tiếp xúc thứ khác.
    Sự đang tiếp xúc, / thứ được tiếp xúc,
    Và người tiếp xúc / đều là không có.

    Đến đây hết Phẩm 14, tên là Quán Sự Tiếp Xúc.

    > PHẨM 15: QUÁN TỰ TÁNH


    [15:1.] Tự tánh mà từ / nhân duyên sinh ra,
    Thì chuyện như vậy / thật là vô lý.
    Tự tánh nào từ / nhân duyên sinh ra
    Tự tánh ấy phải / là thứ được tạo.

    [15:2.] Được tạo mà lại / gọi là tự tánh,
    Nói vậy làm sao / đúng lý cho đặng.
    Là tự tánh thì / không có ai tạo,
    Cũng không tùy vào / bất cứ gì khác.

    [15:3.] Tự tánh nếu như / đã là không có,
    Vậy thì tha tánh / làm sao có được?
    Cái được gọi là / « tha tánh » chẳng qua
    Chỉ là tự tánh / của tha tánh ấy.

    [15:4.] Trừ hết tự tánh / và tha tánh ra,
    Thì sự vật cũng / chẳng tìm đâu có.
    Phải có tự tánh / cùng với tha tánh,
    Rồi ra sự vật / mới có thể thành.

    [15:5.] Nếu như thứ có / vốn đã không thành,
    Thì thứ không có / cũng không thể thành.
    Thứ có một khi / trở thành thứ khác
    Thì kẻ phàm phu / gọi là không có.

    [15:6.] Ai người thấy có / tự tánh, tha tánh,
    Hay thấy sự vật / là có, là không,
    Thì người như vậy / không phải là người
    Thấy đúng như thật / giáo pháp của Phật.

    [15:7.] Thế tôn thấu triệt / về có và không,
    Nên ở trong kinh / Hóa Ca Chiên Duyên
    Có câu dạy rằng, / có và không có,
    Cả hai điều này / đều phải diệt bỏ.

    [15:8.] Nếu đã là nhờ / tự tánh mà có,
    Thì không thể nào / biến thành không có.
    Là tự tánh mà / biến thành thứ khác
    Sẽ không bao giờ / là điều đúng lý.

    [15:9.] « Nếu như không phải / là có tự tánh,
    Vậy thì cái gì / biến thành thứ khác? »
    Tự tánh cho dù / là có chăng nữa,
    Cũng đâu thể nào / biến thành thứ khác?

    [15:10.] Nói « có » thì đó / chính là chấp thường,
    Nói « không » thì đó / chính là đoạn kiến.
    Vì thế cho nên / ai người có trí
    Cả có lẫn không / đều không trú ở.

    [15:11.] Thứ gì hiện hữu / nhờ tự tánh thì
    Chẳng thể không có / nên đó là thường.
    Còn nếu nói rằng, / « trước có nay không »
    Thì nói như vậy / ắt phải là đoạn.

    Đến đây hết Phẩm 15, tên là Quán Tự Tánh.


    > PHẨM 16: QUÁN VỀ SỰ BUỘC VÀ THOÁT

    [16:1.] Giả sử nói rằng / « Các hành luân hồi. »
    Nhưng nếu là thường / thì không luân hồi,
    Còn nếu vô thường / cũng không luân hồi.
    Đối với chúng sinh / cũng là như vậy.

    [16:2.] Giả sử nói rằng / cá nhân luân hồi.
    Nhưng cá nhân này / tìm đủ năm cách
    Ở nơi các uẩn, / xứ, và giới chủng,
    Đều không tìm thấy, / lấy ai luân hồi?

    [16:3.] Nếu cứ xoay vần / từ thủ đến thủ,
    Vậy thì thân mạng / cũng là không có.
    Không có thân mạng, / nhiếp thủ cũng không,
    Đã vậy thử hỏi / lấy ai luân hồi?

    [16:4.] Các hành mà cũng / đạt được niết bàn,
    Dẫu thế nào thì / cũng không thuận lý.
    Chúng sinh mà cũng / đạt được niết bàn,
    Dẫu thế nào cũng / chẳng thành lý lẽ.

    [16:5.] Các hành vốn là / pháp có sinh hoại,
    Nên không có buộc / cũng không có thoát.
    Cũng như đã nói, / chúng sinh cũng vậy,
    Cũng không có buộc / và không có thoát.

    [16:6.] Giả sử nói rằng / thủ chính là buộc.
    Nhưng nếu có thủ / thì không có buộc,
    Còn nếu không thủ / cũng không có buộc,
    Vậy trường hợp nào / mới là có buộc?

    [16:7.] Giả sử trước khi / có cái bị buộc
    Đã có cái buộc, / thì mới có buộc,
    Nhưng mà đâu có. / Những thứ còn lại
    Đã giải thích trong / đã, đang, chưa đi.

    [16:8.] Trước tiên, bị buộc / thì không có thoát.
    Không bị buộc thì / cũng không có thoát.
    Nếu là bị buộc / khi đang giải thoát
    Thì buộc và thoát / xảy ra cùng lúc.

    [16:9.]  « Tôi thoát khổ đau / nhờ không nhiếp thủ,
    Rồi niết bàn này / sẽ là của tôi! »
    Ai người giữ lấy / ý nghĩ như vậy
    Mới thật đúng là / kẻ đại chấp thủ.

    [16:10.] Khi đã không thể / làm nên niết bàn,
    Và cũng không thể / làm sạch luân hồi,
    Vậy luân hồi này / là cái gì đây?
    Niết bàn kia lại / là khái niệm gì?

    Đến đây hết Phẩm 16, tên là Quán Về Sự Buộc Và Thoát.


    > PHẨM 17: QUÁN VỀ NGHIỆP VÀ NGHIỆP QUẢ

    [17:1.] —  « Tâm tư khéo léo / hàng phục chính mình;
    Làm việc lợi tha; / rất mực từ hòa:
    Đó chính là Pháp. / Đời này kiếp sau
    Đều là hạt giống / mang đến quả lành.

    [17:2.] Bậc Thấu thị tôn / dạy, nghiệp có hai:
    Là tư, hay là / do tư tác động.
    Biệt tướng của nghiệp
    Thiên hình vạn trạng / đều được nói rõ.

    [17:3.] Trong đó nghiệp nào / được gọi là ‘tư’
    Thì thứ nghiệp ấy / đều là của ý.
    Còn nghiệp gọi là / ‘do tư tác động’
    Thì đều là nghiệp / của thân và khẩu.

    [17:4.] Nghiệp từ lời nói; / Nghiệp từ hành động:
    Loại không buông bỏ / và không hiện hành;
    Loại có buông bỏ / và không hiện hành;
    Cùng những thứ khác / tương tự như vậy;

    [17:5.] Loại từ thọ dụng / sinh ra phước đức;
    Loại sinh tội nghiệt / cũng là như vậy;
    Cộng thêm với tư, / là đủ bảy pháp,
    Đầy đủ tất cả / các tướng của nghiệp. »

    [17:6.] —  « Nghiệp nếu trú cho / đến khi trổ quả
    Thì phải thường còn.
    Còn nếu đoạn diệt, / thì đoạn diệt rồi
    Làm sao sinh quả? »

    [17:7.] — « Chồi non các thứ / một chuỗi tương tục
    Là từ nơi hạt / nên mới hiện tiền,
    Từ đó có quả.
    Nếu không có hạt / thì quả cũng không.

    [17:8.] Từ hạt nên mới / có chuỗi tương tục;
    Từ tương tục này / có quả sinh ra.
    Hạt đi trước quả,
    Cho nên không đoạn / mà cũng không thường.

    [17:9.] Tương tự như vậy, / dòng tâm tương tục
    Do tư sinh ra,
    Từ đó có quả.
    Nếu không có tư / thì quả cũng không.

    [17:10.] Có tư mới có / dòng tâm tương tục,
    Từ tương tục này / có quả sinh ra.
    Nghiệp đi trước quả,
    Cho nên không đoạn / mà cũng không thường.

    [17:11.] Mười đạo thiện nghiệp,
    Đây là phương tiện / thành tựu chánh pháp.
    Quả lành của Pháp / đời này đời kia
    Là ngũ dục đức. »

    [17:12.] — « Nếu mà phân tích / theo kiểu như vầy
    Thì sẽ vướng phải / nhiều sai lầm lớn.
    Vì thế cho nên / lối quán chiếu này
    Áp dụng ở đây / là không đúng lý.

    [17:13.] Vậy thì Phật đà, / độc giác, thanh văn,
    Đã nói những gì / về điểm này đây,
    Phải quán thế nào / mới thật đúng lý,
    Để tôi nói lại / cho thật tận tường.

    [17:14.] Nghiệp này cũng giống / như là món nợ
    Ghi trên giấy nợ / không bao giờ mất,
    Sự không mất này / tùy theo các cõi / mà có bốn loại,
    Bản tánh của nó / vốn là vô ký.

    [17:15.] Không phải là thứ / đoạn bằng sự đoạn,
    Mà chính là phải / đoạn bằng sự tu,
    « Cho nên vì bởi / cái sự không mất
    Mà sinh nghiệp quả.

    [17:16.] Nếu như là thứ / đoạn bằng sự đoạn,
    Hay nếu là thứ / phá bằng chuyển nghiệp,
    Thì sẽ phạm lỗi
    Phá nghiệp vân vân.

    [17:17.] Sự không mất đi / của tất cả nghiệp,
    Cho dù tương ứng / hay không tương ứng,
    Đến lúc chuyển sinh / vào cõi tương đồng
    Chỉ một thứ khởi.

    [17:18.] Ở kiếp hiện tiền, / sự không mất của
    Cả hai loại nghiệp / theo từng nghiệp một
    Riêng lẻ khởi sinh,
    Dù quả đã chín / cũng vẫn tồn tại.

    [17:19.] Sự không mất ấy / diệt khi độ quả,
    Hay là khi chết.
    Phải biết điều này / phân loại có hai:
    Một là vô lậu / hai là hữu lậu.

    [17:20.] Tánh không không đoạn;
    Luân hồi không thường;
    Nghiệp không mất đi;
    Là pháp Phật dạy. »

    [17:21.] — « Bởi vì lẽ gì / nghiệp lại không sinh? »
    — Là bởi vì nghiệp / không có tự tánh.
    Chính bởi vì nghiệp / không có sinh ra,
    Cho nên nghiệp mới / không có mất đi.

    [17:22.] Giả sử như nghiệp / mà có tự tánh
    Thì nhất định phải / là thứ thường còn.
    Như vậy thì nghiệp / không phải được tạo,
    Vì không thể tạo / những thứ thường còn.

    [17:23.] Từ đó suy ra / nghiệp dù không tạo
    Vẫn phải sợ quả / của nghiệp không làm;
    Và vẫn phạm lỗi / không trú tịnh hạnh,
    Ắt gặp những sự / vô lý như vậy.

    [17:24.] Nếu thế thì mọi / danh ngôn thế tục,
    Không chút hoài nghi, / ắt sẽ bị phá.
    Cho dù làm phước / hay là làm ác,
    Cũng không cách gì / phân biệt cho được.

    [17:25.] Nghiệp trổ quả rồi
    Sẽ cứ trổ mãi,
    Là vì nếu nghiệp / mà có tự tánh
    Thì sẽ trường tồn.

    [17:26.] Phiền não chính là / bản tánh của nghiệp.
    Nhưng phiền não ấy / lại không là thật.
    Nếu như phiền não / đã không là thật,
    Vậy thì nghiệp ấy / lấy gì thật có?

    [17:27.] Đã dạy rằng nghiệp / cùng với phiền não
    Chính là duyên tố / làm cho có thân.
    Nghiệp với phiền não / nếu đã là không,
    Vậy thì thân kia / làm sao nói đến?

    [17:28.] — « Vô minh che chướng,
    Ái kiết buộc ràng,
    Người lãnh thọ quả / với người tạo nghiệp.
    Không phải khác nhau / cũng không giống nhau. »

    [17:29.] Nếu là như thế / thì nghiệp này đây
    Không phải là từ / nơi duyên sinh ra,
    Cũng không phải từ / phi duyên sinh ra,
    Nên người tạo nghiệp / cũng là không có.

    [17:30.] Đã không có nghiệp, / và người tạo nghiệp,
    Thì đâu có quả / từ nghiệp sinh ra.
    Nếu như quả báo / đã là không có,
    Vậy đâu có ai / là người chịu quả?

    [17:31.] Tựa như Bổn Sư / vận dụng thần thông
    Hóa hiện thân huyễn,
    Từ thân huyễn này / lại hóa hiện thành
    Một thân huyễn khác.

    [17:32.] Người tạo nghiệp và / nghiệp người ấy tạo,
    Cũng tương tự như / cảnh hóa hiện này.
    Cũng giống như là / từ một thân huyễn
    Mà hóa hiện thành / một thân huyễn khác.

    [17:33.] Phiền não, nghiệp, thân,
    Người tạo nghiệp và / quả đến từ nghiệp,
    Đều như thành quách / của Càn thát bà,
    Như là ảo ảnh / như là chiêm bao.

    Đến đây hết Phẩm 17, tên là Quán Về Nghiệp Và Nghiệp Quả.


    > PHẨM 18: QUÁN NGÃ

    [18:1.] Ngã nếu như mà / chính là các uẩn
    Vậy phải là thứ / có sinh có hoại.
    Ngã nếu như mà / khác với các uẩn,
    Thì sẽ không có / tướng của các uẩn.

    [18:2.] Ngã nếu như mà / đã là không có,
    Vậy đâu có gì / là cái của ngã?
    « Ngã và của ngã / đều đã tịch lặng,
    Nên không còn chấp / tôi và của tôi. »

    [18:3.] Người nào không chấp / tôi và của tôi
    Thì người như vậy / không phải là có.
    Thấy người không chấp / tôi và của tôi,
    Thì thấy như vậy / cũng là không thấy.

    [18:4.] Nếu cả trong ngoài / mọi ý nghĩ về
    Ngã và của ngã / đều đã cùng tận,
    Thì khi ấy thủ / cũng sẽ diệt tận.
    Thủ diệt tận thì / sinh cũng diệt tận.

    [18:5.] Nghiệp, phiền não tận / thì đạt giải thoát.
    Nghiệp phiền não từ / niệm tưởng sinh ra,
    Niệm tưởng đến từ / động niệm phân biệt,
    Động niệm phân biệt / dứt vào tánh không.

    [18:6.] Phật cũng nói “ngã,”
    Cũng dạy “vô ngã,”
    Và Phật dạy rằng:
    Không có gì là / “ngã,” hay “vô ngã.”

    [18:7.] Đường ngôn ngữ đoạn,
    Chốn tâm hành tuyệt:
    Không sinh không diệt,
    Tánh của các pháp / đồng tánh niết bàn.

    [18:8.] Tất cả là thật; / là không phải thật;
    Là cũng thật mà / cũng không phải thật;
    Là chẳng không thật / cũng chẳng là thật:
    Cứ thế Phật dạy / từng bước như vậy.

    [18:9.] Không nhờ đâu khác / để mà biết được;
    rất mực tịnh yên; Không động phân biệt;
    Không có niệm tưởng; / cũng không biệt nghĩa;
    Là như thế đấy / đặc tướng tánh như.

    [18:10.] Đã khởi sinh nhờ / tùy thuộc thứ gì,
    Trước hết không phải / là chính thứ ấy,
    Và với thứ ấy / cũng không là khác,
    Cho nên không đoạn / mà cũng không thường.

    [18:11.] Đây là mùi vị / giáo lý cam lồ
    Của khắp chư Phật / cứu độ thế gian:
    Không phải là một / cũng không là khác,
    Không phải là đoạn, / cũng không là thường.

    [18:12.] Phật chánh biến tri / dù không xuất thế,
    Và chư thanh văn / dù đã không còn,
    Dù vậy khi ấy / trí Phật độc giác
    Từ chỗ không dựa / cũng vẫn phát sinh.

    Đến đây hết Phẩm 18, tên là Quán Ngã.


    > PHẨM 19: QUÁN THỜI GIAN

    [19:1.] Giả sử cần phải / tùy thuộc quá khứ
    Mới có hiện tại / cùng với vị lai,
    Vậy thì hiện tại / cùng với vị lai
    Lẽ ra phải có / trong thời quá khứ.

    [19:2.] Còn nếu như mà / trong thời quá khứ
    Không có hiện tại / cùng với vị lai,
    Vậy thì hiện tại / cùng với vị lai
    Làm sao có thể / tùy thuộc quá khứ?

    [19:3.] Đã không tùy thuộc / vào thời quá khứ
    Thì cả hai thời / đều không thể thành.
    Thế nên cho dù / là thời hiện tại
    Hay thời vị lai / cũng đều không có.

    [19:4.] Phải biết áp dụng / cùng cách này cho
    Hai thời còn lại. / Và cũng đúng cho
    Sự cao, thấp, vừa, / các thứ vân vân,
    Và sự đồng nhất, / các thứ vân vân.

    [19:5.] Thời gian không đứng / thì không thể nắm.
    Còn thời gian nào / có thể nắm được
    Thì không thể đứng.
    Đã không nắm được, / làm sao phân biệt?

    [19:6.] Thời gian nếu như / tùy thuộc sự vật
    Vậy lìa sự vật / đâu còn thời gian.
    Sự vật thứ gì / cũng đều không có,
    Vậy biết lấy gì / để có thời gian?

    Đến đây hết Phẩm 19, tên là Quán Thời Gian.


    > PHẨM 20: QUÁN DUYÊN HỢP

    [20:1.] Nếu từ tổ hợp / của nhân và duyên
    Mà sinh ra quả,
    Từ trong tổ hợp / quả đã sẵn có,
    Thì đâu thể từ / tổ hợp sinh ra.

    [20:2.] Nếu từ tổ hợp / của nhân và duyên
    Mà sinh ra quả,
    Trong tổ hợp này / quả nếu không có,
    Thì đâu thể từ / tổ hợp sinh ra.

    [20:3.] Nếu trong tổ hợp / của nhân và duyên
    Quả đã sẵn có, / như vậy lẽ ra
    Phải thấy được quả / bên trong tổ hợp.
    Nhưng trong tổ hợp / không thấy được quả.

    [20:4.] Nếu trong tổ hợp / của nhân và duyên
    Quả không sẵn có,
    Vậy nhân duyên ấy
    Cũng giống như là / không phải nhân duyên.

    [20:5.] Nếu như là nhân / đưa nhân cho quả
    Xong rồi là diệt,
    Vậy nhân ấy phải / có hai bản thể:
    Một cho, một diệt.

    [20:6.] Nếu như là nhân / đưa nhân cho quả
    Xong rồi là diệt,
    Vậy quả sinh ra / từ nhân đã diệt
    Là quả không nhân.

    [20:7.] Nếu như quả với / tổ hợp nhân duyên
    Là thứ cùng có, / nói vậy vô lẽ
    Cái làm cho sinh / và cái được sinh
    Là có cùng lúc?

    [20:8.] Nếu như trước khi / nhân duyên hòa hợp
    Là đã có quả,
    Quả không nhân duyên / thì phải là quả
    Không nhân mà có.

    [20:9.] Nếu nói nhân diệt, / và nếu quả là
    Nguyên cả cái nhân / chuyển sang thành quả,
    Vậy chẳng hóa ra / cái nhân trước kia
    Đã sinh ra rồi / lại sinh ra nữa?

    [20:10.] Làm sao cái nhân / đã diệt đã tan
    Mà lại có thể / sinh quả đã có?
    Làm sao cái nhân / đi liền với quả
    Vẫn còn tồn tại / lại sinh ra quả?

    [20:11ab.] Nhưng nếu nhân không / đi liền với quả
    Thì quả nào là / do nhân sinh ra?
    Cho dù thấy quả, / hay không thấy quả,
    Thì nhân cũng vẫn / không thể sinh ra.

    [20:12.] Quả ở quá khứ / thì không thể nào
    Tiếp xúc với nhân / ở trong quá khứ,
    Hay là với nhân / chưa được sinh ra,
    Hay là với nhân / đang được sinh ra.

    [20:13.] Quả đang sinh ra / thì không thể nào
    Tiếp xúc với nhân / chưa được sinh ra,
    Hay là với nhân / ở trong quá khứ,
    Hay là với nhân / đang được sinh ra.

    [20:14.] Quả chưa sinh ra / thì không thể nào
    Tiếp xúc với nhân / đang được sinh ra,
    Hay là với nhân / chưa được sinh ra,
    Hay là với nhân / ở trong quá khứ.

    [20:15.] Nếu không tiếp xúc
    Vậy thì nhân kia / làm sao sinh quả?
    Nếu có tiếp xúc
    Vậy thì nhân kia / làm sao sinh quả?

    [20:16.] Nếu như nhân này, / quả nó là không,
    Vậy thì làm sao / sinh ra được quả?
    Nếu như nhân này, / quả không là không,
    Vậy thì làm sao / sinh ra được quả?

    [20:17.] Quả không là không / thì không thể sinh.
    Quả không là không / thì không thể diệt.
    Không phải là không, / thì ắt phải là
    Không sinh không diệt.

    [20:18.] Nếu như là không / làm sao sinh ra?
    Nếu như là không / làm sao diệt mất?
    Nếu quả là không / thì ắt phải là
    Không sinh, không diệt.

    [20:19.] Đâu có lẽ nào
    Mà nhân với quả / lại chỉ là một.
    Đâu có lẽ nào
    Mà nhân với quả / lại là khác nhau.

    [20:20.] Nếu nhân với quả / mà chỉ là một,
    Sinh và được sinh / cũng phải là một.
    Nếu nhân với quả / mà khác nhau thì
    Có nhân, không nhân / thành giống như nhau.

    [20:21.] Nếu như quả này / là có bản tánh,
    Thử hỏi nhân kia / sinh được gì đây?
    Nếu như quả này / là không bản tánh,
    Thử hỏi nhân kia / sinh được gì đây?

    [20:22.] Không phải là thứ / tạo sinh ra quả
    Thì đâu lẽ nào / mà lại là nhân.
    Nhân ấy nếu như / đã không thể có,
    Thử hỏi quả kia / là của cái gì?

    [20:23.] Nếu như tổ hợp
    Của nhân và duyên,
    Tự mình không thể / sinh ra chính mình,
    Vậy thì làm sao / sinh ra được quả?

    [20:24.] Thế nên duyên hợp / không sinh ra quả,
    Cũng không quả nào / do bất hợp sinh.
    Quả này nếu đã / không phải là có,
    Vậy làm sao có / tổ hợp của duyên.

    Đến đây hết Phẩm 20, tên là Quán Duyên Hợp.


    > PHẨM 21: QUÁN THÀNH VÀ HOẠI

    [21:1.] Dù không có thành, / hay cùng với thành
    Thì hoại cũng đều / không phải là có.
    Dù không có hoại / hay cùng với hoại
    Thì thành cũng đều / không phải là có. //

    [21:2.] Làm sao có hoại
    Mà không có thành?
    Đâu có thứ gì / không sinh mà chết!
    Cho nên không thành / thì cũng không hoại.

    [21:3.] Làm sao có hoại
    Cùng có với thành?
    Đâu có thứ gì / mà lại có thể
    Chết đi sinh ra / trong cùng một lúc!

    [21:4.] Làm sao có thành
    Mà không có hoại?
    Đâu có thứ gì / mà lại không phải
    Là thứ vô thường!

    [21:5.] Làm sao có thành
    Cùng có với hoại?
    Đâu có thứ gì / mà lại có thể
    Sinh ra chết đi / trong cùng một lúc!

    [21:6.] Những thứ cho dù / cùng có với nhau
    Hay không cùng có
    Đều không thiết lập,
    Những thứ như vậy / thiết lập cách nào?

    [21:7.] Đã có cùng tận / thì không có thành.
    Dù không cùng tận / cũng không có thành.
    Đã có cùng tận / thì không có hoại.
    Dù không cùng tận / cũng không có hoại.

    [21:8.] Sự vật nếu đã / không phải là có
    Thì thành và hoại / cũng không là có.
    Thành và hoại đã / không phải là có
    Thì sự vật cũng / không phải là có.

    [21:9.] Đã là không thì
    Đâu có lý nào / lại có thành hoại.
    Còn ở những thứ / không phải là không
    Cũng đâu lý nào / lại có thành hoại.

    [21:10.] Thành và hoại này
    Đâu có lý nào / mà lại là một.
    Thành và hoại này
    Đâu có lý nào / mà lại khác nhau.

    [21:11.] Thành và hoại này
    Nếu ông nghĩ rằng / « Đều có thể thấy, »
    Thành và hoại này
    Mà nhìn thấy được / là vì ngu si.

    [21:12.] Có thì không phải / từ có sinh ra.
    Có cũng không phải / từ không sinh ra.
    Không thì không phải / từ không sinh ra.
    Không cũng không phải / từ có sinh ra.

    [21:13.] Sự vật thì không / sinh từ chính mình.
    Và cũng không từ / thứ khác sinh ra.
    Sinh từ chính mình / hay từ thứ khác
    Đều là không có, / làm sao sinh ra?

    [21:14.] Nếu như khẳng định / « sự vật là có, »
    Ắt phải vướng vào / đoạn và thường kiến.
    Là vì nếu vậy / thì sự vật ấy
    Vừa là thường còn / vừa là vô thường.

    [21.15.] Hay là khẳng định: / « Sự vật tuy có,
    Nhưng không phải đoạn, / cũng không phải thường,
    Vì chuỗi thành hoại / của nhân và quả
    Chính là sinh tử. »

    [21:16.] Nói chuỗi thành hoại / của nhân và quả
    Chính là sinh tử
    Thế nhưng đã hoại / thì không có sinh,
    Từ đó suy ra / nhân này đoạn diệt.

    [21:17.] Sự vật nếu vốn / là có bản tánh
    Thì đâu lý nào / thành thứ không có.
    Đến lúc niết bàn / thì phải đoạn diệt,
    Vì chuỗi sinh tử / đều đã tịnh hết.

    [21:18.] Điểm cuối nếu như / là đã tận diệt
    Thì điểm đầu đời / trở thành phi lý.
    Điểm cuối nếu như / là chưa tận diệt
    Thì điểm đầu đời / trở thành phi lý.

    [21:19.] Điểm cuối nếu như / là đang tận diệt
    Trong khi điểm đầu / sắp được sinh ra,
    Vậy cái đang diệt / là một thứ khác,
    Mà cái đang sinh / lại là thứ khác.

    [21:20.] Nếu như đang diệt / cùng với đang sinh
    Xảy ra cùng lúc / thì cũng phi lý.
    Chẳng lẽ chết đi / với năm uẩn nào,
    Thì lại sinh ra / cùng năm uẩn ấy?

    [21:21.] Vậy dù ở đâu / trong cả ba thời
    Chuỗi sinh tử vẫn / là điều vô lý.
    Thứ cả ba thời / đều là không có
    Làm sao có thể / là chuỗi sinh tử.

    Đến đây hết Phẩm 21, tên là Quán Thành Và Hoại.


    > PHẨM 22: QUÁN NHƯ LAI

    [22:1.] Không phải là uẩn, / hay khác với uẩn,
    Không uẩn ở trong, / không ở trong uẩn,
    Như lai cũng không / sở hữu các uẩn,
    Vậy thì Như lai / thật ra là gì?

    [22:2.] Nếu Phật có nhờ / dựa vào các uẩn
    Thì không phải nhờ / tự tánh mà có,
    Đã không phải nhờ / tự tánh mà có
    Thì đâu thể nhờ / tha tánh mà có.

    [22:3.] Thứ gì đã nhờ / thứ khác mà có
    Thì không lý nào / lại có ngã tánh.
    Thử hỏi một thứ / không có ngã tánh
    Làm sao có thể / là đấng Như lai?

    [22:4.] Nếu như tự tánh / đã là không có,
    Vậy thì tha tánh / có làm sao được?
    Tự tánh, tha tánh / đều đã không có,
    Vậy đâu còn gì / để có Như lai?

    [22.5.] — « Nếu như không cần / dựa vào các uẩn
    Cũng vẫn có được / một đấng Như lai
    Thì nay Như lai / sẽ dựa các uẩn
    Cho nên cũng vẫn / là thứ tùy thuộc. »

    [22:6.] Không dựa các uẩn
    Thì Như lai nào / cũng đều không có.
    Nhưng không dựa thì / không thể nào có,
    Đã vậy làm sao / nhiếp thủ các uẩn?

    [22:7.] Sự nhiếp thủ đã / là không có, thì
    Thứ được nhiếp thủ / cũng không thể có.
    Thứ được nhiếp thủ / đã là không có
    Thì đâu làm sao / có được Như lai.

    [22:8.] Tìm kiếm như vậy / đủ cả năm cách,
    Thì tự hay tha / đều là không có,
    Đã là như vậy / thứ được nhiếp thủ
    Làm sao có thể / gọi là “Như lai”?

    [22:9.] Thứ gì đã là / thứ được nhiếp thủ
    Thì không phải từ / tự tánh mà có.
    Đã không phải từ / chính mình mà có
    Thì cũng không từ / thứ khác mà có.

    [22:10.] Vậy thứ được thủ / và người nhiếp thủ,
    Dù xét mặt nào / cũng đều là không.
    Đã là không thì / Như lai đâu thể
    Lấy cái không làm / nền tảng lập danh!

    [22:11.] Đừng nói là « không, »
    Hay « không phải không, »
    Hay là « cả hai, » / hay « không cả hai. »
    Chỉ có thể nói / theo nghĩa giả danh.

    [22:12.] Thường và vô thường, / bốn tướng đại loại,
    Chốn tịnh yên này / đâu làm gì có.
    Hữu biên vô biên, / bốn tướng đại loại,
    Chốn tịnh yên này / đâu làm gì có.

    [22:13.] Ai chấp sâu dày / nói « có Như lai, »
    Thì người như vậy / sẽ phải nghĩ rằng
    « Sau khi niết bàn
    Không có Như lai. »

    [22:14.] Tự tánh vốn không,
    Mà còn nghĩ rằng / sau khi niết bàn
    Như lai là có / hay là không có,
    Ý nghĩ nào cũng / đều không thuận lý.

    [22:15.] Như lai vô tận, / vượt mọi khái niệm.
    Ai với Như lai / nổi niệm phân biệt,
    Sẽ bị niệm tưởng / làm cho hư hoại,
    Nên không thể nào / thấy được Như lai.

    [22:16.] Tự tánh Như lai / là như thế nào,
    Tự tánh thế gian / cũng là như thế.
    Tự tánh Như lai / đều là không có,
    Tự tánh thế gian / cũng đều không có.

    Đến đây hết Phẩm 22, tên là Quán Như lai.


    > PHẨM 23: QUÁN SỰ ĐIÊN ĐẢO

    [23:1.] [Đức Phật] dạy rằng: / tham sân và si
    Hết thảy đều do / niệm tưởng mà có,
    Đều là dựa vào / tốt, xấu, điên đảo
    Mà phát sinh ra.

    [23:2.] Thứ gì dựa trên / những thứ như là
    Tốt, xấu, điên đảo, / để mà sinh ra
    Thì không phải là / thứ có tự tánh.
    Cho nên phiền não / cũng không là thật.

    [23:3.] Sự có hay không / của cái ngã này,
    Dù thế nào cũng / không thể thiết lập.
    Cái đó đã không / thì sự có, không
    Của phiền não kia / làm sao thiết lập?

    [23:4.] Và phiền não ấy / là của người nào,
    Thì người ấy cũng / không được thiết lập.
    Không có ai là / người có phiền não,
    Vậy phiền não ấy / biết có ở đâu?

    [23:5.] Như là thân kiến, / xét đủ năm cách,
    Phiền não không có / trong thứ bị nhiễm.
    Như là thân kiến, / xét đủ năm cách,
    Thứ bị nhiễm không / có trong phiền não.

    [23:6.] Tốt, xấu, điên đảo,
    Đều không phải nhờ / tự tánh mà có.
    Vậy phiền não nào / là tùy thuộc vào
    Tốt, xấu, điên đảo / để mà có đây?

    [23:7.] — « Sáu thứ sắc, thanh,
    Vị, xúc, hương, pháp,
    Đều được xem là / sáu cơ sở của
    Tham sân và si. »

    [23:8.] Nhưng mà sắc, thanh,
    Vị, xúc, hương, pháp / chỉ giống như là
    Thành Càn thát bà,
    Như là ảo ảnh / như là chiêm bao.

    [23:9.] Người thì như huyễn,
    Vật tựa bóng nước,
    Những thứ như vậy / thử hỏi có gì
    Để mà tốt xấu?

    [23:10.] Tùy cái xấu nào / để mà hình thành
    Khái niệm “cái tốt” / thì cái xấu ấy
    Tách lìa cái tốt / sẽ không hiện hữu.
    Cho nên cái tốt / không thuận với lý.

    [23:11.] Tùy cái tốt nào / để mà hình thành
    Khái niệm “cái xấu” / thì cái tốt ấy
    Tách lìa cái xấu / sẽ không hiện hữu.
    Cho nên cái xấu / không thuận với lý.

    [23:12.] Cái tốt nếu như / đã là không có
    Vậy lấy cái gì / để mà có tham?
    Cái xấu nếu như / đã là không có
    Vậy lấy cái gì / để mà có sân?

    [23:13.] Giả sử nói thứ / vô thường là thường,
    Nếu chấp như vậy / là sự điên đảo,
    Nhưng đã không thì / đâu có vô thường,
    Sự chấp trước kia / làm sao điên đảo?

    [23:14.] Giả sử nói thứ / vô thường là thường,
    Chấp trước như vậy / là sự điên đảo,
    Nhưng tự tánh không / mà nói vô thường,
    Sự chấp trước này / sao chẳng điên đảo?

    [23:15.] Cái khiến cho chấp; / chính hành động chấp;
    Chủ thể chấp và / đối tượng được chấp:
    Hết thảy toàn là / an nhiên tịch tĩnh.
    Cho nên chấp cũng / không phải là có.

    [23:16.] Dù là lầm lẫn / hay đúng như thật,
    Thì cũng vẫn đều / không hề có chấp.
    Vậy đâu có gì / là thứ điên đảo,
    Cũng đâu có gì / là không điên đảo.

    [23:17.] Ở chỗ điên đảo
    Thì không điên đảo,
    Chỗ không điên đảo
    Thì không điên đảo,

    [23:18.] Chỗ đang điên đảo
    Cũng không điên đảo,
    Vậy ở chỗ nào / mới có điên đảo?
    Điều này ông phải / tự mình suy xét.

    [23:19.] Điên đảo nếu như / chưa được sinh ra
    Thì đâu làm sao / có thể là có.
    Điên đảo nếu như / chưa được sinh ra
    Thì đâu thể nào / có người điên đảo.

    [23:20.] Nếu như sự vật / không gì tự sinh
    Cũng không có gì / sinh từ thứ khác,
    Hay từ cả hai: / mình và người khác,
    Vậy người điên đảo / tìm đâu cho ra!

    [23:21.] Ngã, tịnh, thường, lạc,
    Nếu là có thì
    Ngã tịnh thường lạc
    Không là điên đảo.

    [23:22.] Ngã, tịnh, thường, lạc,
    Nếu không có thì
    Vô ngã, bất tịnh,
    Vô thường, và khổ, / đều không là có.

    [23:23.] Nhờ điên đảo diệt
    Nên vô minh diệt.
    Vô minh diệt rồi
    Thì hành, vân vân… / cũng đều diệt cả.

    [23:24.] Nếu như phiền não / của bất cứ ai,
    Có là bởi vì / tự tánh vốn có
    Nếu là như vậy / làm sao diệt bỏ?
    Đâu ai bỏ được / cái thứ vốn có? //

    [23:25.] Nếu như phiền não / của bất cứ ai,
    Không có bởi vì / tự tánh vốn không
    Nếu là như vậy / làm sao diệt bỏ?
    Đâu ai bỏ được / thứ vốn không có? //

    Đến đây hết Phẩm 23, tên là Quán Sự Điên Đảo.


    > PHẨM 24: QUÁN THÁNH ĐẾ

    [24:1.] — « Nếu những thứ đó / hết thảy đều không
    Thì không có thành / cũng không có hoại.
    Nói vậy chẳng lẽ / đối với các ông
    Cả tứ thánh đế / cũng đều không có?

    [24:2.] Tứ thánh đế này / đã là không có,
    Vậy thì tất cả / sự biết, sự đoạn,
    Sự tu, sự chứng,
    Xét theo lý lẽ / sẽ đều không có.

    [24:3.] Những sự ấy đều / đã là không có,
    Cho nên tứ quả / cũng là không có.
    Quả đã không có, / vậy thì trú quả,
    Hay là nhập quả, / cũng đều không có.

    [24:4.] Tám hàng Đại sĩ / nếu đã không có,
    Như vậy thì Tăng / cũng là không có.
    Thánh đế không có,
    Cho nên diệu Pháp / cũng là không có.

    [24:5.] Pháp cùng với Tăng / đều đã không có,
    Thử hỏi như vậy / làm sao có Phật?
    Dùng lời như vậy / để thuyết tánh không
    Thì cả Tam bảo / cũng đều bị phá.

    [24:6.] Làm như thế thì / còn gì quả báo,
    Pháp và phi pháp,
    Quy ước thế gian,
    Hết thảy toàn bộ / đều bị phá sạch. »

    [24:7.] Tôi nói việc này / chỉ tại nơi ông
    Chưa hiểu tánh không / vì sao cần thiết,
    Tánh chất là gì / ý nghĩa ra sao,
    Cho nên mới bị / tổn hại như vậy.

    [24:8.] Pháp chư Phật dạy
    Đều là dựa vào / hai loại chân lý.
    Một là tục đế: / quy ước thế gian,
    Hai là chân đế: / thắng nghĩa cứu cánh.

    [24:9.] Người nào không biết
    Phân biệt nhị đế
    Thì với giáo pháp / thâm sâu Phật dạy
    Sẽ không thể nào / biết đúng như thật.

    [24:10.] Nếu không dựa vào / danh ngôn thế tục
    Thì chẳng làm sao / giảng được chân nghĩa.
    Không đắc chân nghĩa
    Thì chẳng làm sao / đạt được niết bàn.

    [24:11.] Tánh không này đây / nếu như thấy sai,
    Thì người tuệ nhỏ / sẽ bị hủy hoại.
    Giống như bắt rắn / mà không biết cách,
    Hay dùng bùa chú / mà lại bỏ nhầm.

    [24:12.] Biết rõ pháp này / thật quá thâm sâu,
    Những kẻ độn căn / khó lòng chứng đắc,
    Nên đức Mâu ni / trong tim ngại ngần,
    Không muốn thuyết giảng.

    [24:13.] Hệ quả sai lầm / các ông nêu ra,
    Đối với tánh không / đều không đúng lý.
    Thứ tánh không mà / các ông vất bỏ,
    Đừng nên vô lý / ứng vào cho tôi.

    [24:14.] Tánh không đúng lý
    Thì hết tất cả / sẽ đều đúng lý.
    Tánh không vô lý
    Thì hết tất cả / sẽ đều vô lý.

    [24:15.] Ông đem lỗi mình
    Đổ hết cho tôi,
    Nào có khác gì / người đang cưỡi ngựa
    Mà lại quên mất / ngựa mình đang cưỡi.

    [24:16.] Các ông thấy rằng
    Sự vật hiện hữu / vì có tự tánh.
    Nếu thấy như vậy / nghĩa là các ông
    Thấy rằng sự vật / không có nhân duyên.

    [24:17.] Quả hay là nhân,
    Người làm, nhân làm, / hay là việc làm,
    Sinh hay là diệt,
    Hay là kết quả, / đều bị phá sạch.

    [24:18.] Thứ gì duyên sinh,
    Tôi nói là không,
    Cũng là giả danh:
    Đó là trung đạo.

    [24:19.] Không có pháp nào
    Không là duyên sinh,
    Nên không pháp nào
    Không phải là không.

    [24:20.] Các pháp nếu như / không phải là không,
    Thì không có thành / cũng không có hoại.
    Nói vậy vô lẽ / cả tứ thánh đế
    Đối với các ông / cũng đều là không.

    [24:21.] Nếu không phải là / tùy duyên sinh khởi
    Vậy thì khổ này / làm sao mà có?
    Đức Phật dạy rằng / khổ là vô thường.
    Cho nên không phải / là có tự tánh.

    [24:22.] Nếu như là do / tự tánh mà có
    Vậy nguồn gốc khổ / là cái gì đây?
    Vì thế cho nên / phá bỏ tánh không
    Thì cả tập đế / cũng không thể có.

    [24:23.] Khổ nếu là nhờ / tự tánh mà có
    Thì không làm sao / có thể tận diệt.
    Vì bởi tự tánh / thì phải trường tồn,
    Cho nên như vậy / là phá diệt đế.

    [24:24.] Đạo này nếu như / là có tự tánh
    Thì chẳng lý nào / lại có thể tu.
    Còn nếu như đạo / là cần phải tu,
    Tự tánh của ông / đạo này không có.

    [24:25.] Một khi khổ đế, / tập đế, diệt đế
    Đều đã không có,
    Vậy thì thử hỏi / đạo nào là đạo
    Diệt được khổ đau / để mà chứng đắc?

    [24:26.] Nếu sự chưa biết
    Mà có tự tánh
    Thì đâu thể nào / trở thành thấu biết.
    Chẳng phải tự tánh / trường tồn hay sao?

    [24:27.] Tương tự như vậy / như ông nói thì
    Sự đoạn, sự chứng,
    Sự tu, tứ quả / cũng đều sẽ giống
    Như là sự biết, / đều không thể có.

    [24:28.] Ai người chấp vào / sự có tự tánh,
    Thử hỏi quả này / nếu có tự tánh
    Thì quả chưa đắc
    Làm sao đắc được?

    [24:29.] Quả đã không có, / vậy thì trú quả,
    Hay là nhập quả, / cũng đều không có.
    Tám hàng Đại sĩ / nếu đã không có,
    Thì như vậy là / Tăng cũng không có.

    [24:30.] Thánh đế không có,
    Vậy thì diệu Pháp / cũng là không có.
    Pháp cùng với Tăng / đều đã không có,
    Thử hỏi như vậy / làm sao có Phật?

    [24:31.] Nói như ông nói, / vô lẽ không cần
    Duyên nơi bồ đề / mà vẫn có Phật?
    Nói như ông nói, / vô lẽ không cần
    Duyên nơi đức Phật / vẫn có bồ đề?

    [24:32.] Tự tánh của ông / đã là như vậy,
    Cho nên những ai / chưa phải là Phật,
    Vì tìm giác ngộ / tu hạnh bồ tát
    Thì cũng chẳng thể / đắc quả bồ đề.

    [24:33.] Sẽ chẳng ai làm / bất cứ việc gì
    Dù là làm thiện / hay là làm ác.
    Chỗ không phải không, / có gì để làm?
    Tự tánh thì đâu / có sự tạo tác.

    [24:34.] Dù lìa thiện ác,
    Nói như ông nói, / quả vẫn sẽ có.
    Từ nhân thiện ác,
    Nói như ông nói, / sẽ không sinh quả.

    [24:35.] Còn nếu ông nói
    Từ nhân thiện ác / có quả sinh ra,
    Vậy nếu như đã / sinh từ thiện ác
    Cớ sao quả ấy / lại chẳng là không?

    [24:36.] Tùy duyên sinh khởi
    Đó là tánh không. / Phá bỏ tánh không
    Cũng là phá bỏ / toàn bộ cảnh giới
    Quy ước thế gian.

    [24:37.] Tánh không này đây / nếu như phá bỏ
    Thì việc làm nào / cũng đều không có;
    Việc tuy chưa khởi / mà vẫn có làm;
    Việc không làm mà / người làm vẫn có.

    [24:38.] Tự tánh nếu có / thì chúng sinh sẽ
    Không sinh không diệt,
    Bất biến trường tồn,
    Tướng trạng không đổi.

    [24:39.] Không có tánh không / thì như vậy là
    Thứ gì chưa đắc / sẽ không thể đắc,
    Khổ đau không thể / làm cho kết thúc,
    Hết thảy phiền não / không thể đoạn lìa.

    [24:40.] Ai thấy duyên sinh
    Sẽ thấy khổ đế,
    Tập đế, diệt đế,
    Cùng với đạo đế.

    Đến đây hết Phẩm 24, tên là Quán Thánh Đế.


    > PHẨM 25: QUÁN NIẾT BÀN

    [25:1.] — « Nếu như mọi sự / hết thảy đều không,
    Thì không có thành / cũng không có hoại.
    Vậy thì cái gì / phải bỏ, phải diệt
    Để mà có cái / gọi là niết bàn? »

    [25:2.] Nếu như mọi sự / chẳng phải là không,
    Thì không có thành / cũng không có hoại.
    Vậy thì cái gì / phải bỏ phải diệt
    Để mà có cái / gọi là niết bàn?

    [25:3.] Không buông và cũng / không có thủ đắc;
    Không đoạn và cũng / không có thường còn;
    Không diệt và cũng / không có khởi sinh:
    Có như vậy mới / gọi là niết bàn.

    [25:4.] Trước hết, niết bàn / không phải thứ có,
    Vì không lẽ nào / lại có già, chết.
    Đã là có thì / đâu có thứ gì
    Không già không chết.

    [25:5.] Nếu như niết bàn / mà là thứ có
    Thì niết bàn phải / là pháp hữu vi.
    Đã là có thì
    Đâu có thứ gì / không là hữu vi.

    [25:6.] Nếu như niết bàn / mà là thứ có
    Thì tại làm sao / lại không tùy thuộc?
    Đã không tùy thuộc
    Thì đâu có gì / mà lại là có.

    [25:7.] Nếu như niết bàn / không phải thứ có
    Thì đâu thể nào / là thứ không có.
    Niết bàn nào đã / không phải là có
    Thì niết bàn ấy / chẳng phải là không.

    [25:8.] Nếu như niết bàn / không phải thứ có
    Thì tại làm sao / lại không tùy thuộc?
    Đã không tùy thuộc
    Thì đâu có gì / mà lại là không.

    [25:9.] Sự vật xoay vần / hết đến rồi đi,
    Do tùy thuộc hay / do nhân duyên tạo.
    Không còn tùy thuộc, / không nhân duyên tạo,
    Thì

    [Như lai] dạy / đó là niết bàn.

    [25:10.] Thành cùng với hoại / đều phải từ bỏ
    Đó là lời dạy / của đấng bổn sư.
    Nhờ đó mà biết / niết bàn đúng ra
    Chẳng phải là có / chẳng phải không có.

    [25:11.] Giả sử niết bàn / là cả hai thứ
    Vừa có, vừa không,
    Vậy chẳng hóa ra / giải thoát cũng là
    Vừa có, vừa không? Điều này phi lý.

    [25:12.] Giả sử niết bàn / là cả hai thứ
    Vừa có, vừa không,
    Vậy thì không phải / là không tùy thuộc,
    Bởi hai điều này / đều là tùy thuộc.

    [25:13.] Niết bàn làm sao / có thể là thứ
    Vừa có, vừa không,
    Niết bàn thì phải / là pháp vô vi,
    Có và không có / lại là hữu vi.

    [25:14.] Ở chỗ niết bàn / làm sao có thể
    Vừa có, vừa không, / đắc được cả hai?
    Có và không có / không ở cùng chỗ,
    Như ánh sáng không / ở cùng bóng tối.

    [25:15.] Bảo rằng niết bàn
    Chẳng phải là có / chẳng phải không có,
    Có và không có / phải thiết lập đã
    Rồi mới có thể / thiết lập điều này.//

    [25:16.] Giả sử niết bàn
    Chẳng phải là có / chẳng phải không có,
    Vậy ai là người / nói rằng, « niết bàn
    Chẳng phải là có / chẳng phải không có? »

    [25:17.] Đức Phật Thế tôn / sau khi nhập diệt,
    Đâu thể nào thấy / rằng Phật là có,
    Rằng Phật không có, / hay thấy rằng Phật
    Cũng có cũng không / chẳng có chẳng không.

    [25:18.] Đức Phật Thế tôn / khi còn tại thế
    Đâu thể nào thấy / rằng Phật là có;
    Rằng Phật không có, / hay thấy rằng Phật
    Cũng có cũng không, / chẳng có chẳng không.

    [25:19.] Sinh tử luân hồi / so với niết bàn
    Đều không hề có / mảy may phân biệt.
    Niết bàn so với / sinh tử luân hồi
    Đều không hề có / mảy may phân biệt.

    [25:20.] Giới hạn niết bàn / rốt ráo ở đâu,
    Giới hạn luân hồi / cũng là ở đó.
    Giới hạn này không / mảy may phân biệt,
    Vi tế đến đâu / cũng đều không khác.

    [25:21.] Thấy sau diệt độ;
    Hữu biên vân vân; / thường còn vân vân;
    Là những cái thấy / y cứ niết bàn
    Và y cứ theo / giới hạn trước, sau.

    [25:22.] Sự vật đều không, / đã vậy thử hỏi
    Có gì hữu biên? / có gì vô biên?
    Có gì cũng hữu / và cũng vô biên?
    Có gì chẳng hữu / và chẳng vô biên?

    [25:23.] Có gì là nó? / có gì là khác?
    Có gì thường còn / có gì vô thường?
    Có gì vừa thường / vừa là vô thường?
    Có gì cả hai / đều là không phải?

    [25:24.] Đối cảnh lắng hết / vào trong tịch diệt
    Bao nhiêu động niệm / tịch lắng tịnh yên
    Đức Phật có thuyết / pháp gì ở đâu
    Cho ai bao giờ?

    Đến đây hết Phẩm 25, tên là Quán Niết Bàn.


    > PHẨM 26: QUÁN MƯỜI HAI NHÁNH DUYÊN SINH

    [26:1] Vô minh che chướng / khiến mãi tái sinh
    Vì để tái sinh / khởi ba loại hành.
    Vì hành nghiệp ấy
    Mà phải đi vào / luân hồi sinh tử.

    [26:2.] Bởi duyên nơi hành
    Nên thức cứ phải / đi vào sinh tử.
    Khi thức chuyển sinh
    Thì danh và sắc / từ đó hình thành.

    [26:3.] Danh sắc hình thành
    Thì sinh lục nhập.
    Dựa vào lục nhập,
    Mà xúc khởi sinh.

    [26:4.] Sự khởi sinh này / toàn là dựa vào
    Nơi nhãn, và sắc / và sự nhớ đến.
    Vì thế cho nên / dựa vào danh sắc
    Mà thức khởi sinh.

    [26:5.] Nhãn, sắc, và thức,
    Ba thứ hợp lại / thành ra thứ gì
    Thì đó là xúc / từ nơi xúc này
    Thọ sẽ phát sinh.

    [26:6.] Duyên ở nơi thọ / đó chính là ái.
    Bởi vì thọ mà / có ái sinh ra.
    Khi đã có ái
    Thì bốn loại thủ / sẽ được hình thành.

    [26:7.] Thủ mà hình thành / thì người nhiếp thủ
    Chắc chắn hiện hữu.
    Thủ không hình thành
    Thì sẽ giải thoát / chứ không thành hữu.

    [26:8.] Hữu là năm uẩn.
    Từ nơi hữu này / sinh sẽ phát sinh.
    Từ đó mà phải / già chết, sầu muộn,
    than khóc, đớn đau,

    [26:9.] Tâm ý không vui / tinh thần bấn loạn,
    Hết thảy đều từ / nơi sinh mà có.
    Cứ như thế đó / cả khối khổ đau
    Đơn thuần này đây / đã được sinh ra.

    [26:10.] Gốc của luân hồi / nằm ở nơi hành,
    Nên người có trí / thì không tạo tác.
    Người không có trí / là người tạo tác,
    Vì bậc minh trí / thì thấy tánh như.

    [26:11.] Vô minh mà dứt
    Thì hành cũng dứt.
    Vô minh dứt được
    Là nhờ tuệ giác / tu tập tánh như.

    [26:12.] Cái này cái kia / một khi đã diệt,
    Cái kia cái nọ / sẽ không hiện hành.
    Cả khối khổ đau / đơn thuần này đây
    Phải như thế đấy / mới thật là diệt.

    Đến đây hết Phẩm 26 tên là Quán 12 Nhánh Duyên Sinh.


    > PHẨM 27: QUÁN CÁI THẤY

    [27:1.] Thấy ngã quá khứ / có hay không có…
    Thấy cõi thế gian / thường còn vân vân,
    Những cái thấy này
    Đều là tùy thuộc / vào giới hạn trước.

    [27:2.] Thấy ngã trong thời / vị lai nào khác / có hay không có,
    Thấy thế gian có / kết thúc vân vân,
    Những cái thấy này
    Đều là tùy thuộc / vào giới hạn sau.

    [27:3.] Nói rằng ngã này / có trong quá khứ
    Là không đúng lý.
    Ngã nào có ở / trong các đời trước
    Không phải là ngã / ở trong đời này.

    [27:4.] Nghĩ rằng ngã ấy / chính là mình đây.
    Nhưng được nhiếp thủ / lại là thứ khác.
    Ngoại trừ những thứ / được nhiếp thủ ra,
    Thì ngã của ông / đâu là cái gì!

    [27:5.] Nói ngoại trừ thứ / được nhiếp thủ ra
    Thì không có ngã,
    Nên ngã chính là / thứ được nhiếp thủ.
    Vậy ngã của ông / cũng là không có.

    [27:6.] Thứ được nhiếp thủ / không phải là ngã,
    Vì nó có sinh / và cũng có hoại.
    Thứ được nhiếp thủ / làm sao có thể
    Là người nhiếp thủ?

    [27:7.] Nói ngã khác với / thứ được nhiếp thủ
    Là không đúng lý. / Nếu khác, lẽ ra
    Cho dù không thủ / vẫn nắm bắt được
    Nhưng mà đâu phải.

    [27:8.] Nên không khác với / thứ được nhiếp thủ,
    Cũng không phải là / thứ được nhiếp thủ.
    Không có nhiếp thủ / thì không có ngã.
    Sự không có này / cũng không nhất định.

    [27:9.] Nói trong quá khứ / ngã này không có
    Thì nói như vậy / là không đúng lý.
    Ngã nào có ở / trong thời quá khứ,
    Không phải là khác / với ngã đời này.

    [27:10.] Giả sử ngã này / khác ngã đời trước
    Thì không ngã trước / ngã này vẫn có.
    Và ngã đời trước / sẽ luôn tồn tại
    Ngã trước chưa chết / ngã này vẫn sinh.

    [27:11.] Thế là đoạn diệt, / làm hỏng mất nghiệp.
    Nghiệp người này làm
    Người kia phải chịu,
    Những việc đại loại / ắt sẽ phát sinh

    [27:12.] Chưa từng khởi sinh / thì không thể sinh,
    Bằng không sẽ dẫn / đến nhiều lầm lỗi.
    Ngã như vậy sẽ / là thứ được tạo,
    Hay là sinh ra / mà không có nhân.

    [27:13.] Vậy dù thấy ngã / là có; là không;
    Cũng có cũng không; / chẳng có chẳng không;
    Những cái thấy này / về ngã quá khứ
    Đều không đúng lý.

    [27:14.] Thấy ngã trong thời / vị lai nào khác
    Là có, là không…
    Những cái thấy này
    Cũng đều giống như / thấy ngã quá khứ.

    [27:15.] Nếu như trời này / chính là người kia
    Thì như vậy sẽ / là thứ thường còn.
    Trời mà như vậy / sẽ không sinh ra,
    Vì đã thường còn / thì không sinh khởi.

    [27:16.] Nếu như trời này / chính là người kia
    Thì như vậy sẽ / là thứ vô thường.
    Nếu trời và người / là khác với nhau,
    Ắt không thể nào / có dòng tương tục.

    [27:17.] Nếu một phần trời
    Một phần là người,
    Thì sẽ vừa thường / vừa là vô thường,
    Điều này vô lý.

    [27:18.] Giả sử cả hai / thường và vô thường
    Đều được thiết lập / thì phải chấp nhận
    rằng « Chẳng phải thường / chẳng phải vô thường »
    Cũng được thiết lập.

    [27:19.] Nếu như có được / bất cứ một ai
    Từ nơi nào tới / rồi đi nơi khác
    Thì luân hồi mới / không có khởi điểm,
    Nhưng không làm gì / có chuyện như vậy.

    [27:20.] Nếu đã không có / cái gì thường còn,
    Vậy thì thử hỏi / có gì vô thường,
    Có gì vừa thường / vừa là vô thường,
    Có gì chẳng thường / chẳng là vô thường.

    [27:21.] Nếu như thế gian / mà là hữu biên,
    Vậy thì làm sao / có được đời sau?
    Nếu như thế gian / mà là vô biên,
    Vậy thì làm sao / có được đời sau?

    [27:22.] Đó là bởi vì / các uẩn tiếp nối
    Giống như ánh sáng / của ngọn lửa đèn,
    Vì thế cho nên / dù là hữu biên
    Hay là vô biên / cũng đều phi lý.

    [27:23.] Nếu như uẩn trước / đã hoại diệt rồi,
    Và dựa uẩn trước
    Uẩn sau không sinh,
    Có vậy thế gian / mới là hữu biên.

    [27:24.] Nếu như uẩn trước / không có hoại diệt,
    Và dựa uẩn trước
    Uẩn sau không sinh,
    Có vậy thế gian / mới là vô biên.

    [27:25.] Nếu như thế gian / một bên hữu biên,
    Một bên vô biên, / vậy thế gian này
    Vừa là hữu biên / vừa là vô biên,
    Cũng không thuận lý.

    [27:26.] Là người nhiếp thủ / làm sao có thể
    Một bên hoại diệt,
    Một bên không hoại,
    Cái chuyện như vậy / thật là vô lý.

    [27:27.] Cái được nhiếp thủ / làm sao có thể
    Một bên hoại diệt,
    Một bên không hoại,
    Cái chuyện như vậy / thật là vô lý.

    [27:28.] Nếu như hữu biên / cùng với vô biên
    Mà được thiết lập, / thì phải chấp nhận
    Không phải hữu biên / không phải vô biên
    Cũng được thiết lập.

    [27:29.] Hơn nữa mọi sự / hết thảy đều không,
    Vậy những cái thấy / thường còn, vân vân,
    Là có ai thấy, / thấy gì, nhờ đâu,
    Vì sao mà có / cái thấy như vậy?

    Đến đây hết Phẩm 27, tên là Quán Cái Thấy

    [Hoàn Luận]

    Với lòng từ bi / thương yêu gìn giữ,
    Vì để đoạn lìa / hết thảy kiến chấp,
    Nên Phật thuyết cho / thắng pháp này đây.
    Đức Phật Cồ Đàm / con xin kính lễ.


    Xuất Xứ Bản Tạng Ngữ

    Trên đây là bài pháp Căn Bản Trung Quán Luận Tụng, được gọi là Tuệ Giác Bát Nhã, trình bày giáo pháp A tì đạt ma của Đại thừa, minh giải đường đi của Bát nhã ba la mật, giảng về chân tánh của thắng nghĩa đế, được viết ra bởi Thánh giả Long Thọ, bậc thầy vĩ đại với trí tuệ từ bi không ai sánh bằng, làm sáng tỏ cỗ xe vô thượng của Như lai, đắc Hoan hỉ địa, vào cõi Cực lạc, rồi trở thành đức Như lai Sinh Xứ Trí Quang tại quốc độ Trừng Quang.

    Theo lệnh của bậc tối thắng chúa thượng tự tại, đại vương ngự trị cát tường [Quốc Vương Trisong Detsen], bài pháp này được đại sư trưởng Trung đạo xứ Ấn là Sư Trí Tạng [Jñanagarbha, thế kỷ thứ VIII] chuyển dịch, tỷ kheo dịch giả Chokro Lui Gyaltsen chuyển dịch, hiệu đính và hoàn thành văn bản, gồm 27 phẩm, 449 chỉnh cú, gom thành một quyển rưỡi. Sau đó, vào thời đại của Bậc Chúa Tể Loài Người Aryadeva, tại tu viện Ratnagupta [Tu viện Bảo Mật], thành Anupama [Vô Song] xứ Kashmir, luận này lại được sư trưởng người Kashmir tên là Hasumati và dịch giả người Tạng tên là Patsap Nyima Drak [thế kỷ thứ 11] chỉnh lại theo Minh Cú Luận. Sau nữa, tại điện Rasa Trulnang, lại được sư trưởng người Ấn tên Kanaka và dịch giả Patsap Nyima Drak nói trên chỉnh lại lần chót.

    Xuất Xứ Bản Việt Ngữ

    Hồng Như chuyển Việt ngữ từ bản Tạng ngữ nói trên, tham khảo cùng bản Anh dịch của Jay L. Garfield; bản Anh dịch của nhóm dịch thuật Padmakara; bản Hán dịch của ngài Cưu Ma La Thập [Kumārajīva]. Ấn bản đầu tiên tháng 08 năm 2021. Bản hiện tại đã duyệt lại theo Minh Cú Luận.

    [Trung Quán Luận bản Việt dịch đến đây là hết]

    Bồ đề tâm trân quí
    Nơi nào chưa có, nguyện sẽ nảy sinh
    Nơi nào đã sinh, nguyện không thoái chuyển
    Luôn luôn tăng trưởng không bao giờ ngừng.


  • Long Thọ: GIẢNG VỀ TÂM BỒ ĐỀ [Long Thọ]

    Tác giả: đức Long Thọ (Nagarjuna)
    Tựa đề tiếng Phạn: Boddhicittavivarana
    Tựa đề tiếng Việt: Bồ Đề Tâm Thích: Giảng Về Tâm Bồ Đề
    (Hồng Như dịch từ bản Anh  ngữ
    [A Commentary On The Awakening Mind] của Geshe Thupten Jinpa.  Bản dịch đầu 2007, nhuận văn 2009, 09/2020.)

    Hạ tải bản tiếng Việt: [PDF] 
    Hạ tải bản tiếng Anh [English version by Thupten Jinpa PDF]

    Prerequisites: Everyone can read
    Điều kiện hành trì: Mọi người đều có thể đọc

    Kính lễ tán dương đức Kim Cang Tát Đỏa!

    Chư Phật nói rằng:

    Không có thực thể;
    Lìa bỏ phân biệt / đối tượng, chủ thể,
    Như là các uẩn, / hay là giới, xứ;
    Vạn pháp bình đẳng / vô ngã như nhau,
    Tâm vốn vô sinh;
    Chân tánh của tâm / chính là tánh không.

    Cũng như chư Phật cùng chư bồ tát đã từng phát tâm vô thượng bồ đề, nay tôi cũng làm đúng theo như vậy, kể từ bây giờ cho đến khi vào trái tim giác ngộ, tôi nguyện phát tâm vô ­thượng bồ đề, để có khả năng cứu vớt những ai chưa được cứu vớt, cởi thoát những ai chưa được cởi thoát, cứu độ những ai chưa được cứu độ, và cho những ai còn chưa triệt để siêu thoát khổ đau, tôi sẽ giúp cho siêu thoát được cả.

    Chư vị bồ tát hành trì mật pháp sau khi phát tâm bồ đề qui ước nhờ vào nguyện lực, tiếp theo phải nhờ năng lực thiền định mà thành tựu tâm bồ đề cứu cánh. Vậy nay tôi xin hiển lộ chân tánh của tâm bồ đề.

    1. Trước đấng cát tường / Phật Kim Cang Trì,
    Ngài là hiện thân / của tâm bồ đề,
    Đệ tử đảnh lễ / và xin thuyết về / thiền định bồ đề,
    Là tâm khiến cho / luân hồi đoạn diệt.

    2. Chư Phật minh xác / tâm bồ đề này
    Vốn không từng bị / khái niệm che mờ,
    Như niệm chấp “ngã,” / chấp “uẩn” hay là / chấp các thứ khác;
    Tâm bồ đề vốn / chỉ là tánh không.

    3. Phải vận dụng tâm / thấm nhuần từ bi,
    Để mà tinh tấn / phát tâm bồ đề.
    Tất cả chư Phật / đại từ đại bi
    Đều luôn miên mật / phát tâm như vậy.

    4. Ngã do các phái / cực đoan đề xướng
    Nếu dùng luận lý / quán sát tận tường
    Bên trong các uẩn / [của thân và tâm].
    Sẽ không thể thấy / ngã thật ra trú / ở nơi chốn nào.

    5. Các uẩn tuy có / [nhưng] không thường còn;
    Nên không thể mang / tính chất của ngã.
    Thường và vô thường, / không thể nào có
    Cái này làm chỗ / chứa đựng cái kia.

    6. Nếu cái gọi là / “ngã” vốn không có,
    Thì cái gọi là / “thực thể” làm sao / có thể thường còn?
    Phải có các pháp / rồi mới có thể
    Quán xét truy tìm / thuộc tính của nó / trong cõi thế gian.

    7. Điều gì thường còn / thì không thể nào / tạo nên tác dụng
    Dù tạo từ từ / hay ngay tức thì;
    Vậy dù bên ngoài / hay là bên trong
    Đều không thể có / thực thể thường còn.

    8. Nếu như cái ngã / vốn là vạn năng / làm sao có thể / tùy thuộc thứ khác?
    Lẽ ra phải tạo / [tất cả các pháp] / trong cùng một lúc.
    Đã là tùy thuộc / vào điều gì khác
    Thì không thể nào / thường còn, vạn năng.

    9. Nếu như cái ngã / là một thực thể / thì không thường còn,
    Vì các thực thể / đều luôn chuyển biến / trong từng sát na;
    Còn đối với các / thực thể vô thường, / tạo nên sự vật,
    [[tôi]] không phủ nhận.

    10. Toàn cõi thế gian / vốn dĩ không có / cái ngã, vân vân,
    Thế nhưng lại bị / triệt để khống chế / bởi những khái niệm
    Về uẩn, giới, xứ,
    Chủ thể, đối tượng.

    11. Vì làm lợi ích / cho khắp chúng sinh,
    Nên [Phật tùy duyên] / dạy chúng Đệ tử:
    Năm uẩn là sắc,
    Thọ, tưởng, hành, thức.

    12. Đấng Lưỡng Túc Tôn / thường dạy thêm rằng:
    “Sắc như bọt nổi;
    Thọ như bóng nước;
    Tưởng như ảo ảnh;

    13. Hành như thân chuối;
    Thức như ảo thuật.”
    Đó chính là lời
    Phật dạy bồ tát.

    14. Tất cả những gì / hợp từ tứ đại
    Đều là sắc uẩn.
    Các uẩn còn lại / đều được xác định /
    Là phi vật thể.

    15. Trong đó, nhãn căn / và sắc, vân vân…
    Được gọi là giới;
    Và cũng được gọi / là mười hai xứ,
    Hay là chủ thể, / cùng với đối tượng.

    16. Cực vi sắc trần / là điều không có, / nhãn căn cũng không;
    Và nhãn căn làm / chủ thể nhận thức / cũng không hề có;
    Cho nên cái tạo / và cái được tạo
    Hoàn toàn chẳng hợp / với sự tạo sinh.

    17. Vi trần không thể / tạo sinh nhận thức
    Vì lẽ vi trần / nằm ngoài phạm vi / của các giác quan.
    [Hoặc giả] nói rằng / vi trần tập hợp / mà sinh ra thức?
    Thế nhưng tập hợp / của các vi trần / cũng không thể có.

    18. Cho dù phân xẻ / chí đến cực vi
    Thì cũng vẫn còn / thành phần phương hướng;
    Đã là một vật / gồm nhiều thành phần,
    Làm sao có thể / gọi bất khả phân?

    19. Trước một đối cảnh,
    Có thể phát sinh / nhiều loại nhận thức
    Người này thấy đẹp
    Nhưng với người kia / có khi lại khác.

    20. Đối với cùng một / thân người phụ nữ,
    Có khi phát sinh / ba loại nhận thức : Nhà tu khổ hạnh / sẽ thấy thây ma ;
    Đàn ông nhìn ra / đối tượng thèm muốn;
    Chó [hoang] lại thấy / là miếng mồi ngon.

    21. [Nếu như nói rằng] / “khả năng tác động / nằm ở đối cảnh”
    Chẳng phải cũng là / giống như trong mơ / thấy mình bị hại?
    Nếu xét khả năng / tác động của cảnh,
    Giữa cảnh trong mơ / và cảnh khi tỉnh / khả năng tác động / chẳng khác gì nhau.

    22. Chủ thể, đối tượng,
    Đều hiện trong tâm
    Tách lìa tâm ra
    Hoàn toàn không có / đối cảnh nào khác.

    23. Vì vậy không có
    Đối cảnh thực hữu;
    Chỉ do nhận thức / trong tâm mỗi người
    Hiện thành đối cảnh.

    24. Tựa người mê muội
    Thấy toàn huyễn cảnh,
    Thành quách đền đài / quỉ càn thát bà,
    Do đó họ thấy / sắc uẩn hiện ra / cùng các uẩn khác.

    25. Vì để phá tan / mê lầm chấp ngã
    Nên [đức Phật] dạy / về uẩn, giới, xứ…
    Những kẻ thiện duyên / trú ở Duy thức
    Về sau ngay cả / [pháp này] cũng bỏ.

    26. Duy thức nói rằng
    Vạn pháp đều do / tâm tạo mà thành.
    Vậy tánh chất của / tâm ấy là gì?
    Tôi sẽ minh giải / điểm này ở đây.

    27. Đức Mâu ni dạy
    “Nhất thiết duy tâm,”
    Đó là để giúp / cho kẻ ấu trĩ / vất bỏ sợ hãi;
    Sự thật đúng ra / không phải như vậy.

    28. Tự tánh giả lập, / tự tánh tùy thuộc,
    Tự tánh viên thành, / ba tánh chỉ có
    Một tánh chân thật / đó là tánh không;
    Hành trạng ba tánh / được dựng lên từ / ngay ở nơi tâm.

    29. Đối với những người / vui trong Đại thừa
    Đức Phật nói lời / ngắn gọn như sau:
    Rằng vô ngã vốn / tuyệt đối bình đẳng;
    Và rằng tâm vốn / bản lai vô sinh.

    30. Du Già Tông nói
    Chính nhờ điều phục / và nhờ chuyển hóa / toàn bộ tâm thức
    Mà tâm trở nên / hoàn toàn thanh tịnh,
    Và cũng trở thành / đối tượng nhận thức / của tâm tự biết.

    31. Quá khứ không còn;
    Tương lai chưa tới;
    Hiện tại thì lại / luân chuyển không ngừng,
    Vậy đâu thể có / [tâm trong] hiện tại?

    32. Thật tánh của tâm / thì không thể thấy;
    Những gì thấy được / đều không phải là / thật tánh của tâm;
    Tâm thức vô ngã;
    Và cũng không có / nền tảng nào khác.

    33. Ví như thỏi sắt
    Gần đá nam châm / lập tức qui về;
    Tuy không có tâm
    Nhưng lại giống như / là vật có tâm.

    34. Tương tự như vậy / tạng thức không thật
    Mà thấy giống như / là điều có thật;
    Cứ vậy tới lui,
    Lưu giữ tất cả / [ba cõi] luân hồi.

    35. Cũng như thân cây / bập bềnh trên biển
    Dù chẳng có tâm;
    Tạng thức cũng vậy
    Tùy thuộc nơi thân / mà có chuyển động.

    36. Như vậy, nếu nói
    Rằng không có thân / thì không có thức,
    Vậy phải giải thích
    Xem “tâm tự biết” / thật ra là gì?

    37. Gọi “tâm tự biết”
    Vậy là mặc nhiên / khẳng định thức này / là một thực thể;
    Thế nhưng khi nói / “nó là như vậy”
    Thì lại khẳng định / thức này vô năng.

    38. Tự mình xác quyết,
    Và để giúp cho / người khác xác quyết,
    Bậc trí luôn dùng / luận lý tuyệt hảo
    Không vướng sai lầm.

    39. Thức là chủ thể / nhận biết đối tượng;
    Nếu không đối tượng / chủ thể cũng không;
    Vậy sao các ông / không thấy ra rằng
    Chủ thể, đối tượng, / đều không thật có?

    40. Tâm là giả danh;
    Ngoài cái tên ra / không là gì cả;
    Cho nên phải thấy / thức là giả danh
    Và cả danh này / cũng không tự tánh.

    41. Dù trong hay ngoài,
    Hay ở chính giữa,
    Chư Phật chẳng từng / tìm thấy được tâm;
    Vậy tánh của tâm / là tánh như huyễn.

    42. Phân biệt sắc, dạng,
    Đối tượng, chủ thể,
    Nam, nữ, trung tính –
    Tâm chẳng hề có / tướng dạng nhất định.

    43. Tóm lại chư Phật / chẳng từng thấy qua
    Và cũng sẽ không / bao giờ nhìn thấy / [cái tâm như vậy];
    Tâm không tự tánh / làm sao chư Phật
    Lại có thể thấy / là có tự tánh?

    44. “Thực thể” thật ra / chỉ là khái niệm;
    Vắng bặt khái niệm / đó là tánh không;
    Nếu như niệm khởi / tánh không đâu còn?

    45. Cái tâm phân biệt / chủ thể, đối tượng,
    Là điều Như lai / chẳng từng nhìn thấy;
    Nơi nào còn có / chủ thể đối tượng
    Thì chẳng thể có / giác ngộ bồ đề.

    46. Vô tánh, vô sinh;
    Và không thật có; / ngoài tầm nghĩ bàn;
    Hư không, bồ đề, / cùng với giác ngộ,
    Tất cả vượt ngoài / phạm trù đối đãi.

    47. Các bậc trú trong / trái tim giác ngộ
    Như chư Thế tôn, / cùng chư đại sĩ,
    Chư đại từ bi,
    Đều biết tánh không / tựa như hư không .

    48. Vậy phải miên mật / thiền quán tánh không:
    Nền tảng các pháp,
    An tịnh, như huyễn,
    Và vô sở trú, / đoạn diệt luân hồi.

    49. [Chấp không] như là / “vô sinh,” “tánh không,”
    Hoặc như “vô ngã,”
    Thiền quán những loại / tánh không như vậy
    Đó chẳng phải là / thiền quán [chân thật].

    50. Khái niệm thiện ác
    Mang tánh sinh diệt
    Phật nói là không;
    Ngoài ra chẳng có / tánh không nào khác.

    51. Tâm vô sở trụ, / trú xứ của tâm
    Có những đặc tánh / tựa như hư không;
    [Vậy] thiền tánh không
    [Thật ra] phải nói / là thiền hư không.

    52. Tánh không chính là / tiếng gầm sư tử
    Làm cho kinh sợ / mọi giáo thuyết khác;
    Luận sư dị tông / dù trú nơi đâu,
    Tánh không cũng vẫn / đợi ngay nơi ấy.

    53. Đã nói tâm thức / vốn luôn sinh diệt,
    Thì đâu thể nào / nói thức thường còn;
    Nếu tâm vô thường
    Làm sao có thể / nghịch với tánh không?

    54. Tóm lại chư Phật
    Nói tâm vô thường,
    Sao các ông lại / chẳng thể chấp nhận
    Tâm cũng là không?

    55. Tâm tự bản lai
    Vốn không tự tánh;
    Nói vậy không phải / tâm có tự tánh
    Rồi tự dưng lại / mất đi tự tánh.

    56. Thấy được như vậy, / là lìa bỏ hết
    Ngã chấp trong tâm;
    Đi quá ra ngoài / bản tánh sự vật
    Thì chẳng phải là / chân tánh vạn pháp.

    57. Cũng như vị ngọt / là tánh của đường
    Hay như sức nóng, / là tánh của lửa,
    Tương tự như vậy, / chúng tôi nói rằng
    Tánh của vạn pháp / chính là tánh không.

    58. Nói tánh không là / tánh [của vạn pháp]
    Như vậy chẳng phải / đề xướng đoạn kiến
    Đồng thời cũng không
    Đề xướng thường kiến.

    59. Khởi từ vô minh / cho đến lão tử,
    Tất cả quá trình / phát sinh ra từ
    Mười hai nhân duyên,
    Chúng tôi nói rằng / như mộng, như huyễn.

    60. Bánh xe nhân duyên / gồm mười hai nhánh
    Lăn trên đường đời / luân hồi sinh tử,
    Ngoài ra chẳng thể / có chúng sinh nào
    Tạo nghiệp, thọ quả.

    61. Ví như khuôn mặt / tùy thuộc vào gương / mà ảnh hiện ra,
    Đó chẳng phải là / mặt đi vào gương;
    Thế nhưng không gương
    Thì cũng không ảnh.

    62. Tương tự như vậy / ngũ uẩn giả hợp / thành kiếp sống mới;
    Nhưng mà bậc trí / luôn thấy rõ rằng
    Chẳng phải có người / vừa mới tái sinh
    Cũng chẳng có ai / chuyển sang kiếp mới.

    63. Nói tóm gọn lại: / từ những sự vật / vốn chỉ là không,
    Mà phát sinh ra / những sự vật khác / cũng toàn là không;
    Người tạo nghiệp cùng / với nghiệp đã tạo, / quả tạo, cùng với / chính người chịu quả, // Đức Phật dạy rằng / tất cả đều thuộc / phạm trù qui ước [Tục đế].

    64. Như tiếng trống lớn, / hay như chồi non
    Đều do nhân duyên / phối hợp mà thành.
    Do đó mà nói / cảnh giới duyên sinh
    Đều như mộng ảo.

    65. Rằng vạn pháp đều / do nhân duyên sinh,
    Không hề mâu thuẫn / [với không tự tánh],
    Vì chính nhân này / rỗng lặng không nhân,
    Nên phải hiểu rằng / vạn pháp vô sinh.

    66. Vô sinh của pháp
    Đức Phật dạy rằng / đó là tánh không;
    Tóm lại, năm uẩn
    Gọi là “vạn pháp.”

    67. Khi mà chân đế / được thuyết như vậy
    Thì chẳng hề làm / chướng ngại tục đế;
    Lìa tục đế ra,
    Chân đế chẳng còn.

    68. Phật dạy tục đế / chính là tánh không;
    Tánh không, tự nó, / chính là tục đế;
    Cái này không thể / tách lìa cái kia
    Cũng như vô thường / chẳng lìa sinh khởi.

    69. Tục đế khởi sinh / từ nghiệp, phiền não;
    Nghiệp thì lại từ / tâm mà sinh ra;
    Còn tâm là do / tập khí tích tụ;
    Tách lìa tập khí / an lạc hiện tiền.

    70. Tâm hỉ thì tịnh;
    Tâm tịnh thì định;
    Không loạn động vì / thấy đúng như thật;
    Thấy đúng như thật / là đạt giải thoát.

    71. Tâm này gọi là / “chân như,” “pháp giới,”
    “vô tướng,” “chân đế,”
    “vô thượng bồ đề,”
    và là “tánh không.”

    72. Không hiểu tánh không,
    Thì không thể nào / đủ sức lĩnh hội / đường tu giải thoát;
    Nên kẻ vô minh / cứ phải trầm luân
    Ở trong sáu cõi / tù ngục luân hồi.

    73. Nếu bậc hành giả
    Quán không như vậy
    Chắc chắn tâm sẽ
    Thiết tha mong muốn / lợi ích chúng sinh.

    74. “Đối với chúng sinh / trong đời quá khứ
    Đã từng cho tôi / rất nhiều ơn nặng,
    Như là cha, mẹ, / bằng hữu, thân nhân…
    Tôi nguyện đền trả / trọn vẹn ơn này.”

    75. “Vậy mà chúng sinh / lại bị thiêu đốt
    Bởi lửa phiền não / tù ngục luân hồi;
    Trong thời quá khứ / tôi khiến cho họ / chịu nhiều khổ não;
    Nay tôi xin nguyện / làm điều lợi ích / mang đến cho họ / tất cả an vui.”

    76. Quả lành, quả dữ;
    Thọ sinh thiện đạo, / hoặc sinh ác đạo
    Tất cả đều do / làm lợi cho người
    Hay là tác hại.

    77-78. Nương vào chúng sinh
    Chắc chắn rồi sẽ / đạt quả vô thượng;
    Chẳng đáng ngạc nhiên
    Khi thấy bất cứ / quả an lạc nào
    Trong cõi trời, người, / như là các đấng
    Phạm Thiên, Đế Thích / Hắc Thiên cùng với
    Thần linh bảo hộ / trong khắp ba cõi,
    Đều có là nhờ / lợi ích chúng sinh.

    79. Còn như địa ngục, / ngạ quỉ, súc sinh,
    Bao nhiêu khổ não
    Chúng sinh phải chịu,
    Đều có là vì / nhiễu hại người khác.

    80. Chịu đói, chịu khát, / xâu xé lẫn nhau,
    Hấp hối quẫn bách, // Chẳng thể quay đầu, /
    không có kết thúc; // Tất cả đều là /
    quả báo phải chịu / vì hại chúng sinh.

    81. [Bên này thì có], / quả Phật, bồ đề,
    Thọ sinh thiện đạo;
    [còn bên kia là] / thọ sinh cõi dữ ;
    Cho nên phải biết / [nghiệp] quả có hai.

    82. Vậy có được gì / hãy mang ra hết / phụng sự chúng sinh;
    Giữ gìn chúng sinh / như giữ thân mạng;
    Còn tâm dửng dưng / đối với chúng sinh
    Hãy nên vất bỏ / như vất thuốc độc.

    83. Chư vị thanh văn / đạt quả vị nhỏ / chẳng chính là vì
    Các vị không có / tình thương rộng lớn / đối với chúng sinh?
    Chư Phật không hề / lìa bỏ chúng sinh
    Do đó đạt được / vô thượng bồ đề.

    84. Vậy, khi đã thấy / việc làm thiện, ác,
    Dẫn đến nghiệp quả / lành dữ ra sao,
    Làm sao có thể, / dù chỉ phút giây,
    Giữ tâm vị kỷ / thủ lợi riêng mình?

    85. Nhờ bám sâu rễ / nơi tâm đại bi,
    Mà tâm bồ đề / đâm chồi nảy lá,
    Từ đó trổ ra / quả [chân] giác ngộ, / là quả duy nhất / của tâm vị tha,
    Đây là điều mà / những người con Phật / vẫn luôn thuần dưỡng.

    86. Ai nhờ tu tập / mà tâm bồ đề / trở nên kiên cố,
    Đối trước nỗi khổ / của khắp chúng sinh / xiết bao kinh hãi,
    Hỉ lạc trong định / liền từ bỏ hết,
    Muôn trùng sâu thẳm, / địa ngục vô gián / liền sinh ngay vào.

    87. Tuyệt diệu biết bao / đáng phục biết bao
    Thật là con đường / nhiệm mầu tuyệt hảo;
    Dù có cho hết / của cải, thân mạng,
    Cũng chẳng có gì / đáng để ngạc nhiên.

    88. Thế nhưng hiểu được / vạn pháp đều không
    Mà vẫn có thể / sống thuận nhân quả
    Như vậy mới là / kỳ diệu hơn cả / những điều kỳ diệu!
    Nhiệm mầu hơn cả / những sự nhiệm mầu!

    89. Những ai vì muốn / cứu vớt chúng sinh
    Mà nguyện sinh vào / bùn lầy thế tục,
    Thì không thể nào / nhiễm uế vì bùn;
    Tựa như cánh sen / mọc từ ao nước.

    90. Dù chư bồ tát / như ngài Phổ Hiền
    Dùng lửa trí tuệ / của tánh không này
    Thiêu rụi tất cả / củi gỗ phiền não;
    Nhưng tâm cũng vẫn / thuần dịu từ bi.

    91. Chư vị nương dưới / sức mạnh từ bi
    Thị hiện nhập thế, / đản sinh, hưởng lạc,
    Từ bỏ ngai vàng, / hành trì khổ hạnh,
    Đạt đại giác ngộ, / hàng phục quần ma.

    92. Thị hiện chuyển đẩy / bánh xe chánh pháp,
    Thị hiện lên tận / cõi trời chư Thiên
    Và rồi thị hiện
    Nhập cõi niết bàn.

    93. Thị hiện Phạm Thiên, / Đế Thích, Vi Nữu,
    Hắc Thiên oai thần,
    Dùng bao sắc thân / thị hiện phong phú / điệu vũ từ bi / vô vàn thiện hạnh
    Mang đến an lành / cho khắp chúng sinh.

    94. Vì để cho người / trên đường sinh tử / thối chí nản lòng
    Được thời ngơi nghỉ / cho nên Phật thuyết
    Về hai trí tuệ / dẫn đến Đại thừa;
    Đây chẳng phải là / trí tuệ rốt ráo.

    95. Phật chưa thúc gọi
    Thì chư Đệ tử / mải mê an trụ
    Ở trong huệ thân
    Đắm chìm cõi định.

    96. Khi Phật thúc gọi,
    Các vị xuất thiền, / hóa hiện nhiều thân, / thiết tha cứu giúp / khắp cả chúng sinh; Tư lương phước tuệ / tích tụ đủ rồi
    Khi ấy các vị / viên thành Phật quả.

    97. Vì có tập khí / của hai [chướng ngại]
    Nên tập khí ấy / gọi là chủng tử ;
    Bao giờ hạt giống / gặp gỡ nhân duyên,
    Khi ấy nẩy mầm / chồi cây sinh tử.

    98. Vì lẽ Thế tôn
    Dựa theo nhiều loại / căn cơ chúng sinh
    Mà thuyết Phật Pháp,
    Cho nên cũng có / nhiều loại pháp môn .

    99. Chia thành giáo pháp / [phương tiện] quảng đại, / [trí tuệ] thâm sâu,
    Cũng có khi là / đầy đủ cả hai;
    Tuy rằng có nhiều / pháp môn như vậy,
    Nhưng mọi pháp môn / vẫn đều bình đẳng / trong tự tính không / và đều bất nhị.

    100. Mọi chú tổng trì, / mọi địa [bồ tát],
    Cùng ba la mật / của chư Phật đà,
    Chư Toàn Giác nói
    Đều là biểu hiện / của bồ đề tâm.

    101. Chư vị luôn luôn / dùng thân miệng ý
    Mà tạo lợi ích / cho khắp chúng sinh
    Nên khi xiển dương / luận lý tánh không
    Chẳng ai có thể / nói rằng các vị / vướng vào đoạn kiến.

    102. Chư tôn thánh giả
    Chẳng trú luân hồi, / chẳng trú niết bàn,
    Cho nên chư Phật / dạy đây chính là
    Niết bàn vô trú.

    103. Từ bi chỉ mang / một vị duy nhất, / vị của công đức;
    Còn tánh không thì / mang vị thắng diệu;
    Những ai uống được / [nước cam lồ này] để mà thành tựu
    Tự lợi lợi tha / thì đây đúng là / người con chân chính / của đấng Thế tôn.

    104. Trước chư vị này / các ông hãy mang / hết thảy thân tâm / ra mà đảnh lễ;
    Vì chư vị ấy / trong toàn ba cõi / luôn luôn xứng đáng / nhận sự tôn vinh;
    Là người dẫn đường / cho khắp thế gian,
    Là bậc kế thừa / của khắp chư Phật.

    105. Tâm bồ đề này
    Chính là tột đỉnh / của pháp Đại thừa;
    Vậy các ông hãy / kiên trì nhập định
    Phát bồ đề tâm.

    106. Để đạt tất cả / tự lợi, lợi tha,
    Ngoài tâm bồ đề / kiếm khắp cõi thế
    Cũng không tìm ra / phương pháp nào khác;
    Dù là chư Phật / cho đến ngày nay / cũng không thấy ra / có cách nào khác.

    107. Công đức phát tâm
    Vô thượng bồ đề
    Lượng công đức ấy / nếu như có thân,
    Không gian vô tận / vẫn không chứa hết.

    108. Người nào nhập định / thiền tâm bồ đề,
    Dù chỉ chốc lát,
    Khối công đức ấy
    Ngay đến chư Phật / cũng không đo nổi.

    109. Tâm này quí giá / không vướng phiền não;
    Là viên ngọc báu / tuyệt vời, duy nhất;
    Dù ma phiền não / vẫn không thể nào / làm cho hư hại
    Cũng không thể nào / đánh cắp mất đi.

    110. Đại nguyện chư Phật / cùng chư bồ tát / không thể hư mòn;
    Tương tự như vậy / những ai thấm nhuần
    Trong bồ đề tâm
    Nên giữ tâm này / cho thật kiên cố.

    111. Thật là kỳ diệu, / các ông hãy nên
    Ra công cố gắng / như nói ở trên;
    Rồi các ông sẽ
    Tự mình làm nên / hạnh nguyện Phổ hiền.

    112. Tâm bồ đề này / chư Phật vẫn hằng / tán dương hoan hỉ, / nay tôi cũng xin / xưng tán bồ đề;
    Việc làm như vậy / được bao công đức,
    Nguyện nương vào đó / mà khắp chúng sinh / trầm luân biển cả / sinh tử sóng cuồng
    Vào được con đường / chư Lưỡng Túc Tôn / đã từng đi qua.

    Đến đây chấm dứt Giảng Về Bồ Đề Tâm của đại đạo sư thánh giả Long Thọ. Bài pháp này do Sư Trưởng Ấn độ Gunakara và dịch giả Rapshi Shenyen chuyển [Tạng] ngữ và hiệu đính, sau đó được Sư Trưởng Ấn độ Kanakavarma và dịch giả Tây tạng Patsap Nyima Drak duyệt lại.

    Hồng Như Thupten Munsel chuyển Việt ngữ từ bản Anh ngữ của Thupten Jinpa, 2007, nhuận Văn 2009. Xếp trang A4 và nhuận văn 09/2020.

  • Atisa: CHUỖI NGỌC BỒ TÁT

    Atisa: CHUỖI NGỌC BỒ TÁT

    -Tựa Đề Tạng Ngữ (Tibetan Title): བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའི་ནོར་བུའི་ཕྲེང་བ།
    -Tác giả (author): Dipamkaraśrijñana (Je Atisa)
    -Việt ngữ: Hồng Như, bản nháp 2019

    Chuỗi Ngọc Bồ Tát

    Tựa đề tiếng Phạn: Bodhisattvamanevali 
    Tựa đề tiếng Tạng: changchub sempé norbü trengwa

    Kính lễ Tâm Đại Bi
    Kính lễ chư Thượng Sư
    Kính lễ chư Tôn của tín tâm

    1. Nghi hoặc vướng tâm, buông bỏ hết
    Dốc tâm tận lực nơi pháp hành
    Chìm, chậm và lười đều triệt bỏ
    Phải luôn nỗ lực và tinh tấn

    2.  Chánh niệm, tỉnh giác, bất phóng dật
    Luôn dùng để giữ cửa giác quan
    Ban ngày ba buổi, đêm ba buổi
    Luôn xét tới lui dòng tâm thức

    3. Lỗi ở nơi mình phải nói lớn
    Còn lỗi người khác chớ tìm tòi
    Công đức của mình nên giữ kín
    Công đức của người phải nói ra

    4. Phú quí, vinh quang, đều từ bỏ
    Lợi danh mọi lúc đều phải buông
    Phải biết thiểu dục và tri túc
    Thọ ơn thì phải biết trả ơn

    5. Tâm từ tâm bi, phải huân tập
    Giữ tâm bồ đề thật vững chắc
    Mười điều bất thiện, luôn từ bỏ
    Tín tâm luôn giữ thật vững bền

    6. Phẫn nộ ngã mạn đều phải diệt
    Còn tâm khiêm hạ giữ bên mình
    Nghề nghiệp bất thiện phải từ bỏ
    Sinh sống bằng nghề thuận chánh pháp

    7. Tài vật hết thảy đều buông bỏ
    Trang điểm bằng tài sản Thánh nhân [xem chi tiết đoạn 25-26]
    Bao nhiêu náo nhiệt buông ra cả
    Ở nơi lan nhã mà an trú

    8. Chuyện phiếm tào lao buông bỏ hết
    Phải luôn tự chủ lời nói ra
    Khi gặp đạo sư, thầy truyền giới
    Khởi tâm thành kính muốn hầu Thầy

    9. Đối với những ai có mắt pháp
    Hay với chúng sinh mới nhập môn
    Phải biết tất cả là Đạo sư
    Khi gặp bất kỳ chúng sinh nào
    Biết là cha mẹ, con cháu mình

    10. Bạn bè bất thiện buông bỏ hết
    Bậc thiện tri thức, phải nương vào
    Bỏ tâm giận dữ và không vui
    Còn chỗ nào vui, phải đi đến

    11. Bất kể tham gì, cũng bỏ hết
    Phải về trú ở sự không tham
    Tham thì thiện đạo cũng không đạt
    Và làm đứt mạng của giải thoát

    12. Hễ thấy pháp gì mang vui đến
    Cứ luôn ở đó mà dụng công
    Đầu tiên bắt đầu như thế nào
    Thì hãy cứ thế mà tu trước
    Được vậy mọi sự đều sẽ tốt
    Bằng không sẽ chẳng việc gì xong

    13. Vì không hề vui cùng việc ác
    Cho nên hễ khởi niệm tự cao
    Thì ngay lúc ấy chặt ngã mạn
    và phải nhớ lời dạy của Thầy

    14. Bao giờ tâm lý nổi chán chường
    Thì phải tán thưởng, nâng tâm lên
    Quán về tánh không của cả hai.
    Khi gặp cảnh nào khiến tham sân
    Thì thấy chỉ như giả, như huyễn

    15. Khi nghe phải lời nói khó nghe
    Phải thấy chỉ như là tiếng vang
    Bao giờ thân thể bị thương tổn
    Phải thấy đó là do nghiệp cũ

    16. Trú nơi lan nhã miền xa vắng
    Giống như xác chết loài thú hoang
    Phải tự dấu kín bản thân mình
    Và phải trú ở sự không tham

    17. Luôn luôn giữ vững thệ nguyện mình.
    Khi nào nổi cơn lười giải đãi
    Khi ấy hãy tự đếm lỗi mình
    Nhớ lại tinh túy của giới luật

    18. Khi nào gặp mặt bất kỳ ai
    Thì lời nói phải nhẹ và thật
    Mặt mày cau có đều bỏ hết
    Phải luôn gìn giữ một nụ cười

    19. Nói chung mỗi khi gặp người khác
    Hãy vui mà cho, đừng bủn xỉn
    Đố kị ghét ghen đều từ bỏ

    20. Vì để giữ gìn tâm người khác
    Nên mọi tranh chấp đều bỏ đi
    Giữ tâm kham nhẫn cạnh bên mình

    21. Đừng dua nịnh cũng đừng thay đổi
    Trước sau như một, đáng tin cậy
    Bỏ hết thái độ khinh rẻ người
    Ngược lại luôn giữ lòng thành kính

    22. Bao giờ cho người lời giáo huấn
    Phải bằng tâm từ bi lợi tha
    Giáo pháp Phật cho đừng phỉ báng
    Pháp nào mà lòng thiết tha muốn
    Thì nơi mười cửa pháp hạnh này
    Ngày đêm chia ra mà dụng công

    23. Ba thời thiện đức được bao nhiêu
    Hồi hướng về đại vô thượng giác
    Rãi hết công đức cho chúng sinh
    Thất chi đại nguyện luôn hiến cúng

    24. Làm được như vậy thì hai kho
    Tư lương phước trí sẽ viên thành
    Và hai chướng ngại sẽ đoạn diệt
    Thân người này sẽ đầy ý nghĩa
    Quả vô thượng giác sẽ viên thành

    25. Tài sản sự tin và giữ giới
    Tài sản của sự cho, sự nghe
    Tài sản của tâm tàm, tâm quí
    Và của trí tuệ, bảy kho tàng.

    26. Hết thảy ngọc báu thắng diệu này
    Là bảy tài sản không vơi cạn
    Ai không phải người, đừng cho biết.


    Ở giữa đám đông xét lời nói
    Khi ở một mình tự xét tâm

    Đến đây chấm dứt bài pháp Chuỗi Ngọc Bồ Tát do Sư trưởng Ấn độ Dipamkaraśrijñana soạn tác



    ༄༅༎རྒྱ་གར་སྐད་དུ།བོ་དྷི་སཏྭ་མ་ཎྀ་ཨ་བ་ལི།  བོད་སྐད་དུ།བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའི་ནོར་བུའི་ཕྲེང་བ།  ཐུགས་རྗེ་ཆེན་པོ་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ༎  བླ་མ་རྣམས་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ༎  དད་པའི་ལྷ་ལ་ཕྱག་འཚལ་ལོ༎  ཐེ་ཚོམ་ཐམས་ཅད་སྤང་བྱ་ཞེང་།  བསྒྲུབ་ལ་ནན་ཏན་གཅེས་སུ་བྱ༎  གཉིད་རྨུགས་ལེ་ལོ་རབ་སྤང་ཞིང་།  རྟག་ཏུ་བརྩོན་འགྲུས་འབད་པར་བྱ༎  དྲན་དང་ཤེས་བཞེན་བག་ཡོད་པས༎  དབང་པོའི་སྒོ་རྣམས་རྟག་ཏུ་བསྲུང༌༎  ཉིན་མཚན་དུས་གསུམ་ཡང་དང་ཡང༌༎  སེམས་ཀྱི་རྒྱུད་ལ་བརྟག་པར་བྱ༎  བདག་གི་ཉེས་པ་བསྒྲག་བྱ་ཞིང༌༎  གཞན་གྱི་འཁྲུལ་པ་བཙལ་མི་བྱ༎  བདག་གི་ཡོན་ཏན་སྦ་བྱ་ཞིང༌༎  གཞན་གྱི་ཡོན་ཏན་བསྒྲག་པར་བྱ༎  རྙེད་དང་བཀུར་སྟི་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  ཁྱེད་གྲགས་རྟག་ཏུ་སྤང་བར་བྱ༎  འདོད་པ་ཆུང་ཞིང་ཆོག་ཤེས་དང་༎  བྱས་ལ་དྲིན་དུ་བཟོ་བར་བྱ༎  བྱམས་དང་སྙིང་རྗེ་བསྒོམ་བྱ་ཞིང༌༎  བྱང་ཆུབ་སེམས་ནི་བརྟན་པར་བྱ༎  མི་དགེ་བཅུ་ནི་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  རྟག་ཏུ་དད་པ་བརྟན་པར་བྱ༎  ཁྲོ་དང་ང་རྒྱལ་གཞོམ་བྱ་ཞིང༌༎  དམན་པའི་སེམས་དང་ལྡན་པར་བྱ༎  ལོག་པའི་འཚོ་བ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  ཆོས་ཀྱི་འཚོ་བས་འཚོ་བར་བྱ༎  ཟང་ཟིང་ཐམས་ཅད་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  འཕགས་པའི་ནོར་གྱིས་བརྒྱན་པར་བྱ༎  འདུ་འཇི་[‘འཛི?]ཐམས་ཅད་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  དགོན་པ་ལ་ནི་གནས་པར་བྱ༎  འཁྱལ་བའི་ཚིག་རྣམས་སྤང་བང་ཞིང༌༎  རྟག་ཏུ་ངག་ནི་བསྡམ་པར་བྱ༌།  བླ་མ་མཁན་པོ་མཐོང་བའི་ཚེ ༎  གུས་པར་རིམ་གྲོ་བསྐྱེད་པར་བྱ༎  གང་ཟག་ཆོས་ཀྱི་མིག་ཅན་དང་།  ལས་དང་པོ་པའི་སེམས་ཅན་ལ༎  སྟོན་པའི་འདུ་ཤེས་བསྐྱེད་པར་བྱ༎  སེམས་ཅན་ཐམས་ཅད་མཐོང་བའི་ཚེ༎  ཕ་མ་བུ་ཚའི་འདུ་ཤེས་སྐྱེད༎  སྡིག་པའི་གྲོགས་པོ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  དགེ་བའི་བཤེས་གཉེན་བསྟེན་པར་བྱ༎  སྡང་དང་མི་བདེའི་སེམས་སྤངས་ཞིང༌༎  གང་དུ་བདེ་བར་འགྲོ་བར་བྱ༎  གང་ལའང་ཆགས་པ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  ཆགས་པ་མེད་པར་གནས་པར་བྱ༎  ཆགས་པས་བདེ་འགྲོའང་མི་ཐོབ་ཅིང་།  ཐར་པའི་སྲོག་ཀྱང་གཅོད་པར་བྱེད༎  གང་དུ་བདེ་བའི་ཆོས་མཐོང་བ༎  དེར་ནི་རྟག་ཏུ་འབད་པར་བྱ༎  ཐོག་མར་བརྩམས་པ་གང་ཡིན་པ༎  དང་པོར་དེ་ཉིད་བསྒྲུབ་བྱ་སྟེ༎  དེ་ལྟ་ན་ནི་ཀུན་ལེགས་བྱས༎  གཞན་དུ་གཉིས་ཀ་འགྲུབ་མི་འགྱུར༎  རྟག་ཏུ་སྡིག་དང་དགའ་བྲལ་བས༎  གང་དུ་མཐོ་བའི་སེམས་བྱུང་ཚེ༎  དེ་ཚེ་ང་རྒྱལ་བཅག་བྱ་ཞིང༌༎  བླ་མའི་གདམས་ངག་དྲན་པར་བྱ༎  ཞུམ་པའི་སེམས་ནི་བྱུང་བའི་ཚེ༎  སེམས་ཀྱི་གཟེངས་ནི་བསྟོད་པར་བྱ༎  གཉིས་ཀ་སྟོང་པ་ཉིད་དུ་བསྒོམ༎  གང་དུ་ཆགས་སྡང་ཡུལ་བྱུང་ཚེ༎  སྒྱུ་མ་སྤྲུལ་པ་བཞིན་དུ་ལྟ༎  མི་སྙན་ཚིག་རྣམས་ཐོས་པའི་ཚེ༎  བྲག་ཆ་བཞིན་དུ་བལྟ་བར་བྱ༎  ལུས་ལ་གནོད་པ་བྱུང་བའི་ཚེ༎  སྔོན་གྱི་ལས་སུ་བལྟ་བར་བྱ༎  བས་མཐའ་དགོན་པར་རབ་གནས་ཤིང༌༎  རི་དྭགས་ཤི་བའི་རོ་བཞིན་དུ༎  བདག་གིས་བདག་ཉིད་སྦ་བྱ་ཞིང༌༎  ཆགས་པ་མེད་པར་གནས་པར་བྱ༎  རྟག་ཏུ་ཡི་དམ་བརྟན་བྱ་ཞིང༌༎  ལེ་ལོ་སྙོམས་ལས་སེམས་བྱུང་ཚེ ༎  དེ་ཚེ་བདག་ལ་རྔན་བགྲང་ཞིང༌༎  བརྟུལ་ཞུགས་སྙིང་པོ་དྲན་པར་བྱ༎  གལ་ཏེ་གཞན་དག་མཐོང་བའི་ཚེ༎  ཞི་དེས་གསོང་པོར་སྨྲ་བ་དང་། ༎  ཁྲོ་གཉེར་ངོ་ཟུམ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  རྟག་ཏུ་འཛུམ་ཞིང་གནས་པར་བྱ༎  རྒྱུན་དུ་གཞན་དག་མཐོང་བའི་ཚེ ༎  སེར་སྣ་མེད་ཅིང་སྦྱིན་ལ་དགའ༎  ཕྲག་དོག་ཐམས་ཅད་སྤང་པར་བྱ༎  གཞན་གྱི་སེམས་ནི་བསྲུང་བའི་ཕྱིར༎  རྩོད་པ་ཐམས་ཅད་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  རྟག་ཏུ་བཟོད་དང་ལྡན་པར་བྱ༎  ངོ་དགའ་མེད་ཅིང་གསར་འགྲོགས་མེད༎  རྟག་ཏུ་ཚུགས་ནི་ཐུབ་པར་བྱ༎  གཞན་ལ་བརྙས་པ་སྤང་བྱ་ཞིང༌༎  གུས་པའི་ཚུལ་གྱིས་གནས་པར་བྱ༎  གཞན་ལ་གདམས་ངག་བྱེད་པའི་ཚེ༎  སྙིང་རྗེ་ཕན་སེམས་ལྡན་པར་བྱ༎  ཆོས་ལ་བསྐུར་བ་མི་འདེབས་ཤིང་།     གང་མོས་དེ་ལ་འདུན་པ་དང་༎  ཆོས་སྤྱོད་རྣམ་བཅུའི་སྒོ་ནས་ནི༎  ཉིན་མཚན་ཕྱེད་པར་འབད་པར་བྱ༎  དུས་གསུམ་དགེ་བ་ཅི་བསགས་པ༎  བླ་མེད་བྱང་ཆུབ་ཆེན་པོར་སྔོ༎  བསོད་ནམས་སེམས་ཅན་རྣམས་ལ་བདར༌༎  རྟག་ཏུ་ཡན་ལག་བདུན་པ་ཡི༎  སྨོན་ལམ་ཆེན་པོ་གདབ་པར་བྱ༎  དེ་ལྟར་བྱས་ན་བསོད་ནམས་དང་༎  ཡེ་ཤེས་ཚོགས་གཉིས་རྫོགས་པར་འགྱུར༎  སྒྲིབ་པ་གཉིས་ཀྱང་ཟད་འགྱུར་ཏེ༎  མི་ལུས་ཐོབ་པ་དོན་ཡོད་པས༎  བླ་མེད་བྱང་ཆུབ་ཐོབ་པར་འགྱུར༎  དད་པའི་ནོར་དང་ཚུལ་ཁྲིམས་ནོར༎  གཏོང་བའི་ནོར་དང་ཐོས་པའི་ནོར༎  ཁྲེལ་ཡོད་ངོ་ཚ་ཤེས་པའི་ནོར༎  ཤེས་རབ་ཉིད་ཀྱི་ནོར་བདུན་ཏེ༎  ནོར་གྱི་དམ་པ་འདི་དག་ནི༎  མི་ཟད་པ་ཡི་ནོར་བདུན་ཏེ༎  མི་མ་ཡིན་ལ་བརྗོད་མི་བྱ༎  མང་པོའི་ནང་དུ་ངག་ལ་བརྟག༎  གཅིག་བུར་འདུག་ན་སེམས་ལ་བརྟག༎  རྒྱ་གར་གྱི་མཁན་པོ་དཔལ་ལྡན་མར་མེ་མཛད་བཟང་པོ་ཡི་ཤེས་སྙིང་པོས་མཛད་པ༎བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའི་ནོར་བུའི་ཕྲེང་བ་རྫོགས་སོ༎

  • Kamalashila: TRÌNH TỰ TU THIỀN – Quyển Trung

    Kamalashila: TRÌNH TỰ TU THIỀN – Quyển Trung

    EnglishStages of Meditation, by Acharya Kalamashila (not available here) –
    Tác giả (Author): Liên Hoa Giới  (Kamalashila) –

    Việt ngữ: Hồng Như – 
    bản hiệu đính, 06/2008, nhuận văn 07/2009, 06/2015.
    Hạ Tải văn bản chánh văn tại hongnhu-archive.org/thu-muc/#trinh-tu-tu-thien

    (more…)

  • Atisa: BỒ ĐỀ ĐẠO ĐĂNG LUẬN: Ngọn Đèn Soi Đường Giác Ngộ

    Atisa: BỒ ĐỀ ĐẠO ĐĂNG LUẬN: Ngọn Đèn Soi Đường Giác Ngộ

    English version: A Lamp for the Path to Enlightenment << Link to Lama Yeshe Wisdom Archives >> –
    Tác Giả: Atisha Dipamkara Shri Jnana (982-1054) –
    Tựa Đề: Bồ Đề Đạo Đăng Luận (Đèn Soi Đường Giác Ngộ) – 
    Việt ngữ:  Hồng Như, ấn bản tháng 07 năm 2005.
    Hạ Tải văn bản chánh văn tại hongnhu-archive.org/thu-muc/#bo-de-dao-dang-luan

    (more…)

  • Shantideva: NHẬP BỒ ĐỀ HẠNH LUẬN

    Shantideva: NHẬP BỒ ĐỀ HẠNH LUẬN


    Tựa đề tiếng Phạn: Bodhicaryāvatāra (còn gọi là Bodhisattvacaryāvatāra), Thánh Giả Tịch Thiên [Shantideva] tác luận
    Tựa đề tiếng Tạng:  བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའི་སྤྱོད་པ་ལ་འཇུགས་པ་ཞེས་བྱ་བ་བཞུགས་སོ།།
    Tựa đề tiếng Việt: Nhập Bồ Đề Hạnh Luận, (hay là Nhập Bồ Tát Hạnh Luận). Hồng như chuyển ngữ – Bản hiệu đính, 21/03/2014.
    Điều kiện hành trì: Pháp phổ thông, ai cũng có thể đọc và hành trì.

    Hạ tải Sách Đọc: Nhập Bồ Đề Hạnh Luận : PDF
    Hạ Tải MP3 & nghe trực tuyến & Youtube:  Nhập Bồ Đề Hạnh Luận (audio)
    Nghe GiảngĐức Đalai Lama giảng Nhập Bồ Đề Hạnh Luận 2011 
    Nghe GiảngGeshe Thubten Dawa giảng về Nhập Bồ Đề Hạnh Luận

    Lời Dịch Giả

    Thầy tôi dạy rằng: “Cảnh giới chứng ngộ của ngài Shantideva, kẻ phàm như chúng ta đây không làm sao có thể tưởng tượng nổi. Vậy mà các con lại đủ túc duyên để nghe được những lời này, thật là phước báu khó tìm cầu, phải biết trân quí.”

    Bằng tấm lòng trân quí như vậy, tôi xin dịch bài pháp này. Là niềm tri ân sâu xa đối với Ân Sư cùng hết thảy những ai còn nán lại trong khổ đau sinh tử để cho kẻ chậm chân như tôi đây vẫn còn hy vọng phát khởi tâm bồ đề.

    đệ tử tại gia Hồng Như
    10/2013


    Tiểu Sử Tác Giả Shantideva

    Hai nguồn sử liệu chính về cuộc đời ngài Shantideva (Tịch Thiên) đến từ ngài Butön (1290-1364) – và ngài Jetsün Tāranātha (1575-1608). Ngoài ra còn một bản văn ngắn được tìm thấy trong các tác phẩm của học giả Yeshe Peljor (thế kỷ 18). Gần đây, các nhà nghiên cứu phát hiện thêm một đoản văn trong bản thảo chép tay ở Nepal thế kỷ 14.

    Ngài Kunzang Pelden trong bộ luận “Văn Thù Kim Khẩu Cam Lồ” đã dựa theo bản văn của ngài Butön để soạn tiểu sử của ngài Shantideva. Bản tiếng Việt lược dịch từ tiểu sử này.

    Nhập Bồ Đề Hạnh Luận (Bodhicaryāvatāra) do Bồ tát Shantideva (Tịch Thiên) trước tác. Ngài là bậc thầy uyên thâm hội đủ ba phẩm tính cần có của luận giả: trực chứng chân đế, trực kiến bổn tôn, thông làu ngũ minh. Khi còn tại thế, ngài Shantideva viên thành bảy công hạnh phi thường. Đặc biệt ngài là người được đấng bổn tôn Diệu Âm[1] trực tiếp hộ niệm gia trì.

    Ngài Shantideva vốn mang dòng máu đế vương. Vào khoảng đầu thế kỷ VIII tại miền Nam xứ Saurashtra (nay là Bang Gujarat tại Tây Bắc Ấn Độ), quốc vương Kalyanavarnam hạ sanh thái tử, đặt tên là Shantivarman. Từ nhỏ thái tử đã sớm hướng tâm về chư Phật trong các thời quá khứ, tự nhiên mang sẵn dòng giống Đại Thừa, dành trọn tấm lòng tôn kính phi thường cho chư Tăng sĩ, Đạo sư. Ngài phụng sự hiến cúng khắp cả, đặc biệt quan tâm chăm sóc cho người nghèo hèn, tật bệnh, đọa rơi. Với trái tim kiên định hướng về nẻo giác, ngài tích lũy tri thức, thông làu ngũ minh. Đặc biệt ngài thỉnh được nghi quỹ đức Văn Thù từ một vị khất sĩ khổ hạnh, hành trì miên mật và xem đức Văn Thù là bổn tôn.

    Khi Quốc vương băng hà, vương quyền trao về cho Thái tử Shantivarman. Ngai vàng được dựng lên lộng lẫy để chuẩn bị cho lễ Đăng quang. Ngay đêm hôm trước đại lễ, thái tử nằm mộng thấy đức Diệu Âm tọa trên ngai vàng, nhìn ngài mà nói như sau:

    Con yêu duy nhất, / ngai này của ta.
    Ta là Văn Thù / sư phụ con đây.
    Sao con có thể / sánh với sư phụ
    ngang vai ngang vế / ngồi cùng một ngai?

    Giật mình tỉnh giấc, thái tử Shantisarman hiểu rằng việc kế thừa vương vị là điều chẳng nên làm. Lòng không lưu luyến tài sản thế gian, ngài từ bỏ ngai vàng, đến học viện Na-lan-đà thọ giới cùng ngài Jayadeva, thượng thủ của năm trăm vị Hiền Thánh, và được sư phụ ban cho pháp hiệu Shantideva[2].

    Trong thời gian tu học tại Na-lan-đà, ngài được đức Văn Thù trực tiếp truyền cho Tam Tạng kinh điển. Ngài dựa theo đó tu tập miên mật, qui nạp nội dung chánh pháp thành hai bộ luận: Học Tập LuậnKinh Tập Luận. Mặc dù ngài Shantideva thành tựu vô lượng thiện đức từ cả hai pháp diệt và đạo, thế nhưng chư Tăng đồng học vẫn không hay biết, chỉ thấy người này hết ăn (Bhuj) lại ngủ (Sup), rồi lại đi lang thang (Kutimgata), nên gọi ngài là Bhu-su-ku. Họ vô cùng bất bình, than rằng, “cả ba việc của người xuất gia tại đây[3], người này chẳng được việc nào cả, sao đủ tư cách thọ trai tăng! Phải đuổi đi mới được!” Họ liền bàn cách đuổi ngài đi, bày ra việc chư Tăng thay phiên nói pháp, tin chắc rằng bao giờ đến phiên phải nói pháp, chắc chắn ngài sẽ xấu hổ mà trốn đi. Họ liên tục đến thúc dục, nhưng lần nào ngài cũng từ chối, bảo rằng không biết gì để nói. Họ kéo nhau đến thỉnh Viện trưởng ra lệnh cho ngài nói pháp. Viện trưởng vừa lên tiếng, ngài liền hứa ngay. Thấy vậy, một số tăng sĩ bắt đầu chột dạ. Để thách thức ngài, họ bày biện cúng phẩm cao như núi, mời thật đông người đến dự, dựng một tòa sư tử chênh vênh ngay chính giữa, rồi mời ngài đến. Bất ngờ thấy ngài đã tọa sẵn trên pháp tòa, họ kinh ngạc hoang mang, không hiểu ngài thượng lên pháp tòa bằng cách nào.

    Lúc bấy giờ ngài Shantideva điềm nhiên cất tiếng hỏi: “Các ông muốn nghe pháp nào, pháp thường nghe, hay pháp chưa từng nghe?”

    Cả pháp hội sững sờ. “Xin cho chúng tôi nghe pháp chưa từng nghe.”

    Học Tập Luận quá dài, Kinh Tập Luận lại quá ngắn, vì vậy ngài Shantideva thuyết Nhập Bồ Đề Hạnh Luận, nghĩa rộng nhưng văn gọn. Lúc bấy giờ đức Văn Thù hiện ra ngay giữa trời không, nhiều người thấy được, tín tâm trào dâng vô bờ. Khi đọc đến chỉnh cú 34, chương 9, “cả sắc và không / đều vắng trong tâm…”,  ngài Shantideva và đức Văn Thù cùng thăng lên không trung, cao dần, rồi biến mất, chỉ còn giọng nói ngài Shantideva vọng về cho đến cuối bộ luận.

    Trong chúng hội, các vị trí nhớ phi thường liền vội vã chép lại bài pháp, nhưng các bản văn dài ngắn không đồng: có vị chép thành bảy trăm chỉnh cú, có vị chép thành một ngàn chỉnh cú, có vị lại chép thành nhiều chỉnh cú hơn. Chư Hiền giả vùng Kashmir chép thành bảy trăm chỉnh cú và gom thành chín chương, trong khi đó chư vị ở Trung Ấn (Magadha – Ma Kiệt Đà) lại chép thành một ngàn chỉnh cú gom thành mười chương. Lúc ấy, bản văn có sự bất nhất như vậy. Hơn nữa, không ai biết gì về hai bộ luận mà ngài Shantideva dặn dò là cần phải đọc, bộ Học Tập LuậnKinh Tập Luận (xem chương 5, chỉnh cú 105-106).

    Về sau, nghe nói ngài Shantideva đang ở tại bảo tháp Shrīdakṣngahiṇa, vùng Nam Ấn, hai vị hiền thánh với trí nhớ thần thông đã lặn lội tìm đến gặp, xin ngài chuẩn xác lại bộ luận. Ngài xác định bản chép của chư Hiền giả vùng Magadha là chính xác. Khi hỏi đến Học Tập LuậnKinh Tập Luận, ngài bảo rằng hai vị sẽ tìm thấy hai bộ luận này giấu trên mái nhà trong tịnh xá của ngài tại Học Viện Na-lan-đà. Ngài cũng nhân dịp này truyền khẩu và ban lời khai thị cho hai vị.

    Ngài Shantideva sau đó du hành về hướng Đông, vận dụng thần thông hàng phục cuộc xung đột nghiêm trọng, mang lại hòa bình cho cả đôi bên.

    Ngài cũng độ cho năm trăm người ngoại đạo miền Tây gần xứ Magadha. Lúc ấy nhằm lúc thiên tai, cả làng lâm nạn đói. Dân làng bảo nếu được ngài cứu mạng, họ nguyện tin theo giáo pháp của ngài. Ngài khi ấy mang bình bát chứa cơm khất thực, cầm trong tay, gia trì bằng đại định. Chỉ với một bình bát, cả làng đều được thỏa thuê no đủ. Nhờ duyên lành này, cả làng bỏ mê tín để bước vào chánh pháp.

    Thêm một thời gian sau đó, lại trong một nạn đói kinh khiếp, ngài đã cứu mạng một ngàn hành khất.

    Về sau ngài làm cận vệ cho Quốc Vương Arivishana, lúc bấy giờ đang gặp nạn chiến tranh với giặc Machala phía Đông Ấn. Ngài đeo bên mình thanh kiếm gỗ đầy uy lực, đủ khả năng hàng phục mọi hiểm họa, mang an bình đến khắp mọi nơi, được sự nể trọng của khắp cả. Tuy vậy, một số quần thần sanh lòng ganh ghét, đến bẩm báo với vua rằng: “đây chỉ là tên bịp bợm, ngưỡng mong bệ hạ suy xét. Hắn nào có vũ khí gì đâu, chỉ đeo mỗi thanh kiếm gỗ, làm sao bảo vệ được cho bệ hạ!” Vua nghe xong nổi giận, xét vũ khí của từng người. Đến khi vua bảo ngài Shantideva tuốt kiếm, ngài từ tốn thưa rằng làm như vậy sẽ khiến vua bị thương.

    “Ta bị thương mặc lòng!  ngươi cứ hãy rút kiếm ta xem!” Vua ra lệnh.

    Không thể cãi lệnh, ngài mời vua đến nơi vắng vẻ, thỉnh vua lấy tay che một mắt, chỉ nhìn bằng con mắt còn lại. Khi thanh kiếm rút ra khỏi vỏ, hào quang rực rỡ chói lòa khiến mắt vua rơi ngay xuống đất. Vua cùng tùy tùng kinh hãi, xin ngài lượng thứ chở che. Ngài Shantideva lúc bấy giờ trả mắt lại cho vua, nhờ lực gia trì của ngài, mắt vua bình thường như cũ, không chút đau đớn. Cả vương quốc bấy giờ khởi tín tâm sâu xa, quay về quy thuận chánh pháp.

    Về sau ngài Shantideva đến vùng Shriparvata miền Nam, sống lẫn trong đám hành khất lõa thể. Ở đó ngài ăn nước rửa chén rửa nồi người ta đổ ra. Có một lần cô thị nữ của vua Khatavihara tên là Kachalaha đổ nước rửa chén, chợt thấy nước hắt lên người Shantideva thì lập tức sôi rít lên, chẳng khác gì đổ trên nền sắt nóng. Cô ta lấy đó làm lạ.

    Cũng vào lúc bấy giờ, có một vị sư phụ Ấn giáo tên là Shankaradeva tìm đến gặp vua để ra lời thách đố. Ông ta tuyên bố sẽ vẽ mạn-đà-la Maheshvara trên trời không, nếu Phật giáo không ai phá được thì mọi ảnh tượng kinh sách Phật giáo trong vương quốc đều phải vất vào lửa đỏ, trăm dân phải theo đạo của ông ta. Trước lời thách đố này, nhà vua lập tức triệu tập hết thảy cao tăng về báo việc, nhưng không một ai đủ khả năng nhận lời thách đố. Vua ăn ngủ không yên. Thấy vậy, thị nữ Kachalaha bẩm bạch cùng vua chuyện kỳ lạ về gã hành khất, vua liền ra lệnh tìm Shantideva. Quần thần vội vã tìm trong tìm ngoài, rốt cuộc tìm được ngài đang ngồi dưới một gốc cây. Khi nghe đầu đuôi câu chuyện, ngài nói rằng việc này chẳng khó gì, nhưng phải cho ta một bình đầy nước, hai tấm vải, và lửa. Mọi thứ đều được nhanh chóng chuẩn bị theo đúng ý của ngài.

    Buổi chiều ngày hôm sau, hành giả ấn giáo đến vẽ mấy lằn lên không trung rồi bỏ đi. Mọi người đều cảm thấy vô cùng bất an. Sáng sớm hôm sau, đương lúc mạn đà la còn đang thành hình, cửa Đông chưa kịp xong thì ngài Shantideva đã nhập vào đại định. Ngay tức thì, trận cuồng phong nổi lên, quét sạch mạn đà la vào hư không. Hết thảy cây cối, hoa màu, nhà cửa đều bị cuốn tan hoang. Vị hành giả Ấn giáo bị gió tốc như một con chim con. Bóng tối bao trùm khắp lãnh thổ. Rồi hào quang chiếu ra từ giữa hai lông mày của ngài Shantideva, soi lối cho vua và hoàng hậu. Cả hai đều bị gió cuốn, tuột hết siêm y, toàn thân đầy bụi. Và cứ thế, ngài Shantideva dùng lửa để sưởi, dùng nước để tắm, dùng vải để vua và hoàng hậu che thân. Ngài lại dùng thần lực của đại định gom hết dân chúng bị gió cuốn trở về lại, tắm rửa, chăm sóc, trấn an. Biết bao người khởi chánh tín, nhờ đó ngoại đạo suy tàn, chánh pháp hưng thịnh dài lâu. Vương quốc này vì vậy mà được gọi là nơi “hàng phục ngoại đạo.”

    Mặc dù ngài Shantideva lúc nào cũng tự cho mình chỉ là kẻ phàm phu, nhưng theo lời ngài Jetari, ngài Shantideva là hiện thân của đức Diệu Âm (Văn Thù). Theo lời ngài Prajnaka-ramati thì ngài Shantideva là bậc thánh tăng. Còn riêng nói về hành trạng của ngài, đức Vibhutichandra nói rằng:

    Trên cõi thế gian / đã từng xuất hiện
    nhiều đấng Pháp Vương, / vua của chánh pháp,
    thế nhưng xét về / thành tựu, kinh nghiệm,
    chẳng ai sánh bằng / Shan-ti-đê-va.

    Ngài Shantideva để lại cho hậu thế ba tuyệt tác: Hai tác phẩm đầu là Học Tập Luận (Shikṣhāsamucchaya) và Kinh Tập Luận (Sūtrasamucchaya), một phong phú, một ngắn gọn. Tác phẩm thứ ba tựa đề Nhập Bồ Đề Hạnh Luận (Bodhicaryāvatāra), hình thức ngắn gọn nhưng nội dung vô cùng phong phú. Ở xứ Ấn có hơn 108 luận giải viết về bài luận bất hủ này.

    ———–

    Ghi chú phần Tiểu Sử:

    [1] Bồ Tát Diệu Âm (Manjushosha) là tên khác của Bồ Tát Văn Thù (Manjushri)
    [2] Shanti- là một phần tên của ngài, và –deva là một phần tên của sư phụ, ghép lại thành Shantideva
    [3] Học, tu, và làm Phật sự như in sách, làm thuốc v.v…


    Tựa đề tiếng Phạn:
    Bodhicaryāvatāra (còn gọi là Bodhisattvacaryāvatāra)

    Tựa đề tiếng Tạng:
    ༄༅། །བྱང་ཆུབ་སེམས་དཔའི་སྤྱོད་པ་ལ་འཇུགས་པ་ཞེས་བྱ་བ་བཞུགས་སོ།།

    Tựa đề tiếng Việt:
    Nhập Bồ Đề Hạnh Luận, (hay là Nhập Bồ Tát Hạnh Luận).


    CHƯƠNG MỘT: LỢI ÍCH TÂM BỒ ĐỀ

    I-1. Đệ tử đảnh lễ
    Thiện Thệ, Pháp Thân,
    chư vị Trưởng tử
    cùng người xứng đáng.
    Nay tôi kính xin
    thuận theo lời Phật,
    tóm lược lối vào
    giới hạnh bồ tát.

    I-2. Lời tôi nói đây
    chẳng có gì mới,
    cũng chẳng có gì
    khéo nói hơn ai.
    Tôi không viết vì
    lợi ích chúng sinh,
    mà chỉ là để
    tự tâm huân tập.

    I-3. Lời này có thể
    tăng chút tín tâm,
    cho tôi huân dưỡng
    thuận theo thiện đức.
    Ai người may mắn
    tương tự như tôi,
    nhờ đọc lời này
    đôi khi có lợi.

    I-4. Tự tại, thuận duyên
    là điều khó đạt,
    đủ sức toàn thành
    nguyện ước chúng sinh.
    Vậy nếu nay tôi
    thủ lợi riêng mình,
    kiếp sau đâu thể
    thuận duyên như vậy.

    I-5. Tựa như tia chớp
    giữa nền trời đen,
    trong một phút giây
    sáng soi khắp cả.
    Nhờ Phật gia hộ
    mà người thế gian
    đôi khi thoạt hiện
    một vài thiện đức.

    I-6. Cho nên tâm thiện
    bao giờ cũng yếu;
    tâm ác thì lại
    mạnh dữ vô cùng.
    Muốn điều ngự tâm,
    ngoài tâm bồ đề,
    thử hỏi có còn
    thiện tâm nào khác ?

    I-7. Mâu Ni nhiều kiếp
    thâm sâu chiêm nghiệm,
    thấy chỉ tâm này
    mới thật lợi sinh.
    Vô lượng chúng sinh
    nương vào tâm này,
    có thể dễ dàng
    viên thành đại lạc.

    I-8. Ai người mong cầu
    diệt trăm khổ nạn,
    mong quét bất hạnh
    của khắp chúng sinh,
    hay mong được hưởng
    vạn cảnh yên vui,
    tâm bồ đề này
    chớ nên lìa bỏ.

    I-9. Chúng sinh khốn khổ
    trôi lăn luân hồi
    mà phát được tâm,
    thì ngay lúc ấy
    sẽ được gọi là
    Như lai trưởng tử,
    thành nơi xứng cho
    trời, người hiến cúng.

    I-10. Tương tự thuốc tiên
    hóa sắt thành vàng,
    nay thân ô nhiễm
    nhờ tâm bồ đề
    mà thành thân Phật
    vô vàn trân quí.
    Vậy hãy giữ chắc
    tâm bồ đề này.

    I-11. Đấng độ quần sinh
    dùng trí vô lượng
    quán chiếu tận tường
    và đều thấy rõ:
    ai người muốn thoát
    cảnh khổ luân hồi,
    phải giữ cho chặt
    ngọc bồ đề tâm.

    I-12. Những thiện đức khác
    giống như thân chuối,
    ra quả một lần
    rồi là tàn rụi.
    Nhưng tâm bồ đề
    triền miên kết trái,
    không bao giờ tàn,
    vững vàng lớn mạnh.

    I-13. Sợ cảnh hung hiểm,
    ta nương anh hùng;
    cho dù phạm phải
    tội ác tột cùng,
    chỉ cần phát tâm
    tức thì vượt thoát.
    Vậy sao những kẻ
    sợ cảnh đọa rơi
    lại chẳng tìm đến
    nương tâm bồ đề ?

    I-14. Như lửa hoại kiếp
    thiêu rụi thế gian,
    tâm bồ đề này
    thiêu tan ác nghiệp.
    Lợi ích vô lượng,
    bất khả tư nghì,
    bậc trí Từ Thị
    dạy cho Thiện Tài.

    I-15. Cần biết tâm này
    nói gọn, có hai,
    một là ước muốn:
    bồ đề tâm nguyện;
    hai là thực hiện:
    bồ đề tâm hành.

    I-16. Cũng như muốn đi
    khác với lúc đi,
    tương tự như vậy,
    kẻ trí cần hiểu
    thứ tự khác biệt
    giữa hai tâm này.

    I-17. Cho dù còn vướng
    ở trong sinh tử,
    bồ đề tâm nguyện
    đơm quả lớn lao,
    tuy nhiên cũng vẫn
    chưa được liên tục
    như là công đức
    bồ đề tâm hành.

    I-18. Bao giờ phát tâm
    không còn thoái chuyển,
    nguyện độ chúng sinh
    thoát khổ luân hồi,
    liền ngay lúc ấy,
    từ đấy trở đi,

    I-19. cho dù ngủ nghỉ,
    hay dù tán tâm,
    cả một suối nguồn
    công đức bất tận
    cũng vẫn trỗi mạnh
    rộng sánh không gian.

    I-20. Chính đức Như lai
    đã dạy điều này
    trong bộ Kinh Su-ba-hu Thỉnh Vấn,
    là để giúp cho
    những người tâm nhỏ
    có thể phát khởi
    tín tâm đại thừa.

    I-21. Vì muốn lợi người
    mà khởi tâm cầu
    thoát bệnh nhức đầu
    cho khắp chúng sinh,
    thì công đức này
    cũng đã vô tận.

    I-22. Huống chi công đức
    cầu khắp chúng sinh
    thoát vô lượng khổ,
    rồi đưa chúng sinh
    viên thành vô lượng
    thiện căn công đức.

    I-23. Thử hỏi tâm này
    mấy ai có được ?
    dù cha hay mẹ
    chư thiên, thiện giả,
    ngay cả Phạm Thiên
    biết có được chăng ?

    I-24. Tâm này chúng sinh
    chưa từng có được,
    dù là trong mơ,
    dù chỉ cho mình.
    Làm sao có thể
    có được tâm địa
    vì khắp chúng sinh ?

    I-25. Chúng sinh phàm phu
    chưa từng khởi tâm;
    Độ cho chính mình
    còn chưa nghĩ tới !
    Tâm bồ đề này
    mà khởi sinh được
    là điều nhiệm mầu
    chưa từng thấy qua !

    I-26. Là thuốc chữa lành
    mọi cơn bệnh dữ,
    là nguồn hạnh phúc
    cho khắp chúng sinh.
    Công đức bồ đề
    vô vàn quí giá,
    thật chẳng lấy gì
    cân đo cho được.

    I-27. Chỉ cần một niệm
    gánh vác chúng sinh,
    công đức quá hơn
    công đức cúng Phật,
    huống chi nỗ lực
    mang nguồn an lạc
    về cho chúng sinh.

    I-28. Là vì chúng sinh
    dù cầu thoát khổ,
    nhưng vẫn mê mải
    chọn khổ mà theo.
    Dù cầu an vui,
    thế nhưng an vui
    thì lại u mê
    hủy diệt tất cả
    như diệt kẻ thù.

    I-29. Ai mang vui đến
    cho người bất hạnh,
    ai quét khổ nạn
    cho kẻ khốn cùng,

    I-30. ai xua bóng tối
    mê muội vô minh,
    thiện đức này đây
    lấy gì sánh nổi ?
    có bạn nào hơn
    người bạn lành này ?
    chẳng công đức nào
    tương tự như vậy !

    I-31. Giúp người đền ơn
    mà còn được khen,
    huống chi bồ tát
    làm lợi chúng sinh
    chẳng đợi ai cầu.

    I-32. Bủn xỉn mang ra
    chút ít thực phẩm,
    khinh miệt bố thí
    cho đôi ba người,
    chỉ đủ ấm bụng
    nửa ngày mà thôi,
    cũng còn được khen
    là làm việc thiện.

    I-33. Huống chi vĩnh viễn
    tặng khắp chúng sinh
    suối nguồn hỉ lạc
    vô thượng bồ đề;
    chúng sinh trong tâm
    có ước nguyện gì,
    thì đều hết thảy
    làm cho như nguyện.

    I-34. Bậc trí dạy rằng:
    với chư trưởng tử
    từ bi của Phật
    mà khởi niệm ác,
    khởi bao ác niệm
    thì phải đọa rơi
    đủ bấy nhiêu kiếp
    vào cảnh địa ngục.

    I-35. Nhưng nếu khởi được
    tín tâm trong sáng,
    thời quả gặt hái
    tươi tốt xum xuê,
    vì bồ tát dù
    rơi vào nghịch cảnh,
    công đức bồ đề
    vẫn không suy thoái,
    thiện đức vững vàng
    tăng trưởng tự nhiên.

    I-36. Nay tôi nguyện xin
    đê đầu đảnh lễ
    tất cả những ai
    sinh tâm bồ đề.
    Nguyện xin quy y
    suối nguồn an lạc:
    người mang vui đến
    cho kẻ hại mình.

    / Hết Chương 1 /

    | Đọc Tiếp Chương 2 >>>

    Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10