Tag: trí tuệ

  • Lama Tsongkhapa: XƯNG TÁN DUYÊN KHỞI

    Lama Tsongkhapa: XƯNG TÁN DUYÊN KHỞI

    Tựa Đề Tạng Ngữ (Tibetan Title): རྟེན་འབྲེལ་བསྟོད་པ་བཞུགས་སོ། ། 
    -Tác giả (author): Lama Tsongkhapa
    -Việt ngữ: Hồng Như, bản thảo 12 tháng 5 năm 2019

    Việt (Vietnamese) | Tạng (Tibetan) | Tạng-Việt-Anh (Tibetan-Vietnamese-English)

    Xưng Tán Duyên Khởi

    Lama Tông Khách Ba

    Nam mô Guru Manjughoshaya (Kính lạy đức Văn Thù Diệu Âm)

    1. Người nào thuyết pháp / từ sự chứng biết,
    trí ấy, giáo ấy / không một ai hơn.
    Con xin kính lễ / đức Phật tối thắng,
    Bậc chứng rồi giảng / giáo pháp duyên sinh.

    2. Cõi thế gian này / có bao suy thoái,
    hết thảy đều từ / gốc rễ vô minh.
    Đức Phật dạy rằng / bất kể là ai,
    chứng được duyên sinh / là dẹp được cả.

    3. Nên người có trí
    đâu thể không hiểu
    rằng pháp duyên sinh
    chính là cốt tủy / giáo pháp Phật dạy.

    4. Vậy xưng tán Phật
    đâu có lối nào
    mầu nhiệm hơn là
    xưng tán bậc thuyết / giáo pháp duyên sinh.

    5. “Việc gì đã tùy / nhân duyên sinh ra
    thì việc ấy vốn / không có tự tánh.”
    Có lời dạy nào / tuyệt diệu hơn là
    lời dạy này đây.

    6. Vì bám vào đó / mà kẻ ấu trĩ
    ràng buộc biên kiến / càng thêm kiên cố;
    cũng chính nơi đó / lại là cửa ngỏ
    cho người có trí / xẻ lưới niệm khởi.

    7. Pháp này nơi khác / chưa từng nghe qua
    nên gọi Phật là / đạo sư duy nhất.
    Nếu gọi ngoại đạo / [là bậc đạo sư] /
    thì khác gì gọi / cáo là sư tử,
    chỉ giống như lời / tâng bốc mà thôi.

    8. Tuyệt thay đạo sư! Tuyệt thay chỗ nương!
    Tuyệt thay luận sư! Tuyệt thay cứu độ!
    Đối trước bậc Thầy / khéo thuyết duyên khởi,
    con xin đảnh lễ.

    9. Để giúp chữa bệnh / nên đấng Lợi Sinh
    dạy cho hữu tình
    lý luận vô song
    xác định tánh không, / trái tim chánh pháp.

    10. Lối duyên khởi này
    nếu thấy mâu thuẫn / không thể xác minh
    thì pháp của Phật
    làm sao có thể / thông đạt cho được?

    11. Với Phật, bao giờ
    chứng được tánh không / qua nghĩa duyên khởi
    sẽ thấy tuy rằng / không có tự tánh
    vẫn tạo tác dụng, / không hề mâu thuẫn.

    12. Phật dạy nếu như / thấy điều ngược lại,
    ở trong tánh không / không có tác dụng
    có tác dụng lại / không có tánh không,
    sẽ phải rơi vào / vực sâu hung hiểm.

    13. Vì lý do này / giáo pháp Phật dạy
    hết mực đề cao / chứng ngộ duyên khởi;
    không phải hoàn toàn / là không hiện hữu,
    mà cũng không phải / là có tự tánh.

    14. Sự tự-có như / hoa đốm giữa trời,
    vì vậy không gì / là không tùy thuộc.
    Nếu sự vật nhờ / chính mình mà có
    thì không thể nào / tùy thuộc nhân duyên.

    15. Nên Phật dạy rằng “vì không có gì
    không từ duyên khởi
    nên trừ phi là / không có tự tánh
    bằng không chẳng có / pháp nào tồn tại.”

    16. Phật dạy: “Tự tánh / không hề biến chuyển,
    nên nếu các pháp / có chút tự tánh
    thì quả niết bàn / không thể nào có,
    niệm khởi cũng không / cách nào tịch diệt.”

    17. Vì vậy nhiều lần / trước hàng trí giả
    đức Phật nói bằng / tiếng sư tử hống,
    rằng “sự vật vốn / tách lìa tự tánh”
    Lời này đố ai / đủ sức phản biện.

    18. Tự tánh mảy may / cũng không hề có,
    mọi sự đều là / “tùy vào cái này
    mà cái kia sinh.” / Có cần phải nói
    rằng hai điều này / không hề mâu thuẫn?

    19. “Vì hiện khởi nên
    không vướng biên kiến.”
    Chính vì đức Phật / khéo thuyết như vậy
    nên gọi Ngài là / luận sư vô song.

    20. “Hết thảy mọi sự / chân tánh vốn không”;
    “từ điều này mà / quả kia sinh ra”:
    hai khẳng định này hỗ trợ lẫn nhau
    không hề mâu thuẫn.

    21. Nhiệm mầu nào hơn?
    kỳ diệu nào hơn?
    Tán dương như vậy / mới là tán dương,
    bằng không chẳng xứng.

    22. Những ai vì bởi / mê muội khống chế
    bất thuận với Phật / thì trước âm thanh
    của không-tự-tánh / chẳng thể nào kham,
    việc này không lạ.

    23. Nhưng nếu tin nhận / kho tàng trân quí
    của lời Phật dạy / về thuyết duyên khởi,
    mà không kham nổi / tiếng gầm tánh không
    mới thật lạ kỳ.

    24. Lý duyên khởi là / cánh cửa vô thượng,
    lối ngỏ dẫn vào / sự không-tự-tánh.
    Nếu kẻ phàm phu / dựa danh duyên khởi
    mà chấp tự tánh / thì phàm phu ấy

    25. lạc mất lối ngỏ
    mà chư thánh giả / đã từng khéo qua.
    Đâu là phương tiện / đưa họ về lại
    với con đường lành / khiến cho Phật vui?

    26. “Tự tánh, không giả, / và không tùy thuộc”
    cùng với “duyên sinh, / tùy thuộc, giả hợp”,
    Làm sao có thể / qui về một chỗ
    mà không mâu thuẫn?

    27. Vì thế điều gì / từ duyên sinh ra,
    mặc dù bản lai / vốn lìa tự tánh,
    nhưng mà tướng hiện / lại giống như có,
    nên Phật nói rằng / mọi sự hư huyễn.

    28. Vì lý do này / nên con hiểu được
    dù ai chống đối / với lời Phật dạy
    vẫn không làm sao / xét đúng luận lý
    mà tìm ra được / chút sơ hở nào.

    29. Tại sao như vậy? / Vì lời giảng này
    khiến cho sự vật—dù là thấy được /
    hay không thể thấy— khả năng khẳng định /
    hay là phủ định đều lìa rất xa.

    30. Chính nhờ con đường / duyên khởi này đây,
    thấy được lời Phật / thật không đâu sánh.
    Vì lẽ này mà / khởi niềm xác quyết
    Pháp nào của Phật / cũng đều đúng cả.

    31. Phật chứng như nghĩa / rồi khéo nói ra,
    những ai dụng công / theo gót chân Ngài,
    bao nhiêu suy thoái / hết thảy đều xa,
    bao gốc lỗi lầm / đều hồi đầu cả.

    32. Còn người quay lưng / với lời Phật dạy
    thì dù lao lực / trong thời gian dài
    lỗi vẫn tăng thêm—như thể gọi mời—
    là vì nương vào / tri kiến chấp ngã.

    33. Tuyệt vời lắm thay! / Khi người có trí
    hiểu sự khác biệt / giữa hai điều này
    khi ấy đáy lòng / không thể nào không
    sâu xa kính Phật.

    34. Hãy khoan nói đến / vô lượng giáo pháp,
    chỉ cần ý nghĩa / một nhánh nhỏ thôi,
    dù chỉ đại khái / có được lòng tin,
    cũng vẫn đạt được / niềm vui thù thắng.

    35. Than ôi! con vì / tâm trí mê muội,
    khối thiện đức ấy / qui y đã lâu,
    thế nhưng cho dù / chỉ một mẩu nhỏ
    cũng chưa hề có.

    36. Tuy vậy, trước khi / sinh mạng một dòng
    chảy cạn hết vào / miệng của Thần chết,
    tín tâm nơi Phật / con được chút ít,
    thiết nghĩ đó cũng / là điều đại hạnh.

    37. Bậc thuyết duyên khởi / trong khắp giảng sư;
    Trí chứng duyên khởi / trong khắp các trí;
    Chỉ có Phật như / đế vương tôn thắng / trong cõi thế gian
    mới khéo biết được, / người khác chẳng thể.

    38. Bất kể là Phật / dạy cho pháp gì,
    đều phát xuất từ / giáo lý duyên sinh
    và đều hướng đến / mục tiêu niết bàn
    Phật không hạnh nào / không khiến tịnh an.

    39. Ôi! Giáo pháp Phật
    rơi vào tai ai
    đều khiến bình an,
    hỏi ai lại chẳng / thiết tha giữ gìn.

    40. Pháp này tận diệt / hết thảy đối địch;
    làm tan biến hết / mâu thuẫn trước sau;
    giúp cho toàn thành / cả hai lợi ích;
    nhờ diệu pháp này / hoan hỉ càng tăng.

    41. Chính vì vậy mà
    Phật vô số kiếp / cho rồi lại cho:
    khi thì cho thân / lúc lại cho mạng,
    cho cả thân nhân, / thọ dụng tài sản.

    42. Thấy được thiện đức / của giáo pháp này,/
    con thật như là / con cá mắc câu,
    từ nơi tim Phật / bị cuốn phăng vào.
    Chẳng thể chính tai / nghe lời Phật dạy / thật là bất hạnh.

    43. Nỗi thương tâm này / ray rức mãnh liệt,
    níu mãi không buông / tâm trí của con.
    Cũng tựa như là / trái tim người mẹ
    giữ mãi không rời / đứa con thân yêu.

    44. Mỗi khi con nhớ / đến lời Phật dạy,
    là ý nghĩ này / lại hiện trong con:
    “Bổn sư đứng giữa / vùng hào quang sáng,
    tướng hảo chánh phụ / rực rỡ rạng ngời,

    45. đã dùng Phạm Âm / mà thuyết như vậy.”
    Ảnh Phật khi ấy / hiện ra trong con,
    xoa dịu trái tim / rát bỏng mòn mỏi,
    như trăng thanh mát / dịu cõi nóng khô.

    46. Đối với giáo pháp / kỳ diệu này đây
    phàm phu kém trí
    thấy rối mịt mờ
    như là cỏ bện.

    47. Nhìn thấy cảnh này / con đã lắm lần
    theo bậc trí giả
    cố gắng nỗ lực
    tìm rồi lại tìm / ý thật của Phật.

    48. Khi ấy con học
    rất nhiều kinh luận / tông môn trong ngoài,
    tâm triền miên khổ
    vì lưới hoài nghi.

    49-51. Cỗ xe vô thượng / mà Phật để lại,
    hai đầu có-không / đều lìa bỏ hết,
    được đức Long-thọ—người Phật thọ ký—
    giảng đúng như thật.
    Vườn hoa kun-da / của luận Long thọ
    ngời ánh nguyệt quang / của luận Nguyệt Xứng
    trắng sáng rạng soi / tỏ tường khắp cả,
    trí tuệ vô cấu / một khối tròn đầy,
    du hành vô ngại / giữa trời giáo thuyết,
    xóa tan tăm tối / trái tim chấp thủ,
    ngàn sao tà thuyết / đều phải lu mờ.
    Nhờ ơn đạo sư / thấy được điều này,
    tâm con khi ấy / mới thật bình yên.

    52. Trong mọi thiện hạnh / mà Phật đã làm, /
    thuyết pháp là nhất. Pháp thuyết cũng vậy, /
    là pháp này đây.  Vì vậy kẻ trí /
    nên từ chỗ này mà nhớ đến Phật.

    53. Theo gót đấng bổn sư / tôi xuất gia thanh tịnh
    tu học lời Phật dạy / không để cho kém cỏi
    Tỷ kheo này cố gắng / tu tập hạnh du già
    để tỏ lòng tôn kính / với bậc Đại Chân Thật.

    54. Gặp được giáo pháp này / của bậc Thầy vô thượng
    hết thảy đều nhờ vào / lòng từ của Ân sư
    Vậy công đức nơi đây / tôi nguyện xin hồi hướng
    cho chúng sinh luôn được / bậc chân sư giữ gìn.

    55. Pháp của đấng Lợi Sinh / nguyện cùng tận sinh tử
    không bao giờ khuynh động / bởi ngọn gió tà niệm;
    nguyện luôn đầy ắp người / chứng cảnh giới lời Phật
    nhờ đó tâm xác quyết / tin tưởng đấng đạo sư.

    56. Nguyện trì pháp Mâu ni,
    sáng soi lý duyên khởi,
    mọi đời kiếp về sau / xả bỏ cả thân mạng
    không bao giờ xao lãng / dù chỉ thoáng chốc thôi.
     
    57. “Bậc dẫn đường tối thượng / bỏ công khó vô lượng
    mới đạt được pháp này
    nay dùng cách nào đây / để hoằng dương chánh pháp?”/)
    nguyện tôi ngày lẫn đêm / luôn quán xét điều này.

    58. Khi nỗ lực như vậy / với đại nguyện trong sáng
    Nguyện Phạm Thiên, Đế Thích, / cùng chư vị hộ thế
    và hộ pháp như là / đức Mahakala
    luôn nâng đỡ cho tôi / không bao giờ lơi nghỉ

    Bài pháp tên “Tinh Túy Trí Khéo Thuyết” này do bậc Tỷ kheo Đa văn Losang Dragpa trước tác.
    Hồng Như Thupten Munsel chuyển Việt ngữ từ Tạng ngữ (Kopan Monastery Prayer Book), tham khảo với các bản dịch Anh ngữ của Thupten Jinpa Kilty Galvin,  12 tháng 5 năm 2019

    Việt (Vietnamese) | Tạng (Tibetan) | Tạng-Việt-Anh (Tibetan-Vietnamese-English

    Pages: 1 2 3